Vũ Thư Hiên - Sương xuân và hoa đào

<img src="http://danluan.org/files/u23/31756125.jpg" width="600" height="338"
alt="31756125.jpg" />
<em><div class="rightalign">Ảnh Ngọc Viên Nguyễn</div></em>

Tôi bao giờ cũng hình dung Tết gắn liền với đất Bắc, nơi
đi trước mùa xuân phải có một mùa đông. Mùa đông ở nơi
này mỗi năm mỗi khác, nó có thể lạnh nhiều hay lạnh ít,
độ ẩm có thể cao hay thấp, nhưng nhất thiết không thể
không có gió bấc và mưa phùn. Không khí se lạnh làm cho con
người phải co ro một chút, rùng mình một chút, chính là sự
chuẩn bị không thể nào thiếu được để cho ta bước vào
một cái mốc thời gian mới đối với mỗi người mỗi nhà.
Thành thử ở Sài Gòn trùng vào những dịp xuân sang tôi vẫn
không thấy lòng mình rung động cảm giác về cái Tết ruột
rà, cái Tết đích thực. Xin các bạn Sài Gòn tha lỗi cho tôi
nếu trong những lời của tôi có gì làm các bạn phật ý,
nhưng mãi tới nay, sau nhiều Tết Sài Gòn, tôi vẫn chưa quen
được với một ngày đầu năm phải phơi đầu dưới cái
nắng chói chang và trầm mình trong cái nóng hầm hập, làm cho
con người phải tìm đến với trái dưa hấu mọng nước
trước khi ngồi vào mâm cỗ Tết có đủ thịt mỡ và dưa
hành, bánh chưng và giò thủ. Ở mỗi nhà vẫn nghi ngút trầm
hương thật đấy, ngoài đường xác pháo toàn hồng vẫn tràn
ngập lối đi thật đấy, nhưng cái Tết dường như vẫn còn
lạc bước nẻo nào, nó chưa hẳn là Tết, chưa đủ là Tết.
Đành phải viện hai câu thơ mà nhiều người vốn không yêu
thơ cũng thuộc, để giải thích nỗi nhớ về đất Bắc, để
biện hộ cho cái cảm xúc không phải đạo của mình trước
đất Sài Gòn cũng đã trở thành không kém thân thương:

<em><center>Tự thuở mang gươm đi mở cõi,
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.</center></em>

<center>(Huỳnh Văn Nghệ)</center>

Chuyện đó chẳng có gì lạ. Người Việt phương Nam nào mà
chẳng có một cái quê còn nhớ hay đã quên, có biết hay không
biết, nằm ở phía ngoài kia.

Người xông nhà chúng tôi rất sớm, khi còn tối đất, sáng
mồng Một năm Đinh Tỵ (1977), là nhà văn Nguyễn Tuân.

Người xông nhà, theo sự mê tín từ xưa, là một nhân vật
rất quan trọng đối với vận mệnh gia chủ. Tùy theo người
xông nhà là ai, năm đó ngôi nhà sẽ có nhiều may mắn hoặc xui
xẻo. Những người cẩn thận thường phải tính chuyện mời ai
đến xông nhà mình từ lâu trước khi Tết đến. Người xông
nhà nhất thiết phải là người đang làm ăn phát đạt, con
cháu đầy đàn mà hòa thuận, hoặc một bậc lão niên tài cao
đức trọng, chuyện này còn tùy thuộc ở kỳ vọng của gia
chủ mong muốn điều gì.

Bác Nguyễn, nổi tiếng về tính kỳ quặc của mình, chắc hẳn
chọn nhà tôi để đến xông đất đầu năm vì biết chắc
chúng tôi không kiêng kỵ, nếu năm đó có chuyện gì không hay
xảy đến cho chúng tôi thì ông cũng không bị trách. Kể ra
được (hay bị) một nhà văn đến xông nhà thì, theo lệ
thường, chẳng hay ho gì. Xét về danh giá, theo truyền thống
hiếu học và trọng kẻ sĩ của đất Bắc, nhà văn hẳn là
bậc đáng trọng rồi. Nhưng xét về mặt tài lộc thì bất kỳ
nhà văn nào cũng nằm ở hạng bét trong thứ bậc giàu nghèo.
Tất nhiên, không kể những quan chức bổng nhiều lộc lắm,
lại rảnh việc, cũng rửng mỡ xông vào làng văn mà viết sách
in thơ.

Bố tôi rất quý Nguyễn Tuân. Ông coi Nguyễn Tuân hơn là một
người bạn thời thanh niên. Trong cái nhìn của ông, Nguyễn
Tuân là một trong những đại diện cuối cùng cho lớp kẻ sĩ
Bắc hà mỗi ngày một hiếm, những người cho tới lúc ấy còn
biết coi tiền bạc như của phù vân, không cúi đầu vâng dạ
trước quyền lực. Riêng đặc điểm sau Nguyễn Tuân phủ
nhận. Ông luôn phô rằng mình biết sợ, hơn thế, chẳng những
ông sợ vừa mà còn sợ lắm lắm. Cái sự phô ấy làm cho
người ta lầm tưởng rằng ông không sợ.

Ông đến xông nhà chúng tôi trong chiếc áo choàng màu cứt
ngựa. Bỏ nó ra, bên trong vẫn là bộ áo cánh đen thường
nhật. Trời rét ngọt, ông mặc thêm áo len và quàng khăn, đội
mũ bê-rê. Bộ áo cánh đen là cách diện của ông, của Nguyễn
Tuân, bao giờ cũng phải khác người. Tôi mở cửa đón ông,
hơi ngỡ ngàng một chút. Tôi không chờ đợi một người xông
nhà không phải người trong gia tộc, những năm ấy người
ngoài ít dám tới nhà chúng tôi lắm. Lại càng không chờ đợi
Nguyễn Tuân với sự sợ hãi của ông. Nhưng không ai đi hỏi
người đến xông nhà rằng tại sao ông đến. Với bất cứ
người xông nhà nào ta chỉ có thể vồn vã chào đón và đem
bánh pháo đầu tiên của ngày mồng Một ra đốt. Nguyễn Tuân
đoán ra câu hỏi câm lặng của tôi. Ông ý nhị nói:

- Nói thực, mình đến đây sớm vì chẳng biết đi đâu. Mà
lại rất thèm đi dạo một lúc trước khi bình minh ló rạng
trong cái ngày đầu năm này. Lang thang mãi rồi mình thấy mình
đến đây. Không sao chứ?

Bố tôi nghe léo xéo bước ra, tươi cười ôm lấy bạn dìu vào
nhà. Ông sai tôi rót rượu, châm hỏa lò than để nướng mấy
con mực. Bố tôi biết Nguyễn Tuân không ưa đồ ngọt, khay
mứt trên bàn chắc chắn sẽ không được ông đụng đến. Ông
ngồi xuống chiếu, xếp bằng tròn, giơ đôi tay cóng sưởi
trên hỏa lò. Lửa than làm vầng trán hói của ông bóng lên
trong căn phòng nhỏ của bố tôi. Bố tôi thường tiếp bạn
thân trong căn phòng ấy chứ không phải ngoài phòng khách. Hai
người bạn già thân tình nhìn vào mắt nhau, chạm ly trong im
lặng. Cả Nguyễn Tuân, cả bố tôi đều không thích những
lời ồn ào.

- Ngon tuyệt - NguyễnTuân nhắp vài nhắp rượu trong vắt với
vẻ thích thú rồi ngửa cổ cạn ly.

- Làng Vân chính hiệu đấy!

Bố tôi nói, nét hài lòng hiện lên mặt. Ông thích được
chiều bạn và khi bạn vui, ông còn sướng hơn chính ông được
vui.

- Tuyệt!

- Mình phải đặt loại đặc biệt cho cái Tết đoàn viên này.

Đúng vậy, đây là cái Tết đầu tiên gia đình tôi đủ mặt.
Không thiếu ai. Những Tết trước gia đình tôi tan tác. Tôi ở
trong tù. Cha tôi bị lưu đầy ở Nam Định.

- Hơn hẳn anh Trương Xá. Vào đến cổ họng là biết ngay! -
Nguyễn Tuân xác nhận.

Phận con cháu, tôi được phép ngồi bên cạnh các cụ làm chân
điếu đóm. Tôi thích nghe bác Nguyễn nói chuyện. Trong câu
chuyện của ông bao giờ cũng có một cái gì mới, một cái gì
ngồ ngộ, độc đáo mà không người nào khác có. Về đời
sống cũng như trong văn chương, ông là người uyên bác.

Tính về họ hàng theo đàng mẹ, tôi phải gọi ông bằng bác.
Nhưng ông rỉ tai tôi, một lần ở chỗ đông người: "Họ xa
rồi, cùng cánh văn chương với nhau, gọi thế nó mất đi cái
sự bình đẳng, gia trưởng lắm". Tuy miệng vâng dạ, tôi vẫn
kính cẩn gọi bác xưng cháu với ông. Mẹ tôi là người nghiêm
khắc trong chuyện xưng hô lắm.

Chuyện vãn một lát, lại chuyện làng văn làng họa, ai mới
viết cái gì hay, bức hoạ cuối cùng của ai độc đáo, là
đề tài yêu thích của ông, Nguyễn Tuân hỉ hả ra về. Ông
nói ông còn phải đến chơi với Văn Cao (<em>"bà Băng bà ấy
kiêng. Mình phải đến muộn muộn một tý!"</em>), đến Nguyễn
Sáng (<em>"Tết nhất mà nó có một mình, buồn muốn
chết!"</em>)

Ra khỏi cổng, Nguyễn Tuân dừng lại hồi lâu trên hè, nhìn
phố Hai Bà Trưng thưa thớt người đi lại vào sáng sớm tinh
sương, ông nghiêng đầu nói khẽ với tôi:

- Anh có thấy Hà Nội buổi sáng mồng Một này thiếu cái gì
không?

Tôi không cần động não để tìm câu trả lời. Câu hỏi
được đặt ra chỉ là cái cớ cho câu trả lời đã có sẵn,
chắc chắn là sẽ rất Nguyễn Tuân.

- Thiếu sương! - Nguyễn Tuân, mắt vẫn nhìn chung quanh, thở
dài.- Anh không nhận ra cái sự thiếu ấy, tôi không trách. Anh
còn quá trẻ. Ngày trước, sáng mồng Một bao giờ cũng có
sương nhè nhẹ, không nhiều, một chút gọi là có, nhưng đích
thực là sương. Nó bay là là, thoang thoảng, như có mà như
không. Rét ngọt. Chỉ có trên các lá cây mới có sương hiển
hiện, lâu lâu đọng thành giọt, rơi xuống mặt mình, có khi
lọt cả vào cổ áo mình, rất là Tết. Đã mấy năm nay, vào
ngày Tết mình cứ thấy thiếu thiếu cái gì đó mà không biết
là cái gì. Bây giờ mới hiểu ra: đúng là thiếu nó, thiếu
sương.

Tôi bàng hoàng trước nhận xét của ông. Tôi nhớ đến những
năm xa xưa khi tôi còn rất nhỏ. Đúng là Hà Nội những ngày
đầu năm ấy sương la đà trên mặt đường, lẩn khuất trong
những bãi cỏ, bụi cây.

- Thưa bác, có lẽ tại Hà Nội đông dân thêm, nhiều nhà máy
nhiều xe cộ, thành thử cái tiểu khí hậu địa phương thay
đổi, nhiệt độ do đó mà cao hơn trước!

- Đốt anh đi! Các anh bây giờ, đụng đến cái gì cũng vội
vã chỉ ra nguyên nhân rồi dài dòng giải thích, cứ như chung
quanh mình toàn một lũ thất học vậy. Các anh làm văn kia mà -
không nhìn tôi, ông nhăn mặt cằn nhằn - Tôi là tôi đang nói
cái có, tôi nói cái hiện hữu, nói cái cảm xúc mà cái hiện
hữu ấy gây ra. Còn cái chuyện đi tìm cội nguồn của hiện
tượng là việc của người khác.

- Thế là mất đứt cái anh sương xuân bảng lảng. Tiếc quá
đi mất! - Nguyễn Tuân lại thở dài. Ông buồn thật sự -
Thiếu nó, Tết Việt Nam nghèo đi, mà không chỉ nghèo đi một
chút đâu nhá, anh hiểu không? Đành vậy, sang năm phải tìm
cách đón giao thừa ở ngoại thành, may chăng còn có thể gặp
lại nó.

Rồi đột ngột ông quay sang chuyện khác:

- Này, năm nay giáp Tết mưa thuận gió hòa, hoa đẹp lắm. Sao
mấy hôm rồi không thấy anh đi chợ hoa?

Đã thành cái lệ, năm nào bố tôi và Nguyễn Tuân cũng rủ nhau
đi thưởng hoa ở Cống Chéo Hàng Lược. Có những buổi hai ông
la đà từ trưa tới tối mịt mới về đến nhà.

- Thưa bác, mấy hôm rồi cháu lại mắc bận.

Tôi nói dối. Thực ra tôi không đi vì tôi không thích chợ hoa.
Cái mẩu phố hẹp có tên là Cống Chéo Hàng Lược ngày
thường đầy rác rưởi trong những ngày giáp Tết bỗng trở
nên nhộn nhịp khác thường. Trên là trời, dưới là hoa. Và
người đi xem hoa, mua hoa. Những cây quất trĩu quả vàng chen
lẫn với các cành đào được cầm trên tay, các sọt đan
đựng đủ mọi loại cúc, loại hồng, lay-ơn, thược dược...
Ở đây ồn ào quá, nhiều trai thanh gái lịch quá. Nhiều gương
mặt hãnh tiến quá. Tôi còn sợ nhìn cái cảnh chợ chiều ba
mươi Tết, khi những người bán hoa co ro trong manh áo mỏng,
cành đào trong tay, mặt ngơ ngác, lo âu chờ khách. Trong cái
bầu không khí vui vẻ quá nhân tạo ấy, bông hoa nào, cành hoa
nào, chậu hoa nào cũng có vẻ tội nghiệp bởi cái thân phận
hàng hóa của chúng.

- Đào năm nay được mùa. Chợ nhan nhản những đào là đào,
giá lại hạ, nhà nghèo nhất năm nay cũng có đào Tết. Thế mà
đố có tìm ở Cống Chéo Hàng Lược được một cành nào như
cành đào của bố anh. Tuyệt! Không chê vào đâu được. Năm
nào cành đào của ông ấy cũng làm tôi mê man, cũng làm tôi
sửng sốt: <em>"Thằng cha giỏi thật, sao mà nó khéo chọn đào
đến thế!"</em> Thôi, tôi về. Còn phải đến mấy nhà nữa,
mà mình thì thích cuốc bộ. Hôm nay tôi đến là để chúc
mừng gia đình anh đoàn tụ. Mai có khi tôi còn đến đây nữa.
Để ngắm cành đào của bố anh.

Ngày hôm sau ông lại đến thật. Và đúng là chỉ để ngắm
có một cành đào mà thôi.

Bố tôi không phải là nghệ sĩ. Ông, nói của đáng tội, đã
từng là nhà báo. Mặc dầu cũng động tới chữ nghĩa, nhưng
nhà báo vẫn có cái gì nó khác với nhà văn (tất nhiên không
kể những người có hai nghề nhập một). Nhà báo không có
tính lập dị thường gặp ở các nhà văn và các văn nghệ sĩ,
hay là tính cách kỳ quặc nào đó ở họ mà người đời quy
cho là lập dị. Có điều, như một người thuộc lớp nho sĩ
cuối cùng còn rớt lại, mặc dầu có Tây học, ông thích cuộc
sống thanh đạm và rất yêu hoa. Trong nhà tôi, kể cả những
lúc khó khăn nhất, bao giờ cũng có hoa. Trước khi ông đi tù
ở nhà tôi là một vườn phong lan đủ loại, nổi tiếng trong
những vườn phong lan ở Hà Nội.

Tết nào ông cũng cầu kỳ chơi hai thứ hoa: thuỷ tiên và và
đào.
<div class="boxright200"><img
src="http://danluan.org/files/u23/small_hoathuytien42.jpg" /></div>

Thủy tiên là thứ hoa không bình dân. Nó không thèm nở nếu
chẳng may rơi vào tay người không biết thưởng thức. Để cho
thủy tiên nở, phải biết nghệ thuật trổ thủy tiên. Con dao
dùng để trổ thủy tiên không phải là con dao bài bất kỳ, mà
là một con dao dùng riêng cho nó. Bố tôi mua củ thủy tiên về,
giá rất đắt, hình như là phải nhập khẩu chứ nước ta
thời ấy chưa có cơ sở gây trồng. Thuỷ tiên có bề ngoài
giống một củ hành tây lớn, rất tầm thường, chẳng hứa
hẹn một hương sắc nào. Chuẩn bị cho việc gọt thủy tiên,
bố tôi hì hục mài dao cho tới khi nó bén đến mức đặt sợi
tóc lên lưỡi dao mà thổi phù một cái thì sợi tóc lập tức
bị đứt đôi, và đầu nhọn của nó thì chỉ vô ý chạm ngón
tay vào là máu ứa ra liền. Rồi ông còn phải ngắm nghía hồi
lâu cái củ hành nọ, cho tới khi quyết định đặt nhát cắt
đầu tiên lên mình nó. Những nhát cắt, nhát trổ chính xác
được ông cân nhắc từng tý, cho tới khi hài lòng đặt nó
vào cái bát thủy tinh, cũng lại thứ dành riêng cho nó.

Mẹ tôi chăm chú theo dõi bàn tay khéo léo của bố tôi xoay quanh
củ thủy tiên. Bà cũng là người khéo tay, nhưng khéo tay ở
những việc khác, chứ trổ thủy tiên thì bà chịu. Những Tết
bố tôi vắng nhà, trên bàn thờ ông bà ông vải chỉ có hoa
huệ, thủy tiên thì hoàn toàn vắng bóng. Hoa thủy tiên bắt
đầu trổ những cánh xanh mập mạp cũng chẳng khác lá hành là
mấy, nhưng chúng nhỏ nhắn, ngắn và không vươn quá thành bát
đựng. Người gọt khéo có thể chỉ định đúng ngày hoa nở,
khéo hơn nữa có thể đúng đến cả giờ.

Thuỷ tiên do bố tôi gọt bao giờ cũng nở hết số hoa nó
chứa trong mình vào đúng giao thừa, chính xác vào cái giờ
khắc thiêng liêng nhất của sự giao hòa giữa người thuộc
cõi âm và người thuộc cõi dương, giữa tổ tiên và con cháu.
Bố tôi đứng lặng trước ban thờ ông bà, đầu hơi cúi. Mẹ
tôi đứng sau ông thì thầm khấn vái. Hương trầm ngát trong
nhà. Rồi pháo của một nhà nào đó nổ vang, kéo theo sau nó
cả một đợt sóng triều tiếng pháo râm ran.

Tôi không bao giờ thấy được hương thủy tiên vào lúc thủy
tiên nở hết hoa của nó trong hương trầm và khói pháo. Sáng
sớm mồng Một, rất sớm, khi trời đất đã lặng đi mọi
tiếng động của sự đón Xuân, lúc ấy mới thấy được
hương thủy tiên thoang thoảng. Đó là một hương thầm ẩn
náu, thoang thoảng mà kiêu sa. Nó không để lại trong tôi một
ấn tượng rõ rệt nào. Tôi cũng không cảm nhận được cái
đẹp của hoa thủy tiên. Mà cũng có thể đó là do ảnh hưởng
câu chuyện chàng Narkisoss trong thần thoại Hy Lạp mải mê ngắm
sắc đẹp của chính mình trong nước suối, mải mê đến nỗi
ngã xuống mà chết đuối, trở thành loài hoa nọ. Tôi không
thích những người say mê chính mình.

Sau khi bố tôi qua đời, chẳng bao giờ trong nhà tôi còn có hoa
thủy tiên nữa. Nhưng hoa đào thì không bao giờ vắng bóng trong
những ngày Tết gia đình, với cách thưởng thức truyền thống
mà những thế hệ đi trước để lại.

Trước Tết một tháng, bố tôi, thường có tôi đi theo, đạp
xe lên vùng Quảng Bá, Nhật Tân, Nghi Tàm, nơi có những nhà
trồng hoa cha truyền con nối. Cùng với một chủ vườn nào đó
đã trở thành người quen, bố tôi đi thăm vườn và xem xét
kỹ từng gốc đào để rồi cuối cùng chọn lấy một cành
thấp, ưng ý nhất. Tiền đặt mua cành đào được trao ngay cho
chủ vườn. Giá thường rất rẻ, lúc ấy chưa có ai mua đào.
Ông chủ vườn rút con dao nhíp trong túi ra, đánh dấu cành đào
dành cho bố tôi. Chắc chắn nó sẽ không bị bán vào tay ai
khác. Bố con tôi hài lòng ra về. Tôi biết, trong óc bố tôi
đã hiện lên cành đào trong tương lai sẽ được đặt ở
đâu, trong cái bình nào ở nhà mình trong ngày Tết.

Khoảng hai bảy, hai tám tháng Chạp, bố tôi mới lên vườn
nhận cành đào về. Ông chủ vườn trao cành đào cho bố tôi
với vẻ tiếc rẻ, không ngớt lời khen bố tôi có con mắt tinh
đời. Nhưng đó là cách đánh giá của hai người biết chơi hoa
với nhau. Người thường sẽ không mua cành đào này. Nó xù xì
ở phần gốc, có mấy cành đua dài và gân guốc, trên đó chỉ
thấp thoáng một số nụ.

Sau đó là phần sửa soạn cho cái đẹp của cành đào. Bố tôi
còn ngắm nó chán chê rồi mới lấy dao cắt bỏ một số cành
con, đem thui phần gốc, rồi trịnh trọng đặt cành đào vào
trong lọ độc bình. Đó là một cái lọ lớn, thường là lọ
sành, nhưng phải thấp, miệng rộng, rất bình dị, đến nỗi
khi cành đào đã ngự trong đó thì không còn nhìn thấy cái lọ
đâu nữa. Cành đào được đặt trong góc nhà. Những cành đua
của nó hướng về phía cửa, khách vào có thể nhìn thấy
những cánh tay của nó vươn ra chào đón.

Cũng như thủy tiên, cành đào sẽ nở rộ vào đêm trừ tịch.

- Chơi hoa là cách con người tìm niềm vui, tìm tâm trạng thư
thái trong mối giao hòa với thiên nhiên - bố tôi tâm sự
trước cành đào

- Người ta chỉ có thể đón thiên nhiên vào nhà mình, chứ
không thể mua thiên nhiên đem về hoặc tệ hơn, áp giải nó
về với mình. Vì vậy mà cái bình phải khiêm tốn để tôn
vẻ đẹp của cành đào, của mùa xuân. Cành đào đẹp trước
hết là ở cái dáng, cái thế của nó: phần gốc xù xì cho ta
cảm giác về sự vững bền của nền tảng, những cành đua
không nên nhiều quá để tạo ra cảm xúc thanh thoáng, khoáng
đạt.

Bố tôi không thích đào rực rỡ quá, khoe khoang quá, hợm hĩnh
quá.

- Đào như thế này đẹp hơn nhiều, cánh của nó chỉ phơn
phớt một màu hồng nhạt, vừa có duyên, vừa thầm kín. - bố
tôi dạy - Người Nhật thích màu hồng của hoa sakura - anh đào,
có dễ cũng vì lẽ đó. Tín đồ của Thần đạo không chịu
nổi những hương sắc quá thế tục. Thêm nữa: trên cành đào
Tết không nên có quá nhiều hoa. Lá xanh bên cạnh hoa làm tăng
vẻ đẹp của hoa lên. Tất nhiên, mỗi người một ý, nhưng
ông nội con và bố đều không ưa những cành đào đầy ắp
hoa, cành nào cành ấy đều đặn, trông xa như một cái nơm.
Đã thế có người lại còn cắm cái nơm đào ấy vào cái lọ
độc bình cổ cao, bằng sứ, với đủ mọi hình vẽ cầu kỳ
sặc sỡ, rồi đặt nó ngất nghểu trên bàn thờ ông vải nữa
chứ. Không, chỗ của đào không phải ở đó. Bố thích đặt
nó ở đây dưới đất, ngang tầm với mình.

Tôi kể cho Nguyễn Tuân nghe cách bố tôi nhìn vẻ đẹp của
cành đào. Ông tủm tỉm cười:

- Về đại thể, bố anh đúng. Nhưng ông ấy cũng có mắc một
chút bệnh giải thích. Cái đẹp, theo tôi, là cái không giải
thích được. Chỉ có thể cảm nhận được nó mà thôi. Bố
anh cũng chẳng giải thích nổi tại sao ông đã cắt đi một
cành con này mà không phải một cành con khác, tại sao ông giữ
cành đua này mà lại bỏ cành đua kia, cái cành được để
lại ấy gợi nên trong lòng ông cảm xúc gì. Còn về phần màu
xanh của lá trên cành đào thì ông ấy đúng hoàn toàn. Hay gì
một cành đào chi chít hoa? Nó làm ta phát ngán. Mùa xuân thì
phải có màu xanh của lá, của sự đâm chồi nảy lộc, mới
là xuân!

Bây giờ, cả bác Nguyễn Tuân, cả bố tôi, đều đã khuất
núi.

Chỉ còn lại cái đẹp của hoa xuân mà hai ông tâm đắc ở
trong tôi. Và nỗi bùi ngùi mỗi lần Xuân đến.

24/12/2002

<strong>Vũ Thư Hiên</strong>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20140104/vu-thu-hien-suong-xuan-va-hoa-dao),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét