<b> Giá trị khoa học cao nhất thời nay là biết chăm chỉ phục
vụ thời sự </b>
Việc một số nhà giáo dạy văn kì cựu tỏ ý hoan nghênh đề
thi tốt nghiệp THPT năm nay bàn về biển đảo không làm cho
những người như tôi ngạc nhiên.
Chẳng qua các nhà giáo ấy chỉ muốn khẳng định con đường
mà họ đã theo từ trước đến nay.
Con đường nào? Đó là thông qua văn học — chủ yếu là văn
học hiện thời -, thuyết minh rao giảng cho các hoạt động
đang thu hút sự chú ý của xã hội và coi đó gần như là công
việc chính của người giảng dạy một bộ môn nhân văn như
văn học.
Lịch sử kể cả lịch sử văn chương chả là thứ gì xa xôi
trừu tượng mà phải quá lo. Tất cả trông vào phản ứng của
người ta trước tình hình thời sự.
Người sáng tác cũng như người giảng dạy văn chương phải
coi phục vụ thời sự là niềm hãnh diện.
Nhiều thế hệ người thày đã quen với ý nghĩ như vậy.
Từ đó, nếu có đào tạo ra một lớp người đời sống tinh
thần nghèo nàn, nghề nghiệp không có, lấy việc làm theo mệnh
lệnh từ trên xuống làm niềm tự hào…thì cũng chẳng ai lấy
làm xấu hổ.
(Trên đây cũng là cách hiểu của tôi với điều mà nhà nghiên
cứu Giáp Văn Dương gần đây mô tả -- chúng ta chỉ lo đào
tạo con người công cụ. Chỉ xin bổ sung thêm, thứ con người
công cụ mà nền giáo dục ta đào tạo nên là loại công cụ
quá cổ lỗ thô sơ; trong trường hợp sản phẩm giáo dục đang
nói, đó là một thứ công chức xoàng xĩnh không ai muốn dùng).
<b>Một sự sai khác dễ thấy khi so sánh</b>
Có nhiều điều do đã quá quen, nên ta tưởng ở đâu cũng vậy
lúc nào cũng vậy, sau biết rộng ra hóa không phải.
Thử nhìn vào các cuốn sách giáo khoa môn văn ở bậc tú tài
Sài Gòn trước 1975. So với sách tương tự Hà Nội, chỗ khác
thì nhiều, trong đó có cái điểm là ở đó có một tinh thần
khoa học nghiêm túc với nghĩa:
-- không bao giờ có chuyện văn học phục vụ chính trị một
cách thô thiển nói chung,
-- không bao giờ dành cho văn chương đương thời một sự sùng
bái quá đáng; không ép học sinh phải học mọi thứ văn
chương vừa viết rời tay và mới xuất hiện trên báo chí vài
năm ….
Còn ở Hà Nội thì sao? Trước khi vào Đại học Sư phạm Vinh,
tức là từ hồi còn học cấp II, cấp III Chu Văn An, tôi đã
được biết rằng các nhà nghiên cứu văn học đương thời
bị khống chế theo cái phương châm học từ Trung quốc sau 1949
là<i> hậu kim bạc cổ. </i>
Lúc học đại học, phần văn học cổ điển chúng tôi chỉ
được học rất sơ sài. Bao nhiêu sinh viên có năng lực đổ
xô cả vào việc tìm hiểu văn học đương thời, lấy việc
được tham dự vào đời sống văn học trước mắt làm niềm
tự hào. Còn một số sinh viên chót đi theo văn học cổ điển
và văn học nước ngoài thì đành xót xa như bị đẩy ra chầu
rìa trở thành người đứng ngoài cuộc. Phải một thời gian
họ mới học được cách làm cơ hội chủ nghĩa ở trình độ
cao hơn, sẵn sàng bóp méo lịch sử phục vụ thời sự và nhờ
thế, họ lại trở nên cao giá hơn. Nhưng đó là chuyện về
sau.
Khái quát lại thì thấy <i> Các vấn đề nội tại của một
ngành khoa học, các vấn đề mà nó phải đối diện trong suốt
lịch sử hình thành không là gì cả, nếu nó không phục vụ
thời sự</i>.
Không chỉ môn Văn, mà các môn khoa học xã hội khác cũng đều
đi theo hướng đó, nhưng ở môn văn, người ta lại hay có
những lý lẽ che đậy khéo léo hơn, do đó đáng xấu hổ hơn.
Từ những người quản lý giáo dục cho tới các giáo viên
đều thống nhất xác định nhiệm vụ của khoa học là góp
phần lý giải các hiện tượng thời sự, còn cái gốc khoa
học thì bị lảng tránh và tùy tiện thay đổi, <i>chín bỏ làm
mười</i> là thường, mà <i>bốn năm, thậm chí hai một, cũng
vẫn là con số mười đẹp đẽ</i>.
Thời sự ở đây vừa có nghĩa là đời sống tinh thần sau 1945
nói chung, vừa có nghĩa là các vấn đề nổi cộm của từng
năm tháng cụ thể.
<b>Một hệ thống phụ thuộc và bị hòa tan trong hệ thống
hành chính vô cảm</b>
Trở lên là tình trạng giáo dục phục vụ chính trị trên bề
mặt.
Sự phục vụ này còn đi vào bề sâu, biến thành nguyên tắc
tổ chức và hoạt động của một bộ máy đồ sộ -- cả trong
việc dạy và học, số người trong ngành tính ra lên tới con
số chục triệu.
Có dịp tìm hiểu lại nền giáo dục trước 1945 và nền giáo
dục ở Sài Gòn trước 75, tôi nhận ra một sự thật -- hồi
đó, bản thân giáo dục là một hệ thống quyền lực. Nó có
nguyên tắc tổ chức riêng của nó.
Nhà thơ Chế Lan Viên có lần nói với Nguyễn Khải và Nguyễn
Khải về kể lại cho tôi một nhận xét. Ông Chế bảo, ở xã
hội cũ, một viên tri huyện tuy vậy vẫn phải nể nhà sư trụ
trì mấy ngôi chùa lớn, hay các vị đỗ đạt cao nay không làm
gì chỉ về mở trường trong vùng. Còn các chức danh đốc
học, giáo thụ, huấn đạo – các học quan tương ứng với
tỉnh, phủ, huyện -- là người do triều đình cử chứ không
phải do chính quyền địa phương cử, hoặc nếu địa phương
cử thì triều đình cũng phải duyệt.(1)
Sang thời cách mạng thì hoàn toàn ngược lại. Nhiều vị sư do
nhà nước phân công vào chùa hoạt động, hoặc sau khi vào chùa
lấy việc cộng tác với chính quyền làm niềm vinh dự, nghĩa
là trong hệ thống sai bảo của chính quyền theo nghĩa đen.
Còn người phụ trách giáo dục các cấp hoàn toàn do ủy ban
cử sang.
Cả những hiệu trưởng cũng vậy, phải do Ủy ban thông qua.
Bộ máy tổ chức cán bộ địa phương thường hoạt động theo
nguyên tắc là ai tài giỏi cho đi phụ trách các ngành chính
trị kinh tế. Còn văn hóa giáo dục sẽ phân công cho những
người kém thế lực và kém năng lực.
Đánh đấm ở chiến trường hay vật lộn với sản xuất với
thị trường mới khó, chứ việc quản mấy ông thầy với đám
học trò ranh, ai làm chẳng được – người ta hiểu vậy.
Một trong những chuyện buồn cười nhất thời gian gần đây
là chỉ thị của Bộ gíáo dục cho các tỉnh, khuyên cơ quan
chính quyền tỉnh nên cẩn thận và ráo riết trong việc kiểm
soát các tin tức tiêu cực từ các cuộc thi.
Nó là bằng chứng cho thấy giáo dục đã nát như thế nào.
Nhưng nó cũng tố cáo sự phụ thuộc hoàn toàn của nhà
trường vào nhà cầm quyền. Giáo dục trở thành việc nhà của
địa phương rồi, người ta cho biết cái gì thì dân được
biết cái đó.
Một kỷ niệm nữa có liên quan tới những năm 55 – 58,khi tôi
học cấp II Chu Văn An. Trường ở ngay cạnh Chủ tịch phủ.
Hễ có các vị quan khách nước ngoài tới thăm, xe đưa từ sân
bay Gia Lâm về Ba Đình, là bọn tôi được lệnh bỏ học, ra
đứng đường để hoan nghênh các vị khách quý.
Ở các địa phương việc huy động thầy trò vào các công
việc gọi là công ích, là công tác chính trị của địa
phương, càng phổ biến.
Người ta tự coi mình đương nhiên có quyền can thiệp vào mọi
việc của nhà trường. Còn những việc như thế, làm hại
đến chất lượng giáo dục ra sao, thì không ai cần biết.
Một người bạn già có hiểu nhiều về giáo dục ở ta kể
với tôi Bộ trưởng Bộ giáo dục trong chính phủ liên hiệp
thành lập 2-1946 là Đặng Thai Mai. Nhưng về sau, do sinh viên
trường đại học Đông dương đề xuất thắc mắc, Đặng Thai
Mai chỉ tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, nên phải thay bẳng
Nguyễn Văn Huyên có bằng tiến sĩ Sorbone Đại học số một
của Pháp.
Việc chọn người tham gia chính phủ thời kỳ 1945-46 có thể
có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng tôi tin chắc rằng thời
ấy việc cử Bộ trưởng Bộ giáo dục buộc phải tuân theo
nhiều chuẩn mực nghiêm khắc, chứ không phải à uôm hoặc phe
cánh chạy chọt, như từ sau khi Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên
qua đời tới nay.
<b>"Giáo dục thì ta không kém gì thế giới"</b>
Một lần đọc hồi ký Đoàn Thêm, tôi biết rằng ở miền Nam
trước 11-1963, ông Ngô Đình Diệm có một nhận thức về nền
văn hóa giáo dục nước nhà rất đặc trưng cho người Việt.
Đại ý, theo Ngô Đình Diệm, nước ta kém gì thì kém chứ dân
ta rất ham học, ta có truyền thống về văn hóa giáo dục, có
thể làm gương mẫu cho các nước Đông Nam Á(!).
Về mặt này, có thể nói là giữa nhà chính trị họ Ngô với
các đối thủ tức là những người của <i>bên thắng
cuộc</i>, như chữ dùng của Huy Đức, hoàn toàn có một sự
tương đồng.
Ở Hà Nội trước 1945, chúng tôi cũng sớm được ấn vào
đầu niềm tự hào về thứ "cao quý nhà nghèo" của giáo
dục văn hóa xứ mình. Cũng như phải hiểu các vị bề trên
đứng ra chèo lái xã hội đều là những nhà văn hóa nhà giáo
dục có tầm vóc quốc gia.
Ở miền Nam, sau khi Ngô Đình Diệm đổ, đến thời các vị
tướng làm chính trị, thì họ khôn ngoan hơn. Bảo rằng bỏ
mặc cũng được, mà bảo rằng thức thời cũng được - họ
cho phép nền giáo dục lúc ấy vượt lên cái cổ hủ vốn có,
kể cả vượt qua cả nền giáo dục khá bài bản thời Pháp
thuộc, để chuyển sang học cách làm giáo dục mới mẻ của
người Mỹ.
Ở miền Bắc thì trước sau vẫn thế.
Theo tôi hiểu, một trong những nét làm nên bản chất giáo dục
Hà Nội và nay mở ra cả nước, đó là sự tiếp nối, là bộ
mặt hiện đại của một thứ giáo dục làng xã tiểu nông,
cái gì cũng tàm tạm gọi là có mà không cái gì đạt tới
trình độ một nền giáo dục hiện đại. Nhưng đó là ý tôi
biết được về sau. Suốt thời trẻ chúng tôi phải quán
triệt một nhận định của trên
-- chúng ta có một nền giáo dục thuộc loại tiên tiến trên
thế giới.
-- sau những học lỏm ban đầu của các nước anh em Liên xô
Trung quốc, nay đã đến lúc chúng ta có thể tự lo liệu
hết.Chỉ cần có tiền là ta sẽ có một nền giáo dục chẳng
kém ai cả.
<b>Mất dần mọi sự thiêng liêng</b>
Dịp cuối niên học 2013-14, một anh bạn trạc tuổi tôi đi
họp phụ huynh cho cháu nội trong nhà đang học tiểu học trở
về kể rằng không khí học đường bây giờ sao ngao ngán hết
chỗ nói.
Cái chính tức là nhà trường hiện nay truyền sang học trò tinh
thần thi nhau cạnh tranh để giành mọi loại danh hiệu.
Trong việc đánh giá học sinh sau một năm học, người ta có
chú ý đến nội dung bài vở nhưng nhiều chỗ che giấu hoặc
làm lấy lệ; cái quan trọng hơn là trình độ thích ứng của
mỗi em trước sự nhào nặn của nhà trường.
Từ đó nẩy sinh trong học sinh và phụ huynh tâm lý chỉ chăm
chăm xem mỗi em học sinh ở vào cái thang bậc nào trong bảng
thành tích mà nhà trường xếp đặt. Những chuẩn mực kiến
thức cũng như đạo đức của em trở nên một cái gì hết
sức trừu tượng và xa lạ.
Một lần, tôi đã đọc được lời than phiền của một phụ
huynh là sao trong những dịp khai giảng bế giảng cứ bắt con em
họ phải tập đi tập lại những động tác rất vô nghĩa để
đón những cán bộ ủy ban sang dự. Trong khi đó cảm giác của
người học sinh về sự thiêng liêng của nhà trường, sự
thiêng liêng của buổi lễ khai giảng, hoàn toàn là một cái gì
khó hiểu đối với lớp trẻ đương thời.
Khi nghĩ về những năm học tiểu học của mình trước 1954,
tôi luôn nhớ về các thầy, các cô cũ. Không hiểu sao, tôi
cảm thấy đối với các thầy có một sự kính trọng thật
sự.
Con em chúng tôi hiện nay khi nói về nhà trường không mấy khi
chúng nhắc tới những người thầy mà chúng đang học. Ngày
20-11 có đi chúc tết các thầy thì cũng sớm hiểu đây là cái
lệ không làm không được.
Khoảng từ 1964 trở về trước, ở Hà Nội người ta còn chọn
lọc khi tuyển người vào ngành sư phạm. Tức là có những
người có thể rất giỏi, rất được việc, nhưng nếu không
có cách sống thế nào đó, không có thói quen đạo đức thế
nào đó, thì được khuyên là không bao giờ nên đi vào ngành
sư phạm. Vì làm thầy lúc đấy cũng là một sự nghiệp thiêng
liêng như tu hành vậy. Người ta không thể mưu cầu danh lợi
khi đi làm thầy.
Có điều, đấy chỉ là di sản còn sót lại của nền giáo
dục trước 1945 và kéo dài lót đót qua kháng chiến. Ngay
trước 1975 tinh thần thực dụng cũng đã thấm vào lớp thanh
niên mới lớn chúng tôi mà việc chán bỏ ngành sư phạm đã
thành một thứ luật bất thành văn. Chúng tôi bảo nhau đó là
nghề bán cháo phổi, nghề chở đò qua sông. Nhìn vào sự đãi
ngộ của nhà nước ai cũng thấy lương giáo viên thuộc loại
thấp. Ở nhiều vùng nông thôn, giáo viên phải làm thêm mới
đủ sống. Có người nêu ra định nghĩa người giáo viên tức
là người nông dân có thêm nghề phụ là nghề gõ đầu trẻ.
<i>"Nhất y, nhì dược, tạm được bách khoa, sư phạm thông
qua, nông lâm bỏ xó"</i>
<i>"Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm"…</i>
những câu "danh ngôn" được truyền tụng hồi ấy gần đây
tôi còn được nghe nhắc lại, với ngụ ý là tất cả những
tệ hại xảy ra hôm nay, nó đã bắt nguồn lâu lắm rồi, ngay
từ lúc xã hội còn thịnh trị.
Có một chuyện mà tôi thấy tuy có vẻ nhỏ nhặt không đáng
nói nhưng sao vẫn thấy cần nói. Tại sao nền giáo dục của
chúng ta, nhất là giáo dục tiểu học lại toàn sử dụng phụ
nữ. Nhiều cô giáo quá, tỷ lệ cô quá cao. Nếu tôi không lầm
có đến 80 – 90% giáo viên tiểu học các trường là phụ nữ.
Theo sự hiểu biết của tôi, nhất là qua tìm hiểu nền giáo
dục của các xã hội bình thường khác thì ngay trong trường
tiểu học, học sinh đã cần lây truyền tính khỏe mạnh,
cương nghị, quyết đoán của nam giới chứ không chỉ cần sự
ngọt ngào, tình cảm của nữ giới.
<b>Cạn kiệt năng lực thay đổi</b>
Trong bài viết <i>Làm sao cứu vãn nền giáo dục phi chuẩn mực
này được? </i> tôi đã nói tới tình trạng đang ngại nhất
của nền giáo dục hiện nay – nó tiên thiên bất túc, bất
thành nhân dạng do đó vô phương cứu chữa.
Người ta vẫn đang lớn tiếng yêu cầu là phải có những cải
cách mạnh bạo trong ngành giáo dục. Nhưng với những người
đang làm giáo dục hiện nay, tôi có cảm tưởng ở họ đã
cạn kiệt năng lực tự thay đổi.
Muốn thay đổi được họ phải biết một nền giáo dục
chuẩn mực là như thế nào, giáo dục các nước khác ra sao.
Đằng này, họ không bao giờ biết một cái gì khác ngoài nền
giáo dục mà họ đang sống và là những trụ cột. Người
viết sách giáo khoa không biết rằng sách giáo khoa ở các
nước khác người ta viết như thế nào. Người lên lớp giảng
không biết rằng ở các nước khác người ta làm việc với
niềm tin thế nào, kiến thức thế nào.
Trong đời làm báo hồi trẻ, tôi luôn luôn bắt gặp những
người phụ trách báo mà không biết tờ báo nào thời trước
cách mạng, không bao giờ biết tờ báo nào ở nước ngoài và
còn tham gia vào việc ngăn chặn cấp dưới của mình đọc các
tờ báo ấy. Thế mà họ cứ làm công việc phụ trách báo vài
chục năm trời.
Đến khi làm xuất bản tôi cũng gặp những ông giám đốc
không hề biết nghiệp vụ xuất bản là gì. Nhiều ông nhà
không có tủ sách cá nhân, bản thân không bao giờ đi lùng
sách, không bao giờ ra các cửa hàng xem người ta mua sách ra sao.
Vậy mà những vị giám đốc ấy, khi tiếp khách nước ngoài
(hồi 1986 2000, vẫn còn khách loại này, Liên xô có, Trung quốc
có), vẫn tự tin rao giảng kinh nghiệm xuất bản của mình cho
khách.
Những người thầy giáo và nói chung là những người làm giáo
dục ở ta cũng trong tình hình tương tự. Mà chuyện bên giáo
dục cũng là chuyện của mọi ngành khác.
<b>Đã đến lúc không còn biết học ở đâu nữa</b>
Một trong những bài thơ thường trở lại trong đầu óc tôi
những ngày này là bài <i>1940</i> của Bertolt Brecht
<i>Con tôi hỏi: hay là con học toán?
Để làm gì? Tôi nghĩ. Khó gì con?
Con sẽ tính ra rất dễ dàng rằng
Hai mẩu bánh ăn no hơn một mẩu
Con tôi hỏi: hay con học tiếng Pháp?
Để làm gì? Tôi nghĩ. Nước suy rồi
Con cứ việc lấy tay xoa bụng
Gào lên, người ta sẽ hiểu con.
Con tôi hỏi: hay là con học sử?
Để làm gì? Tôi nghĩ. Con ơi.
Con hãy học vùi đầu xuống đất
Có thể mai ra còn sống thoát được chăng!
Thế rồi, tôi nói: ừ con
Con học toán, học Pháp văn, học sử. </i>
(Trần Dần dịch
– Trích từ <i>Bertolt Brecht Thơ trữ tình</i>, NXB Hội Nhà văn,
2006, tr. 70)
Khoảng hơn mười năm trước đây, tôi cũng sống theo như lời
khuyên của Brecht, tức là khi không biết làm gì thì bảo nhau
quay về học.
Nhưng giờ tôi thấy phải nghĩ khác, một cách nghĩ bi quan hơn.
Đối với thế hệ trẻ hiện nay, kể cả các bạn mới học
xong đại học và mới bước vào đời, nay lời khuyên đó cũng
không đủ nữa. Họ biết học làm sao khi cả xã hội không có
không khí học tập. Họ biết học làm sao khi sống trong một
xã hội cạn kiệt năng lực cải hóa thay đổi. Từ cấp thấp
đến cấp cao, phần kiến thức cơ bản mà mọi thanh niên phải
có ở các nước, đến với họ quá lỗ mỗ cũ kỹ. Họ biết
học làm sao khi không có ngoại ngữ và do đó không có thói quen
tìm hiểu về các nề giáo dục khác. Họ biết học làm sao khi
không biết rằng trên thế giới người ta đã tiến đến đâu
rồi.
Với việc trói buộc nền giáo dục trong quan niệm cổ lỗ của
mình, từ đó tạo ra một cơ chế không còn khả năng tự thay
đổi, xã hội chúng ta đang trong tình trạng giậm chân tại
chỗ, tự tái tạo ngày mai của mình theo cái mẫu hôm nay và
làm cho nó suy đồi tan nát hơn mà lại vẫn tự huyễn hoặc là
đang đi tới một tương lai tốt đẹp hơn.
____________________
(1) Xem bài <i>Vài nét về giáo dục địa phương nhà Nguyễn</i>
Theo <i>Đại Nam thực lục</i>, các chức quan quản lý việc học
dưới thời nhà Nguyễn đó là: Đốc học, Giáo thụ, Huấn
đạo. Mỗi chức quan sẽ quản lý ở một cấp khác nhau. Đốc
học, có nhiệm vụ làm thanh tra học vấn ở cấp tỉnh, tước
quan hàng Ngũ phẩm, được chọn trong số những người đỗ
Tiến sĩ. Giáo thụ, quản lý việc học ở cấp phủ, tước
quan hàng Thất phẩm, được chọn trong số những người đỗ
Cử nhân. Huấn đạo có trách nhiệm quản lý việc học ở
cấp huyện, có tước quan hàng Bát phẩm, được chọn trong số
những Tú tài.
Việc chọn ra các học quan dưới thời nhà Nguyễn cũng có
những tiêu chuẩn nhất định như:
"Năm Gia Long thứ 11 (1812), nhà vua đã truyền chỉ cho quan
tổng trấn Bắc Thành để bổ chức Đốc học, Trợ giáo cho
các tỉnh, trấn còn khuyết với tiêu chuẩn là người đó phái
có học hạnh. Người nào địa phương tự xét thấy đủ tiêu
chuẩn thì kê khai rõ tên tuổi, quê quán để <i>tâu lên triều
đình</i>". Năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) triều đình lại có
nghị chuẩn về tiêu chuẩn tuyển chọn các học quan như sau
"chức dạy học ở các phủ, huyện nếu là Hương cống, Sinh
đồ thì hạn tuổi từ 40 trở lên, là ẩn sĩ thì hạn từ 50
tuổi trở lên. Người nào đã được sung chuyển thì <i>Bộ
Lễ hội đồng với Quốc tử giám</i> sát hạch, nếu đạt thì
chỉ chờ để phân công công việc".
Nguồn tin: Trang Web Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Thứ sáu,
11/04/2014
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140627/vuong-tri-nhan-khi-mot-nen-giao-duc-khong-con-kha-nang-tu-cai-hoa-tu-thay-doi),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét