Việt Nam, Trung Quốc và cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu: Ai đã dao động?

<a
href="http://thediplomat.com/2014/08/vietnam-china-and-the-oil-rig-crisis-who-blinked/"
target="_blank">The Diplomat</a> </strong>


<div class="boxright200"><img
src="http://anhbasam.files.wordpress.com/2014/08/h52.jpg?w=300"
width="300"></a><div class="textholder">Giàn khoan
HD-981</div></div><strong>Việt Nam bị quật ngã dưới sức ép của
Trung Quốc hoặc Trung Quốc đã dao động?</strong>

Thông báo ngoài dự kiến của Trung Quốc vào ngày 15/7 rằng
họ đã rút giàn khoan dầu khủng của mình khỏi vùng biển
Việt Nam sớm hơn dự kiến, đã dẫn đến một cuộc tranh
luận giữa các chuyên gia học thuật về lý do của việc này.

Zachary Abuza, giáo sư Đại học Simmons ở Boston, cho rằng Việt
Nam đã bị quật ngã dưới sức ép của Trung Quốc, trong khi
Alexander Vuving (Vũ Hồng Lâm), giáo sư tại Trung tâm châu Á-Thái
Bình Dương về Nghiên cứu An ninh tại Hawaii, cho rằng Việt Nam
vẫn đứng vững, còn Trung Quốc thì dao động.

Phân tích của Abuza <a
href="http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia-01-290714.html"
target="_blank">xuất hiện trong phần "Phát biểu tự do"</a>
của Asia Times ngày 29/7. Phân tích của ông độc đáo, có tính
khiêu khích và nhiều suy đoán.

Abuza cho rằng việc đặt giàn khoan dầu của Trung Quốc "đã
bày ra mối đe dọa chia rẽ nhất trong nhiều năm trong ban lãnh
đạo Đảng Cộng sản ở Hà Nội". Không những các uỷ viên
Bộ Chính trị chia rẽ sâu sắc mà phe đa số còn chọn cách
xuống thang cuộc khủng hoảng bằng việc chiều theo sức ép
của Trung Quốc. Abuza viết "Quyết định lùi bước của Hà
Nội hàm chứa nhiều điều nghiêm trọng. Việt Nam đã ve vuốt
TQ có hiệu quả, điều đó có rất nhiều khả năng sẽ dẫn
đến bị gây hấn nhiều hơn". Abuza kết luận rằng, một
chính sách ve vuốt "sẽ gây nguy hiểm cho bản thân chính chế
độ… [và] cho tính chính đáng của chế độ".

Để hậu thuẫn cho lập luận của mình, Abuza đưa ra một số
thông tin rất chi tiết về quá trình ra quyết định thường
thiếu minh bạch của lãnh đạo Việt Nam. Lập luận của Abuza
có thể được tóm tắt trong bốn điểm:

Thứ nhất, phản ứng với sự quyết đoán của Trung Quốc qua
việc đặt giàn khoan HYSY 981 trong vùng biển Việt Nam vào đầu
tháng 5, Abuza quả quyết rằng ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam (BCHTW) đã họp vào tháng 6 và "nhất trí
lên án sự gây hấn và xâm lấn của Trung Quốc".

Thứ hai, chuyến đi Hà Nội của Ủy viên Quốc vụ viện TQ
Dương Khiết Trì (DKT) vào ngày 18/6 đã cho thấy là then chốt.
Trước chuyến đi này lãnh đạo Việt Nam hy vọng rằng DKT sẽ
có những nhượng bộ ngoại giao. Theo Abuza, điều ngược lại
đã xảy ra. DKT "làm bất cứ thứ gì ngoại trừ hòa giải,"
ông "mắng mỏ chủ nhà vì 'thổi phồng' tình hình" và
cảnh báo "thẳng thừng rằng TQ sẽ 'sử dụng mọi biện
pháp cần thiết' để bảo vệ giàn khoan".

Thứ ba, do kết quả của chuyến thăm của Ủy viên DKT đa số
uỷ viên của Bộ Chính trị 16 người đã đảo ngược nghị
quyết tháng 6 của BCHTW. Theo Abuza, phe thiểu số gồm 6 uỷ viên
nghiêng về "một chiến lược nhiều mặt" đối đầu với
Trung Quốc, trong khi phe đa số gồm 10 uỷ viên ủng hộ việc
xuống thang cuộc khủng hoảng để chiều theo Trung Quốc.

Khía cạnh có tính suy đoán nhất trong phân tích của Abuza là
việc ông phân loại từng uỷ viên Bộ Chính trị vào hai nhóm
này. Theo Abuza, phe thiểu số bao gồm 6 uỷ viên: Thủ tướng
Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh
Hùng, Bí thư Thành uỷ Hồ Chí Minh đồng thời là "nhà ủng
hộ cải cách" Lê Thanh Hải, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân
Phúc, và Phó tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân và Tòng Thị
Phóng.

Phe đa số 10 uỷ viên gồm: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng,
uỷ viên Ban Bí Thư Tô Huy Rứa và Lê Hồng Anh, trưởng ban
Kiểm tra Trung ương Ngô Văn Dụ, trưởng ban Tuyên giáo Đinh
Thế Huynh, bí thư thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị, Chủ tịch
Mặt trận Tổ quốc Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng Phùng Quang Thanh, "có thể là" Bộ trưởng Công an Trần
Đại Quang, và "rất có thể là" Chủ tịch nước Trương
Tấn Sang.

Thứ tư, do việc đảo ngược chính sách này, Bộ Chính trị
gác lại quyết định trước đó về tiến hành hành động
pháp lý chống lại Trung Quốc, hạ giọng trong việc đòi hỏi
về Bộ Quy tắc ứng xử có tính ràng buộc ở biển Đông, và
hủy "chuyến đi đã công bố rõ lịch trình tới Washington"
của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh.

Bộ Chính trị quyết định dò hỏi Washington về "mức độ
cam kết trong việc giữ một vai trò trong cuộc xung đột tiềm
năng với Trung Quốc ở biển Đông" bằng cách phái bí thư
thành uỷ Hà Nội và là uỷ viên Bộ Chính trị Phạm Quang
Nghị thay chỗ của Phạm Bình Minh sang Mỹ.

Abuza kết luận rằng phe đa số trong Bộ Chính trị "không
sẵn sàng đối đầu với TQ" và rằng "có một niềm hy
vọng ở một số rằng qua việc nhượng bộ về quần đảo
Hoàng Sa thì Trung Quốc sẽ đáp trả trong quần đảo Trường
Sa".

Alexander Vuving đưa ra một cái nhìn ngược lại trong một bài
bình luận có tiêu đề "Có phải Trung Quốc đã dao động ở
biển Đông", công bố trên báo <a
href="http://nationalinterest.org/feature/did-china-blink-the-south-china-sea-10956?page-show"
target="_blank">The National Interest</a>. Vuving viết rằng cuộc
khủng hoảng giàn khoan dầu là "một cuộc đấu trí… Bên
nào có quyết tâm hơn thì có thể giành chiến thắng ngay cả
khi đó là bên yếu hơn. Với chủ quyền của mình bị đe dọa,
hai nước đọ quyết tâm với nhau để xem ai sẽ dao động
trước".

Ngay sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan dầu ở vùng biển Việt
Nam, các nhà lãnh đạo Hà Nội tìm cách thương lượng với
Bắc Kinh. TQ đã đáp trả với bốn điều kiện tiên quyết:
Việt Nam phải chấm dứt sách nhiễu giàn khoan dầu; Việt Nam
phải từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng
Sa; Việt Nam không được theo đuổi hành động pháp lý chống
Trung Quốc; và Việt Nam không được dính dáng với các bên
thứ ba, chẳng hạn như Hoa Kỳ.

Theo Vuving, tập thể lãnh đạo của Việt Nam đáp ứng bằng
cách bỏ kế hoạch tiến hành hành động pháp lý chống Trung
Quốc và dời chuyến thăm Washington của Ngoại trưởng Minh
lại. Điều này tạo tiền đề cho Trung Quốc thực hiện
"hành động xuống thang đáp trả".

Ngày 15/7 TQ thông báo rằng họ đã rút giàn khoan Hải Dương
981 khỏi vùng biển Việt Nam và, trong một tuyên bố riêng
biệt, thả 13 ngư dân Việt Nam mà họ đã bắt giữ trước
đó. Vuving kết luận rằng "hành động của Bắc Kinh có thể
trông giống như việc mặc cả ngầm, nhưng bản chất thực sự
của nó là một cái gì khác hơn". Vuving lưu ý tính chất
đối xứng và sự mong manh trong việc nhượng bộ nhau của cả
TQ lẫn Việt Nam. Nói cách khác mỗi bên có thể đảo ngược
hành động của mình bất cứ lúc nào.

Trái với Abuza, Vuving xem xét động lực của cả TQ lẫn Việt
Nam trong phân tích của mình. Vuving kết luận rằng sự hạ mình
của Hà Nội đối với Bắc Kinh chỉ là "một phần nhỏ của
toa thuốc, nếu có phần nào đó".

Vuving lập luận rằng cho đến cuộc khủng hoảng giàn khoan
dầu nổ ra, Trung Quốc đã theo đuổi chiến thuật "tầm ăn
dâu" (salami-slicing) qua đó Bắc Kinh theo đuổi "cách cân
bằng tinh tế giữa quyết đoán và kiềm chế để các hành
động [của họ] là vừa đủ để thay đổi sự kiện trên
hiện trường nhưng chưa đủ để tạo ra một lý do mạnh cho
các nước khác quay ra chống lại" họ.

Trái với Abuza vốn khẳng định rằng các nhà lãnh đạo của
Việt Nam chịu thua Trung Quốc và "Hoa Kỳ… đã không can dự
vào một cách có ý nghĩa", Vuving kết luận ngược lại. Theo
Vuving, việc TQ bắt nạt đã dẫn đến một sự thay đổi chưa
từng có trong nhận thức của Việt Nam về Bắc Kinh và "cùng
với mối đe dọa về một liên minh trên thực tế với Hoa Kỳ,
chúng cho thấy một sự thay đổi rất lớn trong cách Hà Nội
tiếp cận Bắc Kinh".

Hơn nữa, Vuving lưu ý "xu hướng chung… đã thêm vào nhiều
động lực hơn cho nhiều nước, bao gồm Nhật Bản, Philippines,
Australia, Ấn Độ và Việt Nam trong việc điều chỉnh tư thế
quân sự của mình và việc phối hợp chính sách đối ngoại
với nhau để chống lại hiệu quả hơn sự hung hăng của Trung
Quốc".

Trong kết luận của mình, Vuving lập luận rằng trong quá khứ,
rất nhiều quốc gia, kể cả Việt Nam và Hoa Kỳ, đã tạo ra
một "trần thuỷ tinh" (rào cản không nhìn thấy) và "áp
dụng chính sách kềm chế vì sợ khiêu khích con rồng khổng
lồ đó". TQ "khéo léo khai thác nỗi lo sợ này với chiến
thuật tầm ăn dâu". Do cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu,
trần thủy tinh đã bị vỡ và TQ đã lộ ra cho thấy là
"không có nhiều khác biệt so với các diễn viên khác" trong
nỗi lo sợ leo thang. Nói cách khác, Trung Quốc đã bị dao
động.

Điều Abuza nêu về việc ra quyết định của VN có thể bị
thách thức trên cơ sở tính hợp lý và tính chính xác thực
tế.

Thứ nhất, không có ghi nhận công khai nào về việc BCHTW đã
họp vào tháng 6. Như một nhà quan sát tại Hà Nội lưu ý trong
trao đổi cá nhân, "chưa nghe lời thì thầm nào tại Hà Nội
về một cuộc họp như vậy… cũng khó có thể che giấu một
cái gì đó lớn như một cuộc họp BCHTW". Một quan chức cấp
cao chính phủ xác nhận vào cuối tháng 7 rằng không có cuộc
họp nào của BCHTW được tổ chức kể từ Hội nghị toàn
thể lần thứ chín (8-14/5).

Hơn nữa, như một nhà ngoại giao tại Hà Nội ghi nhận riêng
với <em>The Diplomat</em>, "nếu thực sự cuộc họp BCHTW tháng 6
'nhất trí lên án TQ xâm lược và xâm lấn, tại sao Đảng
không đưa ra bất kỳ nghị quyết nào về điều này sau cuộc
họp. Điều này không phục vụ một mục đích trấn an công
chúng trong nước về việc Đảng xử lý tình hình hay sao".

Thứ hai, thông tin về chuyến đi Hà Nội của DKT ngày 18/6 tập
trung quá hẹp vào tư thế công khai của ông ta. Cho đến khi DKT
viếng VN, TQ đã từ chối khoảng ba mươi lần khi VN tiếp xúc
để mở các cuộc đàm phán về cuộc khủng hoảng giàn khoan
dầu, còn DKT chỉ đến dự cuộc họp thường niên đã lên
lịch từ lâu của Ban chỉ đạo chung về hợp tác song phương.
Đây là một chỉ dấu quan trọng của việc TQ sẵn sàng tham gia
với Việt Nam.

Đọc kỹ lưỡng các báo cáo chính thức của Bộ Ngoại giao
Việt Nam, sẽ thấy rằng khi DKT gặp TBT Trọng thì đã có một
thỏa thuận chung để "tiếp tục thảo luận về các cách <a
href="http://www.mofa.gov.vn/en/nr040807104143" target="_blank">để giảm
bớt căng thẳng và giải quyết các vấn đề trên biển</a>".
Sau chuyến thăm của DKT, các phương tiện truyền thông Trung
Quốc miêu tả kết quả với những từ ngữ tích cực hơn rất
nhiều so với các phương tiện truyền thông phương Tây mà Abuza
trích dẫn. Theo ghi nhận của Vuving, chuyến thăm của DKT chuẩn
bị cho một mặc cả ngầm để xuống thang cuộc khủng hoảng.

Thứ ba, Abuza không cung cấp nguồn cho khẳng định của ông
rằng Bộ Chính trị đã họp sau chuyến thăm của DKT và lật
ngược một nghị quyết của BCHTW lên án TQ xâm lược. BCHTW là
cơ quan quyền lực cao nhất của đảng giữa hai kỳ đại hội
Đảng toàn quốc. Như đã chứng kiến chính trị trong nước
vào năm 2013, BCHTW đã nhiều lần đảo ngược quyết định
của Bộ Chính trị.

Được biết, Bộ Chính trị đã họp nhiều lần trong cuộc
khủng hoảng giàn khoan dầu cả trước lẫn sau chuyến thăm
của DKT. Trong chuyến thăm Việt Nam vào cuối tháng 7, tác giả
đã được nghe các nguồn tin ngoại giao và từ người Việt Nam
rằng Bộ Chính trị đã bỏ phiếu với tỉ lệ 9-5 "chấp
thuận đề xuất đi tới với việc đưa ra trọng tài quốc
tế".

Các nhà ngoại giao tại Hà Nội theo dõi chặt chẽ các sự
kiện này cho rằng phiên họp quyết định của Bộ Chính trị
diễn ra vào đầu tháng 7. Tức là trước khi Trung Quốc tuyên
bố rút giàn khoan Hải Dương 981.

Không thể biết chắc chắn cá nhân các uỷ viên Bộ Chính
trị tại cuộc họp đầu tháng 7 biểu quyết phân chia như thế
nào. Việc dò la trong giới quan sát viên Việt Nam và nước
ngoài thạo tin tại Hà Nội gợi ra như sau:

Phe đa số như được biết gồm: Nguyễn Tấn Dũng, Trương
Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, Lê Thanh Hải, Lê Hồng Anh, Tòng Thị
Phóng, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Thiện Nhân và có khả năng là
Phùng Quang Thanh.

Phe thiểu số gồm 5 uỷ viên như được biết gồm Nguyễn Phú
Trọng, Tô Huy Rứa, Phạm Quang Nghị, Ngô Văn Dụ và Đinh Thế
Huynh.

Các tin tức cho rằng có hai uỷ viên Bộ Chính trị bỏ phiếu
trắng là không chính xác. Đầu tháng 7 hai uỷ viên Bộ Chính
trị đã đi nước ngoài và không thể tham dự cuộc họp. Bộ
trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang thăm Đức từ ngày 3-4/7,
trong khi Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm
Argentina và Chile từ 30 /6 – 5/7.

Thứ tư, Abuza quả quyết rằng chuyến đi của Ngoại trưởng
Minh sang Mỹ đã bị hủy bỏ và uỷ viên Bộ Chính trị Phạm
Quang Nghị đã được cử thay vào. Chuyến đi của ông Minh đã
bị dời lại tới tháng 9. Hiện nay, Đại sứ quán Việt Nam
tại Washington và Bộ Ngoại giao đang thảo luận về thời gian
của chuyến đi của ông Minh.

Chuyến đi của Phạm Quang Nghị theo báo cáo là để đánh bóng
khả năng đối ngoại của ông và cung cấp một thăm dò về
hiện trạng mối quan hệ với Mỹ trước chuyến thăm của bộ
trưởng Minh.

Có vẻ như không chắc rằng Bộ Chính trị gác lại quyết
định phải có hành động pháp lý chống lại TQ hay Việt Nam
hạ giọng trong đòi hỏi Bộ Quy tắc ứng xử có tính ràng
buộc ở biển Đông. Ngày 26/7 trường Đại học Luật thành
phố Hồ Chí Minh đã tổ chức một hội nghị quốc tế các
chuyên gia cấp cao về "Những vấn đề pháp lý liên quan đến
việc Trung Quốc đặt giàn khoan dầu Hải dương thạch du 981
trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt
Nam". Những người tham dự phía Việt Nam lưu ý riêng rằng
các khuyến nghị của hội nghị này sẽ được chuyển tới
các nhà lãnh đạo cấp cao trước cuộc họp của BCHTW dự
kiến một thời gian nào đó trong tháng 8.

Việt Nam vẫn toàn tâm với Hiệp hội các nước Đông Nam Á
(ASEAN) và ủng hộ cho một Bộ Quy tắc ứng xử (COC) có tính
ràng buộc ở biển Đông. Năm ngoái, TQ đã quay một góc 180°
và đồng ý gặp với các quan chức ASEAN để thảo luận về
COC trong khuôn khổ các cuộc thảo luận về việc thực thi
Tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông. Không chắc là
Việt Nam giảm bớt sự ủng hộ cho COC để cầu cạnh TQ. Hai
bên đều dốc lòng với tiến trình ngoại giao. Việt Nam có
thực sự tin hay không tin rằng COC sẽ được đàm phán là vấn
đề khác. Theo một quan chức cấp cao Việt Nam nói với <em>The
Diplomat</em>, "chuyến đi quan trọng hơn đích đến".

Các cuộc họp hàng năm sắp diễn ra của các Bộ trưởng
ngoại giao ASEAN, Diễn đàn khu vực ASEAN và các cuộc họp liên
quan giữa ASEAN và các đối tác đối thoại của nó đều sẽ
thảo luận về cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu và từ chỗ
đó sẽ đi tới đâu. Rõ ràng là TQ sẽ phải chịu sức ép
ngoại giao cao để kềm lại hành vi khiêu khích của mình ở
biển Đông.

Cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu đã chứng minh rằng Việt Nam
có khả năng đứng lên chống lại TQ và thể hiện quyết tâm.
Khó có khả năng VN tự trói tay với bất kỳ lựa chọn nào
kể cả hành động pháp lý chống lại Trung Quốc. Chính vì
lợi ích của Việt Nam để giữ lựa chọn này làm dự phòng.

Khả năng các nhà lãnh đạo thận trọng của Việt Nam bị
quật ngã dưới sức ép của TQ cũng hiếm như việc họ chao
đảo bước vào một liên kết với Hoa Kỳ. Việt Nam và TQ có
nhiều công việc ngoại giao phải làm để sửa chữa quan hệ
song phương bị hư hại và khôi phục lòng tin chiến lược của
họ. Việt Nam cũng có khả năng dấn sâu hơn vào quan hệ đối
tác toàn diện với Hoa Kỳ.

Có nhiều khả năng chính sách đối ngoại Việt Nam sẽ liên
tục hơn là thay đổi. Việt Nam sẽ tiếp tục vận dụng Nghị
quyết 8 BCHTW để đấu tranh và hợp tác với các cường quốc
nhằm đẩy mạnh lợi ích quốc gia của mình và theo đuổi cách
tiếp cận đa phương trong quan hệ đối ngoại của mình.


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140807/viet-nam-trung-quoc-va-cuoc-khung-hoang-gian-khoan-dau-ai-da-dao-dong),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét