Trần Ngọc Vương - Trung Quốc học ở Việt Nam ngày nay

<em>Hiểu biết về thế giới quanh mình là một nhu cầu tự
thân của con người, của các cộng đồng xã hội. Hiểu biết
để mà có cách ứng xử phù hợp, để tồn tại, để mà phát
triển. Nếu không hoặc ít hiểu biết sẽ gặp nhiều bất
trắc và tai họa đến từ thế giới [tự nhiên và xã hội]
quanh ta. Chúng ta ở cạnh Trung Quốc nhưng chúng ta đang có
nhiều khoảng trống tri thức về họ. Điều đó là vô cùng
tệ hại bởi nhiều điều tai quái và bất hạnh sẽ bất ngờ
đến với ta từ họ. Thực trạng ngành Trung Quốc học ở
Việt Nam và những gợi ý là điều mà Gs. Ts Trần Ngọc Vương
sẽ trình bày trong bài viết này.</em>
<center>
* * *</center>

<em>Từ mỗi cá thể rồi mở rộng dần ra các quần thể, các
cộng đồng từ nhỏ tới lớn để tồn tại và phát triển
đều phải thường xuyên và liên tục hội được những điều
kiện từ cần đến đủ, điều kiện cần là cho sự tồn tại
và điều kiện đủ là cho sự phát triển. </em>

<em>Hàng loạt triết gia thuộc nhiều nền văn hóa, văn minh
khác nhau ngay từ thời cổ đại xa xưa đã giành nhiều tâm
trí, thậm chí có người giành cả cuộc đời chỉ để "loay
hoay" đi tìm ý nghĩa và phương thức tồn tại cho riêng mình
hay cho mỗi, cho từng cá thể mà rốt cuộc những đáp án tìm
được cho tới nay vẫn chưa đủ để "tự dỗ dành" được
chính bản thân. Vậy nên cho tới tận tuổi xế chiều, một
trong những bậc hiền triết – nhà thông thái bậc nhất của
châu Âu mở ra thời đại Khai minh là René Descarte vẫn thốt
lên những lời lẽ đượm vẻ chán chường: "Hãy biết sắp
xếp lại mơ ước của bản thân mình thì tốt hơn là hy vọng
thay đổi trật tự của thế giới". Một triết gia khác, nếu
không nhầm thì là La Rochefoucault, còn quyết liệt một cách thê
thảm hơn: "Cuộc đời chỉ vô nghĩa đối với những ai nhăm
nhe đi tìm ý nghĩa của nó!". Còn triết lý dân gian thì nói
gọn lỏn: "Ngu si hưởng thái bình!", bởi "Biết lắm thì
khổ nhiều".</em>

<em>Nếu lấy điểm khởi đầu là cá nhân, cá thể, coi đó là
đơn vị tọa độ gốc, thì trong khung khổ loài người, xét
theo góc nhìn đối với những sinh thể tự nhiên, cho tới nay
có thể xác định những cấp độ quần thể và quần thể hóa
cơ bản là gia đình, gia tộc, dòng họ, tộc người, hệ tộc
(tiểu chủng), chủng tộc (đại chủng). Những cá thể lai
(métisses) làm thành "ranh giới mềm" giữa các cấp độ
quần thể hiện thực,và cần lưu ý thêm rằng bộ phận này
trong thế giới ngày nay đang có xu hướng càng ngày càng đông
đảo.</em>

<em>Theo góc nhìn xã hội – lịch sử và xã hội hóa – lịch
sử hóa, song song với trục quy chiếu đó là thực tế địa
vực hóa, lãnh thổ hóa, lần lượt xuất hiện các thực thể
xã hội – hành chính, từ làng xã, huyện, tỉnh, khu, miền,
(cùng các biến thể ở từng cấp) quốc gia, khối – vùng
quốc gia, châu lục, và cuối cùng là thế giới.Các cộng
đồng cũng vận động phân hóa thành các tổ chức, đoàn thể,
nhóm xã hội, theo hướng càng tiến tới thời hiện đại thì
các loại tập hợp xã hội hóa đó càng đa dạng về hình
thức và càng phong phú, phức tạp về nội dung.</em>

<em>Các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa trên thế giới từng
khẳng định sự tồn tại của hàng chục nền văn minh lớn
trong lịch sử nhân loại ở các châu lục (trừ ở châu Nam
cực), nhưng phần lớn các nền văn minh ấy đều có vận mệnh
lịch sử thăng trầm dữ dội, cho tới ngày nay thì phần đông
các học giả hàng đầu của chuyên ngành lịch sử văn hóa,
văn minh đều khá thống nhất trong nhận định rằng chỉ có
hai nền văn minh lớn của nhân loại, tuy cũng trải qua nhiều
bước thăng trầm, nhưng trên tổng thể, được coi là tồn
tại liên tục từ lúc hình thành đến nay, không bị đứt gãy
đến thành rời rạc, không bị sụp đổ đến mức không thể
gượng dậy được, đó là văn minh Ấn Độ và văn minh Trung
Hoa. Do vị trí đặc thù đó, mà hai nền văn hóa, văn minh này
thu hút sự chú ý từ lâu của rất nhiều học giả trên thế
giới. </em>

<a
href="http://phiatruoc.info/wp-content/uploads/2014/09/56670-The_China_Style_Vol_5_No_19.jpg"><img
src="http://phiatruoc.info/wp-content/uploads/2014/09/56670-The_China_Style_Vol_5_No_19-1024x768.jpg"
width="619"></a>

<ol> <li><strong>NHỮNG GÌ TỪNG CÓ VÀ ĐANG CÓ:</strong></li> </ol>
Để có thể tồn tại liên tục không bị sự đứt gãy lớn
như thế, dĩ nhiên mỗi nền văn minh ấy phải được thiết
định bởi những nguyên lý và cách thức nào đó, đủ sức
"sống sót" qua vô vàn biến cố lịch sử lớn nhỏ, trong
đó bao gồm rất nhiều những biến cố mang tính phá họai và
hủy diệt. Một trong những thách thức hàng đầu của những
nhà Ấn Độ học hay Trung Quốc học là phải hướng tới việc
tìm kiếm lời giải cho câu đố đầu tiên này.

Những phác thảo đầu tiên – cho đến nay chỉ có thể khẳng
định ở mức độ như vậy – cho lời đáp đối với "sự
thách đố" của hai nền văn hóa, văn minh này, là chúng
được thiết định bởi những nguyên lý và cách thức khác
biệt nhau! Về phần mình, tôi cho rằng lực lượng nòng cốt
duy trì và phát triển văn minh Trung Hoa là những nhóm xã hội
theo đuổi mục tiêu một nền văn minh đế chế hóa, còn lực
lượng chủ yếu kiến tạo và bảo trì nền văn minh Ấn Độ
là những nhóm xã hội khát vọng hướng tới một nền văn minh
vũ trụ hóa theo cách thức tâm linh và siêu việt. Hẳn rằng
đây là một nhận định gây ngạc nhiên và chắc chắn cũng
gây tranh cãi, nhưng không phải là trọng tâm của bài viết
này.

Từ điểm nhìn của người hiện đại, các nền văn hóa, văn
minh có lịch sử hàng ngàn năm đều hàm chứa những bí mật
riêng có để tồn tại và phát triển, tuy nhiên việc phát
hiện ra những yếu tố mang tính đặc trưng ấy trong bối cảnh
toàn cầu hóa và thế giới "đã trở nên phẳng" như ngày
nay là một công việc hoàn toàn không dễ dàng. Văn minh phương
Đông nói chung, văn minh Trung Quốc nói riêng ngay từ thời
điểm tiếp xúc, giao thoa có hệ thống ban đầu cũng đã dần
dà thu hút sự chú ý, và càng ngày càng gây chú ý cao độ,
của nhiều học giả phương Tây, và ở nhiều quốc gia Âu Mỹ,
ngành Trung Quốc học đã có lịch sử riêng hàng ba thế
kỷ.Như đối với bất kỳ lĩnh vực nào khác của nghiên cứu
khoa học, khi hiểu biết càng tăng lên thì những "mặt
khuất" chưa được biết tới cũng càng giãn nở rộng ra, nói
theo lối "biện chứng" là "càng hiểu biết nhiều càng
thấy sự ngu dốt của chính mình to thêm mãi". Dẫu vậy, bất
chấp những gì không biết, chưa biết, đối tượng nghiên cứu
vẫn ngày một trở nên minh bạch hơn, rõ ràng hơn. Trung Quốc
học trên thế giới ngày nay đang bùng nổ với quy mô và chiều
sâu chưa từng thấy, tương ứng với vị trí và vai trò ngày
càng "nặng ký" của Trung Quốc trên trường quốc tế, dù
theo nghĩa khẳng định hay theo nghĩa tiêu cực.

Như mọi người đều có thể biết, cư dân thuộc cộng đồng
Việt ngày nay vốn mang nhiều đặc điểm chứng tỏ mối liên
quan gần gũi với cộng đồng cư dân địa vực Nam Trung Quốc,
trước hết là về phương diện nhân chủng. Về mặt địa văn
hóa, sự giải thể "cơ tầng Đông Nam Á cổ" đã diễn ra
đối với cộng đồng Bách Việt trên lưu vực sông Dương Tử
và những vùng đất vùng người kề cận với "Trung Nguyên"
để bị "thu hút" vào "cơ cấu đế chế" mà cộng đồng
cư dân trên lưu vực sông Hoàng Hà, dù sao chăng nữa, ít nhất
từ thời Thương – Chu trở đi, đã đóng vai trò là hạt nhân
và trục tập hợp. Khi quỹ đạo đế chế hóa ở "Trung
Nguyên" chính thức được xác lập (Tần), thì đại diện
lớn nhất của "cộng đồng Nam Man xưa" là nước Sở vẫn
tỏ ra là "trung tâm đề kháng" mạnh mẽ nhất, nhưng rồi
thất bại của Hạng Vũ trước Lưu Bang đã chính thức đặt
dấu chấm hết cho nỗ lực tự lập tự cường của cả vùng
đất mênh mông làm nên gần một nửa của cái "Trung Nguyên
mới". Bốn thế kỷ đế chế Hán thông qua vô số nhân vật
và sự kiện lịch sử đã "làm nốt", "kiện toàn" cái
cốt lõi của quốc gia – đế chế này. Ba thế kỷ rưỡi
"suy thoái đế chế" từ thời Tam Quốc. qua Ngụy Tấn Nam
Bắc triều (220 – 581) cho thấy tình trạng tái cát cứ trên quy
mô lớn và kéo dài sẽ còn là một "tiết tấu mang tính
điệp khúc" sẽ còn lặp lại nữa, bất chấp sự thật là
nhìn trên tổng thể, nhà Tùy đã tấu lên khúc dạo đầu của
"đế chế tân trào", để tiếp đó là một đế chế Đại
Đường hùng cường hoa phát, đưa xứ sở này vượt lên trình
độ cao nhất thế giới trong ba thế kỷ tiếp theo.

Nhưng như đã biết, "kịch bản lịch sử" tiếp theo là
"điệp khúc suy bại, cát cứ" tái diễn. Sự tái lập
"thiên triều đế chế" dưới cả hai thời Bắc và Nam Tống
đều không phục hưng được vẻ huy hoàng độc đáo của thời
Đại Đường, trên thực tế Nam Tống chỉ là triều đại
tượng trưng cho cả một "Trung Quốc đa sở hữu" mà ngày
nay, các nhà nước Liêu, Kim, cả Tây Hạ nữa, đang được các
sử gia đương đại Trung Quốc, và cả những người làm phim
cổ trang nữa, "cho phép gia nhập sâu" vào thành những trang
lịch sử chính thống.

Nguyên, Minh, Thanh tiếp tục là những nhà nước đế chế,
nhưng lại vẫn cần lưu ý rằng "khúc đầu" và "khúc
cuối" của những đế chế này là những "trang sử rách"
được viết bởi rất nhiều thế lực cát cứ lớn nhỏ, và
chính những chủ thể sáng lập nên các đế chế này vốn cũng
"trưởng thành lên" từ những thế lực cát cứ đó, hơn
thế, và điều đặc biết đa nghĩa, hai trong ba đế chế ấy
được dựng nên bởi bàn tay của các thế lực "Hung Nô, Di
Địch, ngoại nhân". Nhân vật khai sáng đế chế thứ ba –
Chu Nguyên Chương, Thái tổ Hoàng đế nhà Minh, là người duy
nhất trong thập đại đế vương có nguồn gốc phương Nam,
nghĩa là cũng "Nam Man một nửa". Nhưng từ góc nhìn khác,
phải nhận rằng chính ba triều đại đế chế này, bằng
những cách thức có thể rất khác nhau, đã lần lượt đưa
thêm những vùng đất vùng dân cư sáp nhập vào bản đồ đế
chế của "quốc gia ở giữa", và sự mở rộng cương vực
đế chế ấy rút lại đã "xóa sổ" hàng loạt các quốc gia
từng tồn tại và phát triển độc lập trong hàng ngàn năm
trước đó. Nhà nước Nam Chiếu – Đại Lý là trường hợp
điển hình của một sự bị thôn tính như thế, và điều đó
diễn ra dưới tay của một "kẻ chinh phục" khá nổi tiếng
và tai tiếng người Mông Nguyên – Thoát Hoan, người lần đầu
tiên khuất phục được cả vùng Vân Nam cho đế chế của cha
mình rồi nhờ thế mà vẽ vĩnh viễn vùng đất này vào bản
đồ Trung Hoa nhưng lại từ Đại Việt trở về theo "con
đường ống đồng"!

Mối quan hệ lâu đời giữa một cộng đồng đất và người
Việt Nam với một thực tế nhiều triều đại nhưng hoàn toàn
có thể nhìn nhận là có tính liên tục theo chiều nhất thể
hóa trên đất Trung Hoa như vậy từng diễn ra với rất nhiều
tông điệu, cung bậc và sắc thái, không ít khi tỏ ra mâu
thuẫn và nghịch phách, lỗi nhịp. Không bàn ở đây lịch sử
những mối quan hệ của các "Thiên triều" Trung Hoa với các
cộng đồng phương Bắc, phương Tây và phương Đông của họ,
chỉ xét riêng những tác động qua lại giữa các triều đình
này với các cộng đồng phương Nam (gồm cả Đông Nam và Tây
Nam), thì có thể khẳng định rằng duy chỉ ở Việt Nam, rốt
cuộc, tồn tại được và phát triển được một vùng đất
vùng cư dân đạt tới định chế độc lập, tự khẳng định
như một "quốc gia đầy đủ" dù đã phải trải qua hàng
chục cuộc xâm lăng và chiếm đóng lớn nhỏ của các thế
lực thiên triều ấy.

Tình thế bất tương đẳng truyền kiếp trải qua hàng hơn hai
ngàn năm giữa hai thực thể (nếu chỉ tính từ mốc tín sử
cho phép nói là bắt đầu có biết đến sự tồn tại của
nhau) khiến cho trong suốt cả thời gian dằng dặc ấy, xuất
hiện không ít những "phương thức ứng xử" đa trị và đa
nghĩa giữa những thế lực vừa thống trị mà cũng vừa đại
diện cho cộng đồng Việt với các triều đại đế chế trên
đất Trung Hoa.

So với các quốc gia – dân tộc khác trong nhóm các quốc gia
được định danh là "đồng văn" trên nền "<em>Hán tự
văn hóa quyển</em>" là Triều Tiên và Nhật Bản, có thể nêu
lên một nhận xét khái quát bao hàm một nghịch lý: Việt Nam
là quốc gia trên thực tế chịu đựng họa xâm lăng và nô
dịch của các đế chế Trung Hoa liên tục nhất, dai dẳng
nhất, khốc liệt nhất, có thời gian bị nội thuộc kéo dài
nhất (trong khi Nhật Bản "chưa một ngày bị Trung Quốc cai
trị"!) nhưng giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ được các
nhà Đông phương học định danh là "thế giới Hán hóa"
(<em>le monde sinisé</em>), Việt Nam lại là quốc gia chịu ảnh
hưởng của "nền văn hóa Thiên triều" chính thống ít sâu
đậm nhất! Khẳng định này có thể gây tranh cãi và giải
thích điều này hoàn toàn không dễ dàng.Nhưng có thể đề
nghị các nhà khoa học đang cộng tác làm các bộ sách kinh
tạng với các học giả thuộc bốn trường Đại học lớn
của bốn nước chứng thực phần nào cho điều vừa nói, thậm
chí chỉ cần căn cứ vào số lượng quyển của bộ Nho tạng
có được ở Việt Nam so với số lượng quyển có được từ
nguồn thư tịch Triều Tiên và Nhật Bản. Tình hình chung cho
cả Tam giáo hay rộng hơn, cho cả bách gia chư tử, có lẽ cũng
không khác mấy, thậm chí tôi ngờ rằng còn có thể "hoang
vắng" hơn!

Chúng tôi đã có dịp nhận xét rằng trong các loại hình nhà
nho cơ bản (hiển nho), thì ở Việt Nam thưa thớt loại triết
nho – nhà nho nhà tư tưởng, cũng hiếm nhà nho học giả. Hai
mẫu nhà nho phổ biến hơn cả ở Việt Nam trước kia là nhà
nho ông quan và nhà nho nghệ sĩ. Nhiều nhà nghiên cứu có thẩm
quyền chuyên môn bậc nhất trong giới khoa học xã hội nước
ta mấy chục năm qua dù muốn dù không đều buộc phải thừa
nhận một thực tế: cha ông ta không có nhiều truyền thống
học thuật nói chung, lý luận nói riêng.

Có thể và cần thiết tạo nên nhiều cơ hội khác để bàn
kỹ, bàn sâu về chủ đề này. Điều tôi cần nói ở đây
chỉ là một nhận xét vắn tắt: hàng ngàn năm chung đụng với
nền văn hóa Trung Hoa, cha ông ta quả có chịu ảnh hưởng
nhiều, thậm chí rất nhiều, nhưng rút cuộc, hiểu nền văn
hóa đó một cách sâu sắc, toàn diện và hệ thống thì khó có
thể khẳng định. Bộ phận "ưu tú" hơn cả trong giới nhà
nho đương nhiên theo truyền thống hình dung phải là các bậc
đại khoa, nhưng giữa ba ngàn tên tuổi đỗ đại khoa còn lưu
lại trong sử sách hay trên bảng vàng bia đá, thật khó đếm
số học giả nổi trội đủ mười đầu ngón tay. Dĩ nhiên,
hoàn toàn có thể nói thêm rằng không chỉ có các bậc đại
khoa mới trở nên học giả tầm cỡ, nhưng đã vậy, lại phải
nói thêm nữa rằng những trường hợp như thế chắc chắn là
những ngoại lệ.

Thứ kiến thức xuất phát từ nền văn hóa, học thuật Trung
Hoa mà nhà nho Việt Nam biết nhiều nhất trước kia là văn và
sử. Tụng Bắc sử để quyết khoa đó đã là "học bệnh"
của cả ngàn năm. Nhưng có thực nhà nho ta có ai đó đã kịp
đọc đủ, dù chỉ một lần, những pho sử chính thức của
các sử gia Trung Quốc, thứ được biên soạn lần hồi trong
khoảng 2500 năm? Tôi không tin như thế. Ngay bộ sử nổi tiếng
nhất – Sử ký Tư Mã Thiên – thì cũng chỉ thấy nhà nho ta
"nằm lòng" những phần "Bản kỷ", "Thế gia", một
phần "Liệt truyện", còn phần "Thư" và "Biểu" thì
thấy rất ít người nhắc tới.Học vấn của nhà nho Việt Nam
về "Trung Quốc học" lại chỉ thiên mạnh mẽ về thời cổ
đại. Có thể nói cho tới tận thế kỷ XVIII rất ít nhà nho
Việt Nam có điều kiện và chịu khó "cập nhật thông tin"
về nền học thuật Trung Quốc từ đời Tống trở đi. Thứ
nhà nho biết nhiều và có thể kèm cả sự say mê là văn
chương, nhưng trong số những tác giả được xếp vào danh sách
bát đại gia Đường – Tống, thì người được biết tới
nhiều nhất có lẽ chỉ là Tô Đông Pha, thứ đến là Hàn Dũ,
Liễu Tông Nguyên và Âu Dương Tu được đề cập thưa thớt
hơn, về Vương An Thạch thì có lẽ vì vừa là lãnh tụ phái
Tân đảng vừa là người chủ trương xâm lược Việt Nam nên
ít được nhắc tới, còn cơ hồ không có tác giả nào của
Việt Nam từng "cố công tìm hiểu" về Tô Tuân, Tô Triệt
và Tăng Củng.

Rất hiếm văn nhân người Việt trước đây có được một
sự hiểu biết tương đối toàn diện về những thành tựu
đỉnh cao của nền văn học Trung Quốc sau đời Đường. Bằng
chứng là không thấy ai tỏ ra "lão luyện" về <em>Tống
từ</em>, <em>Nguyên khúc</em> hay <em>Minh – Thanh tiểu
thuyết</em>, mặc dù những loại sách vở ấy vẫn được các
thương nhân Hoa Kiều "bằng con đường tiểu ngạch" đưa
vào Việt Nam.

Trong tâm trạng bốc đồng vừa có sắc thái tự hào dân tộc
chủ nghĩa pha màu tuyên huấn, vừa ẩn giấu cả mặc cảm tự
ty, thi thoảng có những người Việt lớn tiếng khẳng định
rằng một số nhân vật xuất sắc nào đó của giới trí thức
nho gia Việt Nam từng đỗ "lưỡng quốc tiến sĩ", thậm chí
"lưỡng quốc trạng nguyên". Với tất cả sự chú mục tìm
hiểu, cá nhân tôi không khẳng định có ai đó từng là như
thế. Có chăng, đó chỉ là những nhân vật hư cấu trong
truyện Nôm bình dân!

Các chính thể chuyên chế ở Trung Quốc xưa (và cả nay) có
chủ trương nhất quán kìm hãm sự trưởng thành đích thực
của trí tuệ người Việt, áp dụng một đường lối nặng
thì diệt chủng văn hóa Việt mà nhẹ ra thì cũng ngăn cấm
người Việt đạt tới một nền học vấn tiên tiến so với
mặt bằng khu vực. Những "đặc chiếu" của Minh Thành Tổ
về cách thức ứng xử với tất cả những gì là di sản văn
hóa của chính người Việt và sự kiện quan lại Trung Quốc thu
giữ tất cả những sách vở có nội dung ít nhiều rộng hơn
tri thức khoa cử mà Lê Quý Đôn đã tự bỏ tiền riêng ra mua
khi về qua của khẩu trong chuyến đi sứ của ông vào năm 1762
chỉ là những ví dụ nổi bật.

Chủ trương "giáo hóa Nam nhân" của Trung Quốc chỉ được
khuôn định trong khung khổ cho người Việt biết được và
học theo, làm theo những gì họ muốn nhìn thấy ở "giống
dân" ấy.

Triều Nguyễn trên thực tế đã tạo được ít nhiều sự thay
đổi có tính đột xuất và chủ động hơn các triều đại
trước họ đối với lĩnh vực "Trung Quốc học". Đó cũng
sẽ là cả một câu chuyện dài không có điều kiện để bàn
tới ở đây. Tuy nhiên,có thể nói vắn tắt rằng cho tới tận
thời điểm trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, những
cố gắng đó của vua tôi nhà Nguyễn vẫn chưa thể đạt tới
tầm mức tạo ra được một quán tính và vectơ chuyển động
theo hướng khác.

Trên dưới một thế kỷ kể từ sau hàng ước Giáp Thân, nền
văn hóa nói chung và nền học vấn nói riêng ở Việt Nam bị/
được "bẻ lái" theo đường hướng khác, thoát dần khỏi
quỹ đạo khu vực truyền thống. Bản thân nền văn hóa và
nền học vấn ở Trung Quốc cũng từng bước trở nên khác
trước, dù muốn dù không cũng buộc phải tuân theo quỹ đạo
hiện đại hóa và hiện đại. Nhưng định mệnh lịch sử, ít
nhất là cả trên hai bình diện địa văn hóa lẫn địa chính
trị, đã khiến cho hai quốc gia, hai dân tộc, hai cộng đồng
cư dân vẫn duy trì những "hằng số của những quan hệ,
những tính quy định". Vậy mà, bất chấp tầm quan trọng
của những mối quan hệ đa chiều và phức tạp giữa hai quốc
gia, hai cộng đồng vẫn cứ đòi hỏi thậm chí đòi hỏi tăng
cường mạnh mẽ hơn nữa sự hiểu biết lẫn nhau, Trung Quốc
học ở Việt Nam tới thời điểm này có thể nói vừa thiếu
vừa yếu, nghiêm trọng tới mức "không tin được dù đó là
sự thật".

<strong>2.TRÔNG NGƯỜI, MÀ NGẪM….</strong>

Không bàn tới chuyện người Nhật Bản, người Hàn Quốc với
tư cách là những quốc gia đồng văn đã nghiên cứu Trung Quốc
thế nào, mà chỉ giới thiệu qua ở đây sự phát triển của
ngành Trung Quốc học ở những quốc gia Âu Mỹ, ngõ hầu từ
đó họa may có thể nhận ra đôi ba điều cảnh tỉnh gì chăng?
Hợp lẽ hơn, trong khung khổ của bài viết này tôi chỉ muốn
nhắc tới nền Trung Quốc học ở hai quốc gia mà tôi biết
tương đối rõ, đó là Trung Quốc học ở Nga và Trung Quốc
học ở Pháp. Với mỗi nền Trung Quốc học ở mỗi quốc gia
ấy, cũng chỉ có thể lấy một trường hợp tương đối
điển hình để "nêu ví dụ".

<strong><em>2.1. TRUNG QUỐC HỌC Ở NGA:</em></strong>

Có thể nói rằng ngay từ thời Sa hoàng, ngành Đông phương
học nói chung và chuyên ngành Trung Quốc học nói riêng đã sớm
được thiết kế như một lĩnh vực có tầm quan trọng hàng
đầu trong những hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội Nga.
Dễ hiểu rằng do đế chế Nga và đế chế Trung Hoa đều là
những đế chế khổng lồ và hiếu đại, nhưng do hai khu vực
hạt nhân của hai đế chế nằm rất xa nhau, với một "vùng
đệm" mênh mông bao gồm cả Xi bê ri và hàng chục quốc gia
Trung Á, lại do sự khác biệt cả về chủng tộc cả về
truyền thống lịch sử, nên ngành Trung Quốc học của Nga vào
những thế kỷ đầu tiên lại được xây dựng nên bởi những
công trình nghiên cứu của giới học giả Nga về các tộc
người và các nhà nước thuộc các tộc người thiểu số nằm
ở vùng Bắc và Đông Bắc Trung Quốc ngày nay. Nói theo ngôn
ngữ của vua chúa Trung Quốc xưa, thì người Nga biết và hiểu
về họ trước hết là qua các tộc thuộc nhóm "Ngũ Hồ"
(Bắc Địch) và nhóm "Đông Di". Trong ngôn ngữ Nga cho đến
nay, Trung Quốc vẫn là "Kitai" – một biến âm của tộc danh
Khiết Đan.Vị trí địa lý và quy mô đế chế đã khiến cho
những nhà hoạt động nhà nước thời các Sa hoàng nảy sinh
tham vọng và tổ chức hiện thực hóa tham vọng làm bá chủ ít
ra là một vùng lãnh thổ khổng lồ (và như đã biết, Liên bang
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết, gọi tắt là Liên Xô, là
quốc gia từng có lãnh thổ lớn nhất, chiếm tới 1/6 mặt
địa cầu).Đến thời Liên bang Xô viết, thì ngành Đông
phương học của quốc gia này mà bộ phận ưu tiên là Trung
Quốc học đã thu hút vào bản thân nó những trí tuệ kiệt
xuất bậc nhất của giới khoa học xã hội và nhân văn, dù là
đảng viên hay không phải là đảng viên cộng sản. Với định
hướng chiến lược tư duy toàn cầu, đặt ra và giải quyết
những vấn đề chung nhất của toàn thế giới và toàn bộ
lịch sử nhân loại, cùng với nỗ lực giữ vững địa vị
"thành trì của phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản
quốc tế", vừa phải giúp đỡ toàn diện để làm hình thành
nên một quốc gia "Trung Hoa đỏ", vừa phải kiềm chế nó
(và đã không thành công) sao cho "người khổng lồ mới" này
không trở thành chủ thể mới tranh đoạt quyền lãnh đạo cả
phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới, nhà
nước Liên Xô quả đã không tiếc sức người sức của đầu
tư cho một chuyên ngành Trung Quốc học trở nên thực sự là
ngành mũi nhọn. Một tư tưởng có tầm quan trọng hàng đầu,
tiên quyết những thành tựu của giới Trung Quốc học Nga nói
riêng, Liên Xô nói chung là tư tưởng đòi hỏi giới khoa học
này phải nghiên cứu "thế giới Trung Hoa" như một đối
tượng của khoa học tự nhiên, nghĩa là như nó vốn và đang
tồn tại chứ không như người Liên Xô mong muốn nó tồn
tại.Chính nhờ vào sự đinh hướng chủ đạo như thế mà
giới Trung Quốc học Nga cả một thời gian rất dài về cơ
bản là thoát khỏi sự ám ảnh của vòng kim cô "lập trường
chính trị" ngắn hạn nên thiển cận.(Cũng có một số nhà
Đông phương học Nga bị xử lý, có người bị giết trong các
cuộc thanh trừng vào các thập kỷ 30, 40, trong đó có những
thiên tài như Iulian Konxtantinôvich Shuski, nhưng thực chất lại
vì những nghi ngại chính trị ngoài khoa học). Trong khoảng
thời gian trên dưới một thế kỷ, chuyên ngành Trung Quốc học
ở Nga thực sự đã ở vào vị trí hàng đầu trong toàn cảnh
ngành Trung Quốc học thế giới, với hàng loạt những tên
tuổi xứng tầm quốc tế: Alêxeev Vaxili Mikhailôvich (1881-1951),
Vaxiliev Vaxili Pavlôvich (1818 – 1900), Marr Nikolai Iakovlevich (1864
– 1934), Olđelburg Xergei Phêđôrôvich (1863 – 1934), Konrad Nikôlai
Iôxivphôvich (1891 – 1970), Sherbatxkôi Phêđor Ippolitôvich (1866 –
1942), Shuski Iulian Konxtantinôvich (1897 – 1946), Vaxiliev Boris
Alekxanđrôvich (1899 – 1946) cùng rất nhiều tên tuổi lớn khác.

Một trong những tên tuổi lớn của giới Đông phương học Nga
vừa qua đời gần đây là Riphtin Bôris Lvôvich (1832 – 1912),
viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Nga, người mà Tạp
chí Nghiên cứu văn học số 11/2012 vừa ra một số chuyên đề
với một tình cảm trân trọng dự định chúc mừng sinh nhật
lần thứ tám mươi chẳng dè khi đang lên khuôn thì nhận
được tin ông thệ thế. Sự lựa chọn và cách thức làm khoa
học của Riphtin (xin xem toàn số 11 tạp chí Nghiên cứu văn
học vừa qua) theo tôi nghĩ, không chỉ đơn giản khiến chúng ta
suy nghĩ, mà có lẽ trước hết, buộc chúng ta xấu hổ biết
bao khi tự nhìn lại mình!

<em><strong>2.2. TRUNGQUỐC HỌC Ở PHÁP:</strong> </em>

Là một "đế quốc thực dân đời cũ" điển hình, không
khó giải thích vì sao lĩnh vực Đông phương học Pháp lại có
được bề dày truyền thống đáng ngưỡng mộ đến vậy. Tôi
sẽ không làm mất thêm thời gian của quý vị bằng việc
lược thuật lại những thành tựu rất nổi trội của ngành
Trung Quốc học ở quốc gia này, mà đơn giản chỉ khẳng
định lại rằng với những tên tuổi như Marcel Granet (1884 –
1940), Pellio, anh em nhà Maspero, Levi, Edouard Chavann…giới Trung
Quốc học Pháp từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ
XX đã giành được sự kính trọng của các nhà Đông phương
học thế giới, kể cả của các học giả lớn người Trung
Quốc. Hậu duệ tinh thần của những nhà thông thái đó là cả
một đội ngũ đông đảo vẫn tiếp tục được bổ sung không
dứt tới nay. Tôi muốn đề cập tới một trong những khuôn
mặt sáng giá bậc nhất hiện nay trong số họ: giáo sư Frencois
Julien, nhà triết học đương đại, người đã công bố hàng
vài chục chuyên luận về triết học, mỹ học và tư tưởng
Trung Quốc trong hơn ba mươi năm gần đây. Ở Việt Nam, liên
tiếp trong khoảng mười năm lại nay, đã có ngót một chục
công trình của tác giả này được dịch và xuất bản, điều
đó đã biến ông thành "nhà triết học được đọc nhiều
nhất ở Việt Nam sau các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx"
như trong lời giới thiệu một công trình của ông đã thông
tin.Nói vắn tắt, thì cá nhân tôi, tiếp xúc với những công
trình của nhà Trung Quốc học này, hầu như bao giờ cũng vừa
đọc vừa giật mình thon thót.

Tôi có theo dõi và hệ thống hóa, dù "chẳng để làm gì",
dù "chả ích cho ai" đi nữa, cách thức mà người Pháp, từ
trước tới nay, tìm hiểu (kỹ lưỡng) và ứng xử (rất mực
thận trọng) đối với nhà nước Trung Quốc và cộng đồng
người Hoa. Điều mà tôi tự nhủ, nhân dịp này xin nói ra
lời, rằng sao một cộng đồng, một quốc gia có số phận
lịch sử chằng buộc với Trung Quốc tự ngàn xưa và còn sẽ
phải bị/ được chằng buộc "tới muôn sau" như Việt Nam,
mà lại tự mình chấp nhận giới hạn sự hiểu biết của
mình về người láng giềng khổng lồ "nông nổi" đến mức
ấy? Chưa nói rằng, liên miên trong lịch sử còn thêm tình
trạng "kẻ biết thì không làm mà kẻ làm thì không biết"
diễn ra không phải là thi thoảng cho lắm!




***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140906/tran-ngoc-vuong-trung-quoc-hoc-o-viet-nam-ngay-nay),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét