David O. Dapice và Vũ Thành Tự Anh - Đi dưới bóng đè của gã khổng lồ

Để gìn giữ độc lập dân tộc, người Việt Nam sẽ phải
tìm cách giữ thăng bằng trên một lằn ranh mong manh, dưới
bóng đè của người láng giềng khổng lồ đầy mưu tính.
<div class="boxright320"><img
src="http://www.thesaigontimes.vn/Uploads/Articles/116689/10410_thep.jpg"
/><div class="textholder">Sắt thép là một trong 10 nhóm hàng Việt
Nam nhập khẩu lớn từ Trung Quốc. Ảnh: TL.</div></div>

Trong bối cảnh căng thẳng trên biển Đông ngày một gia tăng,
nhiều người đã đề cập tới nguy cơ Trung Quốc cấm vận
kinh tế đối với Việt Nam. Thậm chí, một số người còn cho
rằng việc Việt Nam chần chừ, chưa khởi kiện Trung Quốc ra
tòa án quốc tế là do e ngại nguy cơ bị Trung Quốc cấm vận.

Trong bài viết này, chúng tôi chủ yếu tập trung phân tích quan
hệ thương mại - vốn là lĩnh vực quan hệ kinh tế quan trọng
nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc, qua đó chỉ ra rằng mặc dù
việc cấm vận kinh tế của Trung Quốc (nếu có) có thể gây ra
những tác động tiêu cực trong ngắn hạn, nhưng trong trung và
dài hạn, Việt Nam sẽ có động cơ mạnh mẽ để vừa tăng
cường nội lực vừa đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế,
nhờ đó giảm sự phụ thuộc kinh tế đối với Trung Quốc.

Bên cạnh đó, bài viết cũng sẽ thảo luận ngắn gọn về
mối quan hệ chính trị giữa hai quốc gia.

<center><img src="https://www.danluan.org/files/u1/sub03/2395c_2_405.jpg"
width="405" height="174" alt="2395c_2_405.jpg" /></center>
<h2>Quan hệ chính trị</h2>

Ngoại trừ sự gián đoạn từ năm 1979 đến 1989, đảng - nhà
nước Việt Nam và Trung Quốc đã duy trì quan hệ trong nhiều
thập kỷ. Tuy nhiên, mối quan hệ này luôn ở trong tình trạng
bất cân xứng. Sự trịch thượng của Trung Quốc luôn xuyên
suốt, thể hiện qua sự can thiệp sâu và thô bạo vào chính
sự của Việt Nam - không chỉ về chính sách, mà còn về cả
nhân sự và ngoại giao.

Mới đây thôi, <em>Thời báo Hoàn cầu </em>của Trung Quốc mô
tả chuyến đi của ông Dương Khiết Trì, Ủy viên Quốc vụ
viện Trung Quốc, sang Việt Nam không chỉ như sự dạy dỗ của
một ông giáo kiên nhẫn đối với gã sinh viên ương ngạnh, mà
còn như người cha nghiêm khắc đối với "đứa con đi hoang"
chưa chịu về nhà. Trong bối cảnh Bắc Kinh luôn nhạy cảm và
sẵn sàng can thiệp vào chính sự của Việt Nam, không rõ liệu
Hà Nội có muốn và có thể đi trước trong cải cách chính
trị hay không.

Mặt khác, dù muốn hay không, dù sớm hay muộn thì thay đổi
chính trị cũng sẽ xảy ra ở Trung Quốc. Những thay đổi căn
bản về kinh tế - xã hội ở Trung Quốc trong hơn ba thập kỷ
qua, đặc biệt là sự mở rộng nhanh chóng của tầng lớp trung
lưu trong khi dân số đang già đi, khiến cho tham nhũng, bất bình
đẳng, ô nhiễm môi trường và sự hà khắc của chính quyền
ngày càng trở nên khó chấp nhận. Rõ ràng là hệ thống chính
trị của Trung Quốc cần trở nên linh hoạt và đáp ứng hơn
trước yêu cầu của người dân. Chiến dịch chống tham nhũng
mạnh mẽ của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, ngay cả khi
xuất phát từ động cơ chân chính, cũng sẽ chỉ là con dao hai
lưỡi nếu không đi đôi với cải cách hệ thống chính trị
vốn là nguồn gốc chính của nạn tham nhũng.

Bất kể kịch bản tự do hóa chính trị ở Trung Quốc xảy ra
như thế nào thì sớm muộn gì Việt Nam cũng sẽ bị ảnh
hưởng. Không những thế, Việt Nam sẽ khó giữ vị thế bảo
thủ hơn Trung Quốc vì ở Việt Nam không có một "vạn lý
trường thành" để ngăn chặn thông tin từ bên ngoài, nhất
là khi Việt Nam có tỷ lệ giới trẻ vào internet thuộc loại
cao nhất thế giới. Như vậy, tự do hóa chính trị ở Việt Nam
gắn liền với Trung Quốc theo cả hai hướng. Thực tế này
cần phải được suy xét thấu đáo trong chiến lược phát
triển của Việt Nam.

Bối cảnh xã hội và chính trị trong nước cũng sẽ ảnh
hưởng đến lập trường của Trung Quốc trong các mối quan hệ
song phương với Việt Nam nói riêng và ở châu Á nói chung. Với
gần 840 triệu dân (chiếm 62% dân số) trong độ tuổi từ 15
đến 54 - những người hoặc đang trong độ tuổi thanh niên
hoặc đã trải qua tuổi thanh niên khi cuộc chiến tranh biên
giới 1979 xảy ra - trong đó nam nhiều hơn nữ tới gần 26
triệu, thì ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa có thể bị thổi
bùng lên bất cứ lúc nào, không chỉ trên các diễn đàn trực
tuyến mà ngay trong chính sách quân sự và đối ngoại của Trung
Quốc. Không chính trị gia Trung Quốc nào muốn bị coi là
"bạc nhược" trong việc bảo vệ "lợi ích sống còn"
của quốc gia, ngay cả khi những lợi ích này không hề có cơ
sở pháp lý quốc tế. Hiểu rõ các động lực xã hội và
chính trị này của các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể giúp
Việt Nam tránh được các cuộc đối đầu đắt giá.

<h2>Quan hệ thương mại</h2>

Quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc
quan trọng hơn đối với Việt Nam. Trung Quốc hiện là nguồn
nhập khẩu lớn nhất và mới đây vượt qua Nhật Bản để
trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam.
Kể từ năm 2000, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
sang Trung Quốc dao động xung quanh mức 10%. Ngược lại, tỷ
trọng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc tăng từ 9% vào năm
2000 lên tới gần 28% vào năm 2013.

Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu từ Trung Quốc sang Việt Nam
chiếm chưa tới 2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc.
Kết quả của quan hệ thương mại không cân xứng này là nếu
như vào năm 2000, Việt Nam còn xuất siêu nhẹ sang Trung Quốc
thì đến năm 2013, nhập siêu từ Trung Quốc đã lên tới gần
24 tỉ đô la Mỹ.

Thoạt nhìn, có vẻ như rất đáng lo ngại khi ngoại trừ sắt
thép, tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc của cả 10 nhóm hàng
nhập khẩu lớn nhất đều tăng rất nhanh trong thập niên vừa
qua (hình 1). Tuy nhiên, ngay cả trong 10 nhóm hàng nhập khẩu lớn
nhất thì mức độ phụ thuộc vào Trung Quốc cũng không đồng
đều (biến thiên từ mức thấp nhất 10,1% đối với chất
thải công nghiệp thực phẩm và thức ăn gia súc đến mức cao
nhất 41,8% của xơ nhân tạo).

Bên cạnh đó, khoảng ba phần tư hàng hóa nhập khẩu vào
Việt Nam có nguồn gốc ngoài Trung Quốc. Tóm lại, sự phụ
thuộc vào nhập khẩu từ Trung Quốc ngày một tăng, và điều
này là đáng lo ngại, song mức độ phụ thuộc không đến nỗi
làm sụp đổ nền sản xuất trong nước khi có biến cố xảy
ra.

<div class="boxright200"><div class="quotebody"><div class="quoteopen"><img
class="quoleft" src="/misc/quoleft.png"/></div>Ở thời điểm này,
Chính phủ Việt Nam cần quan tâm thích đáng đối với các dự
án liên quan đến tài nguyên (khai thác bauxite hay thuê rừng
đầu nguồn), năng lượng, và những ngành có sự tham gia của
nhiều lao động phổ thông Trung Quốc.<img class="quoright"
src="/misc/quoright.png"/> <br class="quoteclear"></div></div>

Liệu xu hướng gia tăng phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ
Trung Quốc có phải là một vấn nạn của Việt Nam? Nó sẽ là
vấn nạn nếu thâm hụt có nguồn gốc từ hoạt động thương
mại "không công bằng" hoặc do chính sách có chủ đích của
Bắc Kinh. Tuy nhiên, có vẻ như với chính sách phá giá đồng
tiền hay trợ cấp sản xuất trong nước, Trung Quốc "không
công bằng" với cả thế giới chứ không riêng gì đối với
Việt Nam. Tất nhiên Việt Nam cũng cần chuẩn bị trước cho
tình huống Trung Quốc chủ tâm thao túng nền công nghiệp và
thương mại của mình để có các đối sách thích hợp.

Cũng cần nói thêm rằng nếu Bắc Kinh thực sự duy lý thì họ
không những sẽ không cấm vận thương mại đối với Việt Nam
mà còn tìm cách thúc đẩy cán cân thương mại nghiêng tiếp
về phía họ càng nhiều càng tốt. Logic này không nhất thiết
áp dụng đối với các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài
hay tín dụng thương mại từ Trung Quốc.

Một vấn nạn tiềm tàng khác là nguồn nhập khẩu tư liệu
sản xuất quan trọng từ Trung Quốc có thể bị cắt đột
ngột khi quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng. Ví dụ
như nếu nguồn nguyên phụ liệu dệt may từ Trung Quốc bị
cắt thì trong ngắn hạn, chắc chắn việc làm và kim ngạch
xuất khẩu trong ngành này sẽ giảm mạnh. Tác động trong trung
và dài hạn sẽ phụ thuộc vào tốc độ và mức độ tìm
được nguồn cung thay thế, cả trong và ngoài nước. Vì Trung
Quốc không phải là nước duy nhất xuất khẩu phụ liệu dệt
may - cụ thể là Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 22% thị trường
bông, 27% thị trường xơ nhân tạo, và 31% thị trường sợi
nhân tạo toàn cầu - cho nên sẽ không quá khó để Việt Nam có
thể tìm nguồn cung thay thế. Hơn nữa, vì khu vực FDI ở Việt
Nam cũng đã bắt đầu bước vào ngành này nên nguồn cung trong
nước sẽ trở nên dồi dào hơn.

Nói tóm lại, mặc dù cần có những biện pháp phòng ngừa cho
tình huống xấu nhất - chẳng hạn như bằng cách bắt đầu
tìm kiếm và thẩm định một số nguồn cung thay thế, song
không nhất thiết phải cắt giảm hay từ bỏ các nguồn cung
từ Trung Quốc nếu chúng rẻ hơn hay chất lượng tốt hơn.
Logic này cũng áp dụng cho các ngành khác như điện tử, da giày
hay xe máy. Cần nói thêm là vì đa số các hoạt động thương
mại này là giữa các công ty tư nhân nên ngay cả khi muốn thì
Bắc Kinh cũng không thể dễ dàng ra lệnh chấm dứt hoàn toàn
hoạt động xuất khẩu, hay ngăn cấm tuyệt đối việc xuất
khẩu qua nước thứ ba.

Khoảng 40% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc
là máy móc và hàng tiêu dùng. Nếu Trung Quốc chủ động giảm
xuất khẩu các hàng hóa này sang Việt Nam thì Việt Nam sẽ luôn
có thể tìm kiếm các nguồn nhập khẩu thay thế hoặc phát
triển năng lực sản xuất nội địa, nhờ đó đa dạng hóa
được nguồn cung, đồng thời giảm tỷ trọng nhập khẩu từ
Trung Quốc.

Cho đến thời điểm này, những phân tích của chúng tôi mới
chỉ nhấn mạnh khía cạnh tiêu cực của sự phụ thuộc
thương mại của Việt Nam vào Trung Quốc. Tuy nhiên, trong thế
giới càng ngày càng toàn cầu hóa, các mối quan hệ thương
mại luôn có tính tương thuộc. Mặc dù tỷ trọng nhập khẩu
của Trung Quốc từ Việt Nam trong năm 2012 chưa tới 1%, nhưng
một số nhóm hàng có tỷ lệ nhập khẩu từ Việt Nam khá
lớn, chẳng hạn như trái cây (16,6%), ngũ cốc (19%), rau củ
quả (21,7%), cà phê, chè, gia vị (37,2%). Điều này có nghĩa là
Trung Quốc cũng sẽ phải trả giá nhất định nếu cấm vận
thương mại đối với Việt Nam.

Không những thế, việc cấm vận thương mại của Trung Quốc
với Việt Nam (nếu có) còn đi ngược lại lợi ích của Trung
Quốc trên hai phương diện quan trọng. Thứ nhất, đứng trước
nguy cơ bị cấm vận, Việt Nam một mặt sẽ phải nỗ lực
tăng cường nội lực, mặt khác tìm cách đa dạng hóa thương
mại và đầu tư, chẳng hạn như thông qua TPP. Kết quả là
Việt Nam sẽ trở nên ít phụ thuộc hơn vào Trung Quốc, điều
mà Trung Quốc không muốn. Thứ hai, các đối tác thương mại
khác của Trung Quốc, nhất là trong khu vực châu Á - Thái Bình
Dương sẽ không thể coi Trung Quốc là đối tác thương mại
đáng tin cậy được nữa, và do vậy cũng sẽ chuyển hướng
thương mại ra khỏi Trung Quốc.

<h2>Tạm kết luận</h2>

Trong những năm tới, Việt Nam không thể tránh được một
thực tại khách quan, đó là người láng giềng phương Bắc sẽ
sớm trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới và tiếp tục
phủ bóng lên nền kinh tế Việt Nam. Đối diện với thực tại
này, thay vì tìm cách hạn chế quan hệ kinh tế giữa hai nước,
một cách khôn ngoan hơn, Việt Nam cần chủ động tăng cường
nội lực, đồng thời đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc
tế. Chiến lược này vốn dĩ đã cần thiết ngay cả khi quan
hệ giữa hai nước "bình thường" thì lại càng thiết yếu
khi quan hệ giữa hai nước trở nên bất thường.

Bài viết này lập luận rằng trên phương diện thương mại
(và tương tự như vậy trên phương diện đầu tư), chính sách
cấm vận của Trung Quốc (nếu có) mặc dù sẽ gây tổn thất
đáng kể cho nền kinh tế Việt Nam, tuy nhiên những tổn thất
này chủ yếu có tính ngắn hạn. Trong trung và dài hạn, sức
ép buộc phải điều chỉnh sẽ đưa nền kinh tế Việt Nam dần
thoát khỏi tình trạng "bóng đè", trở nên độc lập và
bền bỉ hơn trước mọi cú sốc đến từ người láng giềng
phương Bắc.

Nếu tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc tiếp tục bành
trướng, hay Trung Quốc có xu hướng kiểm soát các lĩnh vực
thương mại và đầu tư trọng yếu thì Việt Nam cần triển
khai những đối sách thích hợp. Ở thời điểm này, Chính phủ
Việt Nam cần quan tâm thích đáng đối với các dự án liên
quan đến tài nguyên (khai thác bauxite hay thuê rừng đầu
nguồn), năng lượng, và những ngành có sự tham gia của nhiều
lao động phổ thông Trung Quốc.

Nói tóm lại, về mặt kinh tế, Việt Nam cần tìm cách để
được hưởng lợi từ sự phát triển năng động của Trung
Quốc nhưng đồng thời không bị chi phối bởi quy mô và cự ly
của nó. Về mặt chính trị, Việt Nam một mặt không muốn
Trung Quốc coi mình là mối đe dọa thường trực, nhưng đồng
thời vẫn phải tìm cách duy trì sự độc lập và tự chủ.
Để gìn giữ độc lập dân tộc, người Việt Nam sẽ phải
tìm cách giữ thăng bằng trên một lằn ranh mong manh, dưới
bóng đè của người láng giềng khổng lồ đầy mưu tính.
<center><img src="https://www.danluan.org/files/u1/sub03/ba23e_1_600.jpg"
width="600" height="306" alt="ba23e_1_600.jpg" /></center>


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140626/david-o-dapice-va-vu-thanh-tu-anh-di-duoi-bong-de-cua-ga-khong-lo),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét