Nguyễn Văn Tuấn - Sự thất bại của giáo dục đại học VN

<div class="boxleft300"><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiVrHCuQ2uvnPczP3i6PgOfZSZuJN2GSWMBnOwTls0M_SU2w_1jFq7IpakDf4EyewXpIyTBUa1DSo3op1HrDsLnG1ErMdNTcR7ISyQk_lOSvH1KlW0_QZfVRrH5kXLHwIrRfW1nWZti8Mm8/s1600/Anh-19-6597-1401443060.jpg"
/><div class="textholder"></div></div>Giáo dục, đặc biệt là giáo
dục đại học, có lẽ là đề tài bàn luận muôn thuở. Ở VN,
người ta bàn về vấn đề giáo dục đại học từ rất lâu,
từ mô hình tổ chức đến phương pháp giảng dạy, và giảng
viên & giáo sư. Không phải như thời trước 1975 ở miền Nam,
đại học là những trung tâm dành cho giới tinh hoa của đất
nước, thường chỉ tồn tại ở thành phố lớn.

Thời tôi còn đi học, chỉ có một tỉ lệ nhỏ tốt nghiệp
trung học, và chỉ 10%(?) trong số tốt nghiệp trung học vào
được đại học. Nói cách khác, đại học ngày đó thu hút
học sinh tinh hoa của tinh hoa. Còn ngày nay đại học mọc lên
từ làng xã ra thành phố. Ai cũng tốt nghiệp trung học, thì
phải tìm nơi cho họ học đại học. Có thể nói VN đang trải
qua một phong trào "phổ thông hoá" đại học. Hiện nay, VN có
207 trường đại học được công nhận, và con số này vẫn
còn tăng. Công chúng phải phải đặt câu hỏi về vai trò của
đại học vì công chúng là người gián tiếp nuôi đại học
qua tiền thuế.

Có lẽ câu hỏi cơ bản đặt ra là: giáo dục đại học tồn
tại để làm gì? Câu hỏi này cũng là một cách định hình và
phân biệt giữa đại học và cao đẳng dạy nghề. Trong một
bài viết cách đây 4-5 năm gì đó, tôi có phát biểu rằng trong
một xã hội hiện đại, giáo dục bậc đại học có bốn
chức năng chính:

(a) đáp ứng nhu cầu tri thức của công chúng và giúp công
chúng tự khai thác tiềm năng của mình và cống hiến lại cho
xã hội;

(b) sáng tạo ra tri thức mới qua nghiên cứu khoa học, và
chuyển giao những tri thức này đến xã hội;

(c) cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động có trình
độ chuyên môn cao, cần thiết cho sự phát triển của một
nền kinh tế hiện đại; và

(d) vận hành như là một trung tâm văn hoá, với chức năng khai
hóa xã hội, hướng dẫn dư luận, cố vấn về đường lối
và chính sách cho nhà nước.

Nếu nhìn chức năng của đại học theo cái nhìn đó và đối
chiếu với thực tế, tôi nghĩ đại học VN thất bại gần
hết. Tôi sẽ giải thích tại sao, còn nguyên nhân thì sẽ bàn
trong một dịp khác.

Đại học VN hiện nay vẫn tồn tại như là một ốc đảo,
thiếu sự tương tác với công chúng, xã hội, và kĩ nghệ. Ai
đã từng ghé thăm và làm việc các đại học VN, dù là đại
học "hoành tráng" nhất, sẽ thấy rất rõ đó là những
công sở, với cổng kính tường cao, và giờ mở cửa y như
một cơ quan hành chính của Nhà nước. Thư viện thì hầu như
chẳng có sách để đọc và tham khảo, mà hình như nhà trường
cũng chẳng quan tâm đến thư viện (do thiếu ngân sách). Người
dân rất khó tiếp cận đại học, và không có hi vọng gì để
được vào đọc sách trong thư viện. Ngược lại, các đại
học phương Tây là những thiết chế của cộng đồng, của
người dân, ai cũng có thể ghé qua và có thể tham gia những
hội thảo dành cho công chúng. Người dân cảm thấy tự hào
đó là một cơ sở khoa học và văn hoá của cộng đồng mà
họ đóng góp tạo dựng nên.

Khả năng sáng tạo ra tri thức mới của đại học VN cũng
không đáng kể. Một thước đo về đóng góp vào tri thức khoa
học là số công trình nghiên cứu trên các tập san quốc tế.
Trong tổng số bài báo khoa học từ VN trên các tập san quốc
tế (hiện nay ~2300 bài), các đại học đóng góp chưa đến 50%.
Thật ra, trong số hơn 200 đại học, chỉ có khoảng 20 đại
học là có đóng góp vào công bố quốc tế, và cũng chỉ tập
trung các trường lớn. Những trường nhỏ và mới như Tôn
Đức Thắng, ĐH Quốc tế, ĐH Nha Trang, ĐH Đồng Tháp, v.v. cũng
có đóng góp khiêm tốn (mỗi trường đóng góp từ 5-20 bài
mỗi năm). Tổng số bài báo khoa học từ tất cả các đại
học VN còn thấp hơn 1 đại học của Thái Lan (như Chiang Mai hay
Chulalongkorn). Tổng số bài báo khoa học từ VN chưa bằng phân
nửa số bài báo của một đại học bên Singapore! Về sáng
tạo, các đại học VN cũng chẳng có đăng kí bằng sáng chế
quốc tế. Con số là 0. Nói chung, nghiên cứu khoa học và khả
năng sáng tạo của các đại học VN chưa đáng kể. Ở đây,
chúng ta chưa bàn nguyên nhân, chỉ nêu sự thật.

Những sinh viên mà đại học VN đào tạo khó tìm được việc
vì không đáp ứng nhu cầu của giới kĩ nghệ. Ngay cả những
người tìm được việc vẫn phải cần đào tạo lại. Một
viên chức người Việt thuộc Chương trình Phát triển Liên
hiệp quốc (UNDP) nhận xét: "Hệ thống GD-ĐT [giáo dục và đào
tạo] lâu nay của Việt Nam còn bất cập. Tỉ lệ người
được đào tạo ra đạt tiêu chuẩn quốc tế là rất ít." Theo
thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở trong nước, hàng
năm có khoảng 20.000 sinh viên tốt nghiệp đại học và cao
đẳng. Trong số này, chỉ có 50% sinh viên tốt nghiệp kiếm
được việc làm sau khi tốt nghiệp; và trong số tìm được
việc, chỉ có 30% tìm được việc đúng ngành nghề. Ngay cả
những sinh viên đã tìm được việc làm, họ đều phải
được huấn luyện lại, nhất là ở các công ti ngoại quốc.
Trong nhiều công ti liên doanh với Việt Nam, như Intel chẳng
hạn, hầu hết sinh viên Việt Nam đều phải được đào tạo
lại cả về chuyên môn lẫn kĩ năng giao tiếp. Do đó, đại
học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao
động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã
hội Việt Nam.

Nhưng điều này có lẽ không ngạc nhiên, vì đầu vào còn khá
thấp. Theo một nghiên cứu về kĩ năng tiếng Việt trong các
sinh viên khoa ngữ văn năm 1997-1998 tại Trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh, trong số 752 sinh viên từ năm thứ
nhất đến năm thứ tư (những cử nhân văn chương tương lai),
chỉ có 45% đạt yêu cầu về chính tả và 26% đạt yêu cầu
về cú pháp. Do đó, không ngạc nhiên khi đầu ra cũng thấp.
Trong một cuộc hội thảo với chủ đề "Toán, lí, hóa trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"
trước đây vài năm, một đại biểu của Hội Toán học Việt
Nam đánh giá trình độ sinh viên tốt nghiệp trong nước như
sau: "Có thể nói không quá đáng rằng, trình độ đại học
hiện nay chỉ bằng đại học đại cương (hai năm đầu của
đại học nước ngoài), cao học bằng đại học, và phó tiến
sĩ chỉ bằng cao học".

Đại học VN khó trở thành một trung tâm văn hoá. Chương trình
giảng dạy (nhất là các môn khoa học xã hội và nhân văn)
đều chịu dưới sự kiểm soát của một cơ chế vô hình nào
đó. Một báo cáo của chuyên gia nước ngoài nhận xét rằng
"các trường đại học Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị
bóp nghẹt về tri thức, trong khi công chúng đang phản ứng ngày
càng lớn." Vụ Nhã Thuyên vừa qua là một ví dụ tiêu biểu
về bóp chết tự do học thuật. Thiếu tự do học thuật làm
cho các đại học VN không thể nào hoàn thành sứ mệnh khai hóa
xã hội.

Nói tóm lại các đại học VN đã thất bại trong việc thực
hiện những chức năng của một đại học hiện đại. Nếu
một đại học mà chỉ đào tạo và không quan tâm hay không
hoàn có những hoạt động liên quan đến sáng tạo tri thức
mới và đóng vai trò trung tâm văn hoá, thì có lẽ nên xem đó
là trường cao đẳng. Mà, quả vậy, có thể nói không ngoa
rằng, chiếu theo những tiêu chuẩn học thuật nghiêm túc, phần
lớn các đại học VN chỉ là các trường cao đẳng chứ không
phải đại học đúng nghĩa.

Sự thất bại này là tiền đề để suy nghĩ về việc sắp
xếp lại hệ thống đại học – cao đẳng. Theo tôi, trước
hết phải phân tầng các đại học thành 3 nhóm: nhóm elite,
nhóm đào tạo, và nhóm địa phương. Nhóm elite gồm những
đại học có thể tự chứng minh đạt được 4 chức năng tôi
đề cập trên đây, đặc biệt là nghiên cứu koa học. Nhóm
đào tạo không cần ưu tiên làm nghiên cứu khoa học mà chỉ
tập trung đào tạo chuyên gia có phẩm chất chuyên môn tốt.
Tôi nghĩ đến nhóm này như là những "college of advanced
education" (CAE) của Úc thời thập niên 1980-1990. Còn nhóm
"địa phương" là những đại học do địa phương quản lí,
họ cũng đào tạo và ở mức độ khiêm tốn làm nghiên cứu
khoa học, nhưng chức năng của họ là phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội - văn hoá của địa phương là chính. Dĩ nhiên,
không ai ngăn cản một CAE hay đại học địa phương không
vươn tầm trở thành một đại học elite, nhưng tạm thời
phải có phân tầng chứ không thể theo chủ nghĩa bình quân
được.

Tôi nghĩ sự thất bại của đại học VN có nguồn từ sự
lẫn lộn giữa đại học và cao đẳng dạy nghề. Đại học
là một thiết chế dành cho những "learned people" (tạm xem là
học giả), nó không chỉ đơn thuần là nơi đào tạo chuyên gia
kĩ thuật, càng không đơn giản là nơi dạy nghề. Nếu chỉ
đào tạo chuyên gia thì nên xem đó là viện công nghệ. Đại
học theo cái nhìn của tôi không thể có những môn học vốn
thuộc sở trường của các cơ sở dạy nghề như
"hospitality", du lịch, nhà bếp, tiếp tân. Một đại học
đúng nghĩa theo tôi phải có những môn học mà phương Tây gọi
chung là liberal studies như nghệ thuật, ngôn ngữ cổ và kim, văn
hoá, văn học, v.v. hay những tri thức phổ quát. Sinh viên y
không chỉ học y học mà còn phải học các môn học liberal
studies. Nhưng ở VN, người ta lẫn lộn giữa giáo dục đại
học, đào tạo chuyên môn, và cao đẳng. Điều này dẫn đến
những tranh cãi có khi vô bổ về vai trò của "đại học",
và làm cho nền giáo dục đại học thật sự bị thất bại
trong vai trò đáp ứng nhu cầu tri thức và văn hoá của người
dân, thất bại trong sáng tạo ra tri thức mới, và thất bại
trong việc đóng góp cho nền kinh tế quốc dân.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140806/nguyen-van-tuan-su-that-bai-cua-giao-duc-dai-hoc-vn),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét