<center><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhxSCvOIMIPLOlHQ27wUQequxErg0C0mRs_AjE0cqeqqnvUm5uQi_4uQNjLuxHGXuISaxduAso3OTL-EcKCiAJz_MFL8fPbG69jRKznzP2lqZ2scK6fBgXx73aKWZ5I-E2QQWamqEfILAY/s320/duong_kmenh.jpg"
width="320"></center>
Nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh là một người
viết nhiều tác phẩm. Đầu năm 1980, nhà xuất bản Sự Thật
ở Hà Nội đã bắt đầu xuất bản 10 tập trong bộ sách nhan
đề "<i >Hồ Chí Minh Toàn Tập</i>", tổng cộng hơn 4000
trang. Theo những nguồn tin thông thạo ở Việt Nam ước tính
vẫn có thêm vài ngàn trang thuộc các bài viết và diễn văn
của ông vẫn chưa được in ấn. Một số mới được phát
hiện gần đây, trong khi một số khác thì bị giữ lại bởi
lí do nhạy cảm chính trị hoặc không chắc chắn liệu Hồ
Chí Minh có phải là tác giả thực sự hay không. <sup>1</sup>
Tuy vậy, Hồ Chí Minh hiếm khi viết về những vấn đề mang
tính hệ tư tưởng. Không giống như những ngôi sao sáng cách
mạng khác như Lê Nin và Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh không
được biết đến như là một nhà thông giải về học thuyết
Mác. Không hề có cái thứ như là "Tư tưởng Hồ Chí Minh",
và đại đa số những bài viết và diễn văn của ông mang
hình thức những báo cáo chính trị đến Đảng hay những cơ
quan chính phủ hoặc là bài viết cổ vũ những người đi theo
mình. Do đó, Hồ Chí Minh thường bị đánh giá thấp như
chỉ là một nhà thực hành cách mạng hơn là một nhân
vật gieo giống tầm quan trọng về lý thuyết trong lịch
sử tư tưởng cách mạng.
Một trong số ít những bài viết của Hồ Chí Minh cố gắng
diễn giải chủ nghĩa Mác hoặc áp dụng nó vào bối cảnh
Việt Nam là cuốn sách nhỏ nhan đề Đường Kách Mệnh (Con
đường đến cách mạng), được Hồ Chí Minh viết khoảng năm
1926 hoặc đầu năm 1927 trong khi đang phục vụ trong ban tham mưu
của phái bộ được gửi tới chính quyền Quốc Dân Đảng
tại Quảng Châu Michael Borodin thuộc Phòng Thông Tin Quốc Tế
Cộng Sản (Comintern). Cùng thời gian đó, Hồ Chí Minh đồng
thời bắt tay xây dựng tổ chức cách mạng Mác-xít đầu tiên
xưng danh ở Việt Nam, <i >Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng
Chí Hội</i>.<sup>2</sup>
Là một chỉ dấu về sự hiểu biết của Hồ Chí Minh đối
với chủ nghĩa Mác-Lê và làm thế nào để áp dụng nó trong
bối cảnh Việt Nam, Đường Kách Mệnh để lại nhiều điều
chưa thoả. Đó là một tác phẩm ngắn gọn một cách trêu
ngươi, được viết với phong cách đơn giản, phần giới
thiệu của tác phẩm về các vấn đề học thuyết rất khát
quát và thường sơ khai. Tuy thế, nó vẫn có phần nào giá trị
trong việc cho thấy định hướng tư tưởng của Hồ ở giai
đoạn này trong cuộc đời của ông. Quan trọng hơn, có lẽ,
đó là tác phẩm đầu tiên mang tính chất hệ tư tưởng trong
lịch sử phong trào Cộng Sản Việt Nam, phục vụ cho việc
giới thiệu tư tưởng và thực hành chủ nghĩa Mác-Lê cho thế
hệ đầu tiên của các nhà cách mạng Việt Nam. Trong ý nghĩa
này, đây là một tài liệu có tầm quan trọng sinh tử cho sự
hiểu biết của chúng ta về những điều kiện trí tuệ quanh
sự ra đời của phong trào Cộng Sản ở Việt Nam.
<h2>Bối Cảnh</h2>
Hồ Chí Minh, khi ấy sống với bí danh cách mạng là Nguyễn
Ái Quốc, đã đến Quảng Châu vào tháng 12 năm 1924, sau hơn
một năm ở Matxcơva, nơi ông đã làm việc ở Trụ sở chính
Quốc tế Cộng Sản, và dường như đã theo học một thời
ngắn ở Đại học Lao Động Cộng Sản Phương Đông (thường
được biết đến như là Trường Stalin). Hồ Chí Minh đã trở
thành một trong những thành viên sáng lập của Đảng Cộng
Sản Pháp (FCP) trong khi đang sống ở Paris ngay sau Chiến tranh
thế giới thứ nhất và được Dmitri Manuilsky một viên chức
Quốc tế Cộng Sản mời tập huấn ở Matxcơva vào mùa hè năm
1923.<sup>3</sup>
Hồ Chí Minh chắc chắn đã được tiếp cận với một liều
lượng phong phú về các ý tưởng chủ nghĩa Mác-Lê trong suốt
năm ở Matxcơva. Nhưng rõ ràng từ bằng chứng hiện có, trước
khi bước vào tuổi 40, Hồ Chí Minh đã nhận thức trước một
số ý niệm về bản chất của thế giới quanh ông. Đầu tiên
và trên hết, như nhiều trí thức Việt Nam cùng thế hệ, ông
là một nhà yêu nước, như biệt danh mà ông đã chọn trong khi
đang sống ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc hay Nguyễn Nhà Yêu Nước.
Việc kiếm tìm phương tiện giành lại sự độc lập cho dân
tộc Việt Nam đã khởi đầu dẫn ông đến chủ nghĩa Mác.
Như chính ông đã thừa nhận, lần đầu tiên khi đọc "<i
>Luận Cương Về Những </i><em><i >Vấn Đề Quốc Gia Và Thuộc
Địa</i></em>" nổi tiếng của Lê Nin ông đã đã bị chủ
nghĩa Mác-Lê thu hút, tác phẩm được giới thiệu cho các đại
biểu ở Đại hội Quốc tế Cộng Sản lần thứ 2 vào mùa hè
năm 1920. Mặc dù, có lẽ Hồ Chí Minh đã làm quen với tư
tưởng chủ nghĩa Mác khi còn đang sống ở Anh trong suốt chiến
tranh thế giới thứ nhất, chính những luận cương của Lê Nin,
hứa hẹn sự hỗ trợ của Liên Xô cho sự giải phóng của các
xã hội bị áp bức khỏi sự thống trị thực dân Châu Âu,
đã cung cấp động lực biến cải ông trở thành một thành
viên sáng lập của Đảng Cộng Sản Pháp cuối năm đó.
Động thái của Lê Nin đối với tình tự dân tộc chủ
nghĩa, tất nhiên, là một biện pháp tinh vi, vì nhà lãnh đạo
Bôn-sê-vic đã trở nên rất nhạy cảm trước sức mạnh của
tình tự sắc tộc và dân tộc trong những vùng thuộc địa và
nửa thuộc địa của Châu Á và Châu Phi và hy vọng đưa họ
vào để sử dụng trong cuộc đấu tranh của chính phủ riêng
ông chống lại chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Tuy nhiên, bất kể
Lê Nin có những quan điểm riêng nào, nhiều cộng sự của ông,
cũng như các thành viên của các Đảng Cộng Sản trẻ tuổi ở
châu Âu, vẫn chưa chú ý đầy đủ đến đề xuất này. Trong
những năm tháng đi theo Đại hội Quốc tế Cộng Sản lần
thứ 2, Hồ Chí Minh thường chỉ trích Đảng Cộng Sản Pháp
(FCP) và ngay cả Quốc tế Cộng Sản thiếu sự quan tâm đầy
đủ đến sự giải phóng của các thuộc địa thoát khỏi sự
bóc lột chủ nghĩa đế quốc.<sup>4</sup>
Hồ Chí Minh cũng tách lìa khỏi những hiểu biết đã thu
nhận được ở Maxcơva trong sự khẳng định của ông về tầm
quan trọng của vấn đề đất đai trong tiến trình cách mạng
ở các xã hội châu Á. Là con trai của một viên chức Nho giáo
người đã từng từ bỏ chức vụ của mình trong cuộc đấu
tranh chống lại sự chiếm đóng của Pháp đối với Việt Nam,
dành phần lớn tuổi thơ ở một làng quê nghèo ở miền Trung
Việt Nam nên ông hiểu rõ một cách trực tiếp những vấn đề
của người nông dân ở các xã hội thuộc địa châu Á. Năm
1908, trong khi đang học ở trường Quốc Học Huế, ông đã tham
gia vào những cuộc buổi tình của người nông dân trong vùng,
những cuộc biểu tình bị đàn áp đẫm máu bởi chế độ
thực dân Pháp. Trong một số bài báo được viết ở Pháp vào
đầu thập niên 1920, ông thường đề cập bóng gió đến tình
trạng bị xuống cấp của quần chúng nông thôn trong những
vùng thuộc địa, trong khi chấp nhận vai trò lãnh đạo của
giai cấp công nhân và hàm ý rằng những người nông dân có
thể là những đồng minh trung thành của giai cấp vô sản trong
cuộc đấu tranh chống lại sự thống trị đế quốc. Sau khi
đến Matxcơva, ông trở thành một thành viên tích cực của
Hội Nông Dân Quốc Tế (Krestintern) và nói lên những tình cảnh
của người nông dân ở các xã hội thuộc địa tại một
đại hội được tổ chức vào tháng 10 năm 1923. Trong một báo
cáo về những vấn đề dân tộc và thuộc địa trình cho đại
hội Quốc tế Cộng Sản lần thứ 5 năm 1924, Hồ chủ trương
rằng nông dân ở các nước thuộc địa Pháp bây giờ đã chín
muồi cho cách mạng và chỉ đòi hỏi sự tổ chức và lãnh
đạo, là những thứ Quốc tế Cộng Sản có thể cung
cấp.<sup>5</sup>
Dĩ nhiên, quan điểm cho rằng lực lượng nông dân trong các
vùng thuộc địa có thể tham gia tích cực để lật đổ ách
xiềng xích của chủ nghĩa đế quốc là học thuyết Lê Nin
chính thống, nhưng Hồ Chí Minh thất vọng khi nhận thấy rằng
nhiều người ở Matxcơva chỉ nói miệng quan niệm của Lê Nin
về sự liên minh giai cấp vô sản – nông dân. Hồ thường
chỉ trích đồng sự của mình về sự thiếu sót của họ khi
không nhận ra tầm quan trọng của vấn đề đất đai, nhưng
không thành công lắm. Có lần ông than phiền với một người
bạn rằng làm như ông, giống như thể là "một tiếng kêu
ở đồng vắng".<sup>6</sup>
Khi tới Quảng Châu vào tháng 12 năm 1924, Hồ Chí Minh bắt
đầu tuyển mộ những người đi theo mình cho tổ chức mới mà
ông đã dự tính trong số các thành viên cấp tiến hơn của
cộng đồng Việt Nam sống lưu vong ở miền Nam Trung Quốc. Đó
là khoảnh khắc may mắn, vì xã hội Việt Nam giữa thập kỷ
1920 đang ở trong giai đoạn chuyển mình và khởi dậy. Một
thế hệ trí thức yêu nước lớn tuổi hơn, do Phan Bội Châu
và Phan Chu Trinh dẫn đầu, giờ đã có tuổi và không còn tiếp
cận với những điều kiện hiện hành, trong khi đó đảng lưu
vong của chính Phan Bội Châu ở miền Nam Trung Quốc đang trong
tình trạng suy sụp. Nhưng những năm theo thế chiến thứ nhất,
một thế hệ mới của những trí thức, lớn lên dưới con
mắt gia trưởng của chế độ thực dân, đang bắt đầu xuất
hiện trên khán đài chính trị.
Trong một nỗ lực nhận thức sự nổi lên của một thế
giới mới, thế hệ mới này phải đối mặt với những tình
thế lưỡng nan tàn khốc. Say mê các đường lối của phương
Tây, nhưng họ lại căm phẫn trước sự tàn bạo, ngạo mạn
của chế độ thực dân và được kích thích bởi giấc mơ
độc lập cho dân tộc Việt Nam. Bị lôi cuốn vào lời hứa
tự do cá nhân và sự tự biểu hiện cố hữu trong nền văn
hóa phương Tây hiện đại, nhưng rốt cuộc lại bị thất
vọng bởi sự thất bại của những nỗ lực hào hiệp viễn
vông của các nhà yêu nước trong quá khứ và ý thức một cách
bất an rằng chỉ bằng đoàn kết mới có thể tìm thấy sức
mạnh.<sup>7</sup>
Vì vậy, giai đoạn giữa thập kỷ 1920, là một giai đoạn
của sự nổi giận, kỳ vọng, và thử nghiệm. Cái đang thiếu
là một tầm nhìn rõ ràng về tương lai. Khi vẫn còn khao khát
tự do cá nhân, một số lại tìm kiếm câu trả lời ở những
hoạt động nhóm, ở hình thức tập hợp. Một trong những nhóm
như vậy là Tâm Tâm Xã (Hiệp hội những người đồng lòng),
được thành lập vào năm 1924 bởi một số trí thức cấp
tiến sống ở miền Nam Trung Quốc những người đã tỉnh ngộ
ra sự bất lực của đảng cũ Phan Bội Châu. Những người
lãnh đạo của tổ chức mới này thông minh, nhiều nhiệt
huyết nhưng họ thiếu kinh nghiệm về cách mạng và một hệ
tư tưởng. Như nhiều người theo chủ nghĩa vô chính phủ khác
ở châu Âu vào thế kỷ 19, họ không có một kế hoạch cụ
thể nào cho tương lai và phải dựa vào các hoạt động khủng
bố để phổ biến cho phong trào và thực hiện mục tiêu giải
phóng Việt Nam khỏi sự thống trị thực dân. Hành vi quả
quyết nhất của hiệp hội này là việc mưu sát thất bại
Toàn Quyền Pháp Martial Merlin ở Quảng Châu năm 1924. Người
đặt bom ám sát trong cuộc tấn công, thành viên trẻ tuổi Tâm
Tâm Xã Phạm Hồng Thái, bị chết trong toan tính đó nhưng sự
kiện này đã thu hút sự chú ý rộng rãi khắp vùng.
Thậm chí trước khi rời quê hương để làm nhân viên cho
một công ty tàu hơi nước của Pháp trước chiến tranh thế
giới thứ nhất, có thể thấy rằng người thanh niên Hồ Chí
Minh cảm thấy bồn chồn trước những nỗ lực không hiệu
quả của các tiền bối trong việc giải phóng Việt Nam khỏi
sự thống trị thực dân. Mặc dù thân phụ là bạn thân thiết
của Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh đã từ chối lời đề nghị
tham gia vào phong trào lưu vong của Phan Bội Châu, thay vào đó
chọn con đường đi sang châu Âu để tìm hiểu những bí mật
thành công của phương Tây tại tận nguồn. Trong những bài báo
mà ông đã viết khi còn sống ở Pháp, Hồ Chí Minh than phiền
về về trình độ nhận thức chính trị thấp của các đồng
hương của mình. Ít có trí thức Việt Nam, ông than phiền,
nhận thức sắc sảo về những trào lưu quan trọng đang diễn
ra rộng khắp trên thế giới, những nỗ lực giành lấy độc
lập quốc gia của họ mang đặc điểm của chủ nghĩa anh hùng
cá nhân và chủ nghĩa khủng bố cách mạng. Còn về quần
chúng, họ "căn bản là có tinh thần chống đối nhưng hoàn
toàn dốt nát. Họ muốn giải phóng cho chính họ nhưng không
biết cách làm thế nào để thực hiện điều đó."<sup>8</sup>
Còn khiến sự việc trở nên khó khăn hơn, kiến thức về
chủ nghĩa Mác và cách mạng Bôn-sê-vic ở Nga hầu như không
tồn tại ở Việt Nam. Ngoại trừ một số ít người đã từng
làm việc hay học tập ở Pháp, những trí thức Việt Nam hầu
như không biết gì về học thuyết cách mạng của chủ nghĩa
Mác, vì thông tin những học thuyết chính trị cấp tiến ở
phương Tây bị cấm đoán nghiêm ngặt bởi chế độ thực dân,
nhiều người xem những hệ tư tưởng như thế với con mắt e
dè. Trong khi khát khao độc lập dân tộc đối với các cá nhân
này lại rất mãnh liệt, nhận thức về quan niệm đấu tranh
giai cấp hay sự khả năng thích ứng của nó đối với những
điều kiện ở Đông Nam Á thì cực kì bị giới hạn.
Dường như những nhìn nhận của Hồ được xác nhận sau
chuyến đi của ông đến Quảng Châu. Trong một bức thư gửi
đến Trụ sở chính Quốc tế Cộng Sản ở Matxcơva đề ngày
18 tháng 12 năm 1924, ông nhận xét rằng mục tiêu đầu tiên
của những nhóm theo chủ nghĩa dân tộc địa phương mà ông
đã tiếp xúc là để phục thù cho những người đã bị tàn
sát bởi quân Pháp trong cuộc đấu tranh vì gia đình và quê
hương của họ. "Họ không hiểu về chính trị," ông thêm
vào, "và thậm chí họ còn hiểu ít hơn về cách thức tổ
chức quần chúng. Trong vấn đề lý thuyết, tôi đã giải thích
cho họ hiểu về sự cần thiết của tổ chức, sự vô ích khi
tiến hành những hoạt động mà không có cơ sở. Họ đồng
ý"<sup>9</sup>.<sub>¬</sub>
Trong những điều kiện như thế, Hồ Chí Minh bắt tay vào
nhiệm vụ thành lập một tổ chức cách mạng theo chủ nghĩa
Mác để giải phóng nhân dân của ông thoát khỏi hai xiềng
xích chủ nghĩa thực dân và trật tự xã hội truyền thống.
Những thành viên đầy hứa hẹn của Tâm Tâm Xã chuyển hướng
sang những ý tưởng của ông và là những thành viên cốt lõi
của Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên Đồng Chí Hội của Hồ.
Một số thành viên thông minh nhất, những người biểu lộ
hứa hẹn am hiểu được những sự phức tạp của học thuyết
và thực hành chủ nghĩa Mác – Lê, thì được kết nạp vào
một nhóm cộng sản bí mật (<i >cộng sản liên đoàn</i>) để
tạo nên hạt nhân cho Đảng Cộng Sản tương lai. Phần còn
lại, Hồ cảm thấy, đỏi hỏi phải được huấn luyện chuyên
sâu về hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê và các phương pháp
tổ chức. Để cung cấp sự huấn luyện như thế cho những
người tuyển mộ trẻ tuổi của mình, ông thành lập một
khoá gọi là "Khoá huấn luyện chính trị đặc biệt cho cách
mạng Việt Nam," trong một toà nhà ba tầng thuê ở khu buôn
bán trung tâm Quảng Châu.
Những bài giảng ở trường do chính Hồ Chi Minh phụ trách,
những thành viên cấp cao của Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên
Đồng Chí Hội, hoặc thỉnh thoảng có sự tham gia của các
thành viên thuộc chi nhánh địa phương của Đảng Cộng Sản
Trung Quốc như Chu Ân Lai, Chu Ân Lai lúc đó đang phục vụ như
là chính trị viên của Tưởng Giới Thạch ở Học viên quân
sự Hoàng Phố do Quốc Dân Đảng Trung Quốc điều hành. Chương
trình giảng dạy bao gồm những khoá học về chủ nghĩa tư
bản thế giới và lịch sử tiến hoá loài người, chủ nghĩa
Mác-Lê và cách mạng Bôn-sê-vic, tổ chức của Quốc tế Cộng
Sản, các phương pháp và tổ chức cách mạng. Chương trình
huấn luyện ở trường thường kéo dài khoảng 3 tháng. Sau khi
hoàn tất chương trình, học viên tốt nghiệp sẽ tuyên thệ
hiến mình bên cạnh nấm mồ người anh hùng liệt sĩ Tâm Tâm
Xã Phạm Hồng Thái, và sau đó được hướng dẫn trở về
Việt Nam để tổ chức các tiểu tổ và tìm kiếm những
người ủng hộ mới cho phong trào. Một số thành viên hứa
hẹn nhất sẽ được gửi đến trường Stalin ở Matxcơva để
đào tạo chuyên sâu hơn về hệ tư tưởng.
<h2>Văn Bản</h2>
Theo các hồi ký của những Đảng viên Cộng Sản kì cựu đã
từng theo học trường này, Đường Kách Mệnh là một tập
kết hợp những bài giảng mà Hồ Chí Minh thuyết trình cho
những học viên trong suốt chương trình huấn luyện. Nó được
in bằng máy in Linotype bởi Cục Tuyên Truyền của Hội Liên
hiệp các Dân tộc bị Áp bức (một tổ chức của những
người lưu vong từ vài nước Châu Á được thành lập bởi
chính Hồ Chí Minh sau khi đến Quảng Châu) và có lẽ được
phân phát sử dụng như là sách giáo khoa ở trường. Vài bản
được bí mật đưa về Việt Nam bởi những thành viên của
Đồng Chí Hội.<sup>10</sup>
Đường Kách Mệnh mở đầu bằng một danh sách những nguyên
tắc đạo đức về tư cách cách mạng, trong tính chất kì lạ
của nó, đáng cho chúng ta nhắc vắn tắt ở đây. Một vài
trong những nguyên tắc (ví dụ như nhấn mạnh đến bổn
phận, sự dấn thân, tự hy sinh, và sự cần thiết giữ bí
mật) là những khung tiêu chuẩn tư cách cần có ở các tổ
chức theo chủ nghĩa Mác-Lê, và có lẽ được lấy nguyên xi
từ tác phẩm nổi tiếng của Serge Nechavev "<i >Sách vấn đáp
của người Cách Mạng</i>". Nhưng những nguyên tắc khác (như
cần cẩn trọng, cần kiệm, khiêm tốn, trung thực và tính cách
dung hoà) lại mang phong vị của những châm ngôn đạo đức
nằm trong sách vở lòng ở trường tiểu học dạy Nho giáo, và
mang điềm báo về vai trò cha chú người thường đưa ra lời
khuyên phải trái mà "Bác Hồ" sẽ đóng đối với các cộng
sự trẻ tuổi của mình trong suốt quảng đời còn lại của
ông.<sup>11</sup>
Theo sau danh sách các nguyên tắc đạo đức là phần giới
thiệu ngắn gọn mà trong đó tác giả mô tả mục đích của
mình khi viết cuốn sách này. Mục đích, ông nói, có thể tóm
tắt bởi hai từ: "Kách mệnh! Kách mệnh! Kách mệnh!" (Cách
mạng! Cách mạng! Cách mạng!) Phần chính của văn bản được
chia thành những tiết mục riêng biệt bàn về quan niệm cách
mạng, so sánh các cuộc cách mạng hiện đại nổi tiếng (ví
dụ như Mỹ, Pháp và Nga), mô tả về ba Quốc tế Cộng Sản,
sự tổ chức và những mục tiêu của các nhóm mặt trận cách
mạng khác nhau cho công nhân, nông dân, phụ nữ và vân vân.
Trong toàn thể, cuốn sách nhỏ được coi là sách vỡ lòng dẫn
nhập về lý thuyết và thực hành cách mạng.
Có một số điểm thú vị trong cách phân tích của Hồ Chí
Minh về cách mạng trong Đường Kách Mệnh. Được viết dành
cho những người nghe không có kinh nghiệm, không có gì đáng
ngạc nhiên rằng ông bắt đầu bằng một định nghĩa vắn
tắt và giản dị về cách mạng. Cách mạng, ông nói, là để
phá cái cũ xây cái mới, phá cái xấu xây cái tốt. Lạ lùng,
ông không cố gắng giải thích ý nghĩa nguyên từ tiếng Việt
"cách mạng" (Kách mệnh, hoặc theo cách sử dụng bây giờ,
cách mạng), dù nó là một từ mới vừa mới được du nhập
từ Trung Văn <sup>12</sup>.
Sau đó, tác giả đưa ra lời bàn luận ngắn gọn về các
kiểu cách mạng. Ông chỉ ra có ba loại tư tưởng cách mạng:
tư bản chủ nghĩa (đại diện ở đây là những trường hợp
của nước Pháp, Nhật Bản và Mỹ), dân tộc chủ nghĩa (ở
đây ông dẫn chứng những trường hợp của Ý thập niên 1850
và Trung Quốc năm 1911), và cách mạng giai cấp (đại diện là
cách mạng Bôn-sê-vic ở Nga). Những cuộc cách mạng ở một
nước đặc thù, ông tiếp tục, diễn ra theo hai giai đoạn.
Quan niệm về cách mạng hai giai đoạn, dĩ nhiên, xuất phát là
của Lê Nin. Nhà lãnh đạo Bôn-sê-vic, phản ánh kinh nghiệm
của cách mạng Nga 1947, tạo nên một chiến lược cho các
nước tiền công nghiệp ở châu Phi và Châu Á bao gồm giai
đoạn đầu "dân chủ dân tộc" và cuối cùng dẫn đến giai
đoạn "xã hội chủ nghĩa vô sản". Trong giai đoạn đầu,
giai cấp vô sản, được dẫn dắt bởi tổ chức tiên phong
của nó là Đảng Cộng Sản địa phương, sẽ liên hiệp với
các giai cấp tiến bộ khác trong cuộc đấu tranh chung chống
lại chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa phong kiến. Trong giai
đoạn thứ hai, giai cấp vô sản, kết hợp những phần tử
cách mạng ở những giai cấp khác, loại bỏ những lực
lượng không phải cách mạng trong liên minh của mình và giành
trọn quyền lực.
Quan niệm hai giai đoạn của riêng Hồ Chí Minh, được mô tả
trong Đường Kách Mệnh, rõ ràng vay mượn từ Lê Nin, nhưng có
một vài điểm khác biệt. Hồ chia cách mạng thành hai giai
đoạn, giai đoạn đầu "<i >dân tộc kách mệnh</i>", giai
đoạn chấm dứt sự đô hộ nước ngoài và giai đoạn hai là
<i >thế giới Kách mệnh</i>, giai đoạn mà nông dân và công
nhân trên thế giới sẽ đoàn kết như một gia đình để
huỷ diệt chủ nghĩa tư bản và mang sự thống nhất trên toàn
cầu (thiên hạ đại đồng, một cách vận dụng thú vị quan
niệm truyền thống của người Trung Quốc) hoặc hạnh phúc cho
tất cả.<sup>13</sup>
Một đặc điểm thú vị của khung này là tầm quan trọng mà
Hồ gán cho vấn đề độc lập dân tộc. Các Mác đã phân tích
giai đoạn tư sản của cách mạng bằng tranh chấp giai cấp
và sự mong muốn của giai cấp tư sản về quyền lực chính
trị và kinh tế, vì vậy phủ định tầm quan trọng tiềm ẩn
của vấn đề chủ nghĩa dân tộc. Lê Nin cũng nhận ra tầm quan
trọng của chủ nghĩa dân tộc, nhưng chỉ với ý niệm mang
tính chiến lược trong việc tìm kiếm những đồng minh cho các
giai cấp bị áp bức trong cuộc đấu tranh của họ chống lại
sự thống trị chủ nghĩa phong kiến và đế quốc. Mặt khác,
trong Đường Kách Mệnh, có thể thấy Hồ Chí Minh quy một giá
trị chủ quan tích cực cho vấn đề độc lập dân tộc trong
tiến trình cách mạng, nhìn nhận nó như là sản phẩm của
sự hợp tác chính đáng của nhiều giai cấp để chấm dứt
sự đô hộ nước ngoài. Sử dụng các ví dụ của cách mạnh
Ý năm 1859, và cách mạng Trung Quốc 1911, ông tiên đoán những
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tương tự trong những xã
hội thuộc địa như Ấn Độ, Cao Ly, Philippines, và Việt Nam.
Rõ ràng là, Hồ Chí Minh đã diễn giải một cách tự do quan
niệm của Lê Nin về cách mạng dân chủ dân tộc (cách mạng,
theo Lê Nin, chỉ là một bước cần thiết để chuyển tiếp
sang giai đoạn thứ hai hay giai đoạn cách mạng xã hội chủ
nghĩa,) để thích hợp với những điều kiện ở Việt Nam,
một nơi, cho nhiều người nghe của ông (và có lẽ cũng cho
chính cả ông), vấn đề độc lập dân tộc là một vấn đề
quan trọng vì chính nó. Hồ rất cẩn trọng tuyên bố rằng giai
đoạn dân tộc của cách mạng sẽ được đi theo bởi giai
đoạn thứ hai dựa vào sự đấu tranh giai cấp, nhưng ông không
nói cụ thể khi nào hay trong những điều kiện nào một cuộc
cách mạng như thế sẽ diễn ra. Thực sự, ông không phân
biệt rõ giữa tiến trình cách mạng ở các nước nước công
nghiệp và tiền công nghiệp, và vì vậy có thể thấy rằng
thà sử dụng quan niệm chủ nghĩa Mác kinh điển về hai cuộc
cách mạng khác biệt và tách rời là chủ nghĩa tư bản và
chủ nghĩa xã hội hơn là sử dụng phiên bản của Lê Nin vốn
đã bị xén bớt đi, theo đó giai đoạn đầu sẽ "phát
triển" khá nhanh chóng thành giai đoạn hai.
Hồ Chí Minh cũng mơ hồ về hình thức "Cách mạng dân
tộc" sẽ diễn ra và về giai cấp nào sẽ lãnh đạo nó, mà
chỉ ghi nhận rằng cách mạng dân tộc bao gồm một liên minh
của các giai cấp và cho phép người dân trong các xã hội
thuộc địa thực hiện tự do và bình đẳng. Tuy nhiên, tác
giả cũng tuyên bố rõ ràng rằng sau cách mạng dân tộc sẽ là
cách mạng xã hội chủ nghĩa trong đó giai cấp vô sản sẽ
lãnh đạo. Mô hình nước Nga về cách mạng giai cấp, ông chỉ
ra, có vị thế cao hơn những cuộc cách mạng tư bản chủ
nghĩa diễn ra ở Pháp và Mỹ. Trong hai quốc gia này, cách mạng
vẫn chưa triệt để, vì nó vẫn để giai cấp tư bản nắm
quyền lực và những người công nhân, nông dân nghèo vẫn rên
xiết dưới ách thống trị của những giai cấp bóc lột. Chỉ
ở nước Nga những người Bôn-sê-vic mới thành công trong việc
mang lại quyền lực vào tay những người đại diện nhân dân
thông qua cách mạng giai cấp.<sup>14</sup>
Một đặc điểm thứ ba của Đường Kách Mệnh là cung cách
tác giả xử lý câu hỏi về sự liên minh cách mạng. Một trong
những yếu tố then chốt trong chiến lược cách mạng của chủ
nghĩa Lê Nin ở các nước tiền công nghiệp là quan niệm liên
minh bốn giai cấp.
Theo Lê Nin, trong những xã hội như thế, thông thường giai
cấp vô sản bản xứ quá yếu và thiếu kinh nghiệm để tự
mình tiến hành cuộc nổi dậy cách mạng đang gia tăng mạng
mẽ chống lại bọn đế quốc và bọn phản động phong kiến.
Để thành công, cần liên kết với các giai cấp cấp tiến
khác, như là nông dân và các nhà tư sản yêu nước (Lê Nin
gọi là tầng lớp tiểu tư sản và tư sản dân tộc). Thậm
chí, Lê Nin còn tiên đoán rằng các đảng dân tộc tư sản sẽ
lãnh đạo liên minh bốn-giai-cấp, chừng nào đảng Cộng sản
địa phương tìm cách nắm giữ tự do trong hành động của
riêng mình. Tuy nhiên, sau khi hoàn tất xong giai đoạn thứ nhất
"dân chủ dân tộc" của cách mạng, những người Cộng sản
phải tuyên bố độc lập khỏi các đồng minh như thế, với
sự giúp đỡ của các phần tử cách mạng đích thực, cố
gắng hoàn tất giai đoạn cách mạng thứ hai hay còn gọi là
"xã hội chủ nghĩa vô sản". <sup>15</sup>
Trong công thức của Lê Nin, trái tim của sự liên minh bốn
giai đoạnlà sự liên kết mật thiết giữa công nhân và nông
dân. Lê Nin thấy rằng nông dân nghèo là những đồng minh trung
thành của giai cấp công nhân trong những xã hội chủ chốt về
đất đai như là nước Nga thời đế chế và các xã hội
thuộc địa ở châu Á. Nhưng ông lại theo tiền lệ khuôn mẫu
khi khăng khăng sự lãnh đạo của giai cấp vô sản (được
định nghĩa là "lực lượng lãnh đạo") trong khối liên
minh, với những người nông dân thì được xem là "lực
lượng cơ bản" (hoặc đa số, hàm ý đến số lượng) trong
phong trào.
Trong Đường Kách Mệnh, Hồ Chí Minh sử dụng một cách tự
do quan niệm của Lê Nin về một mặt trận thống nhất gồm
các giai cấp tiến bộ để tạo nên giai đoạn đầu của cách
mạng, ông chỉ ra rằng những học sinh, những nhà buôn nhỏ và
thậm chí là những điền chủ nhỏ có thể được sử dụng
như những đồng minh trong cuộc đấu tranh chống là chế độ
thực dân. Những giai cấp như thế đã bị bóc lột bởi những
nhà tư bản, ông chỉ ra, nhưng không nhiều như các nông dân và
công nhân. Họ không được tin cậy để thực hiện giai đoạn
hai của cách mạng, và vì vậy chỉ được xem như là bầu bạn
của giai cấp vô sản và tầng lớp nông dân.
Đó là chủ nghĩa Lê Nin chính thống. Và trong việc xử lý
của ông về mối quan hệ giữa công nhân và nông dân, Hồ Chí
Minh lại theo sự lãnh đạo của Lê Nin. Quan niệm về sự liên
minh vô sản - nông dân là một chủ đề liên tục có mặt trong
Đường Kách Mệnh, đề cập một cách rõ ràng đến sự cần
thiết lãnh đạo của giai cấp vô sản trong khối liên minh,
đặc biệt trong suốt giai đoạn thứ hai của "cách mạng giai
cấp". Nhưng điểm chính trong sự phân tích của Hồ cho rằng
nông dân là yếu tố quyết định trong sự hợp tác cách mạng.
Ông đưa ra chứng minh sự thiếu liên minh mật thiết giữa
thành thị và nông thôn dẫn đến cách mạng thất bại trong
suốt Công Xã Paris 1870 và trong suốt cách mạng Nga 1905. Chỉ khi
hai giai cấp được thống nhất về chiến lượt và chiến
thuật, như đã từng diễn ra ở cách mạng Nga năm 1917, cách
mạng mới có thể thành công. Như trong trường hợp của cách
mạng dân chủ dân tộc, Hồ Chí Minh vẫn còn ở trong đường
lối chỉ đạo chung của lối tiếp cận chủ nghĩa Lê Nin trong
khi nhấn mạnh những yếu tố mà, theo quan điểm của ông,
đặc biệt cần thiết cho sự thành công của cách mạng Việt
Nam.<sup>16</sup>
Trong mục cuối cùng về phần tổ chức, Hồ Chí Minh hết
sức cố gắng nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc vận động
nông dân ở một xứ sở như là Việt Nam, nơi 90% tổng dân
số sống dựa vào ruộng đất. Trong Đường Kách Mệnh, cũng
như trong Bản án chế độ thực dân Pháp, tác phẩm ông đã
viết trước khi từ Paris đến Matxcơva, Hồ Chí Minh mô tả
hình ảnh tầng lớp nông dân nghèo nàn gian khổ, không có gì
để sống ngoài sức lao động. Đây không phải là một cách
nhìn chi tiết, và không có sự tham chiếu đến những khác
biệt giữa phú nông, trung nông và bần cố nông theo chủ nghĩa
Mao Trạch Đông. Như hình ảnh người vô sản trong tác phẩm
Tuyên ngôn cộng sản của Mác, tầng lớp nông dân của Hồ Chí
Minh không có gì để mất ngoài xiềng xích của họ. Tất cả
những gì họ đòi hỏi là, như ông đã chỉ ra trong các bài
báo được viết ở Pháp là sự lãnh đạo và tổ
chức.<sup>17</sup>
Một điểm cuối cùng thú vị trong Đường Kách Mệnh là sự
nhấn mạnh mà tác giả đặt vào hệ tư tưởng và sự tổ
chức. Cách mạng, ông nhấn mạnh trong phần giới thiệu, không
thể đạt được nếu thiếu một hệ tư tưởng và một kế
hoạch. Cách mạng không phải chỉ là chuyện những hành vi
riêng lẽ của chủ nghĩa anh hùng, và tự hy sinh, mà là hoạt
động được kết hợp của hàng ngàn cá nhân dấn thân,
được thống nhất trong một đảng cách mạng. Nếu tất cả
những phần tử bị áp bức trong xã hội, bao gồm cả đàn bà
và trẻ em cũng như tất cả các giai cấp tiến bộ, được
thống nhất cùng một mục đích, họ có thể vượt qua những
thế lực hung ác của sự cai trị.
Khi nhấn mạnh vai trò quan trọng của hệ tư tưởng và sự
tổ chức trong việc thực hiện cách mạng Việt Nam, Hồ Chí
Minh đang nhắm đúng mục tiêu vào những gì mà ông đã xem xét
một số điểm yếu rõ rệt của các nỗ lực trước đó.
Những cuộc bạo động nông dân ở miền Trung Việt Nam năm
1908, cuộc khởi nghĩa thất bại của đảng cách mạng Phan Bội
Châu, và những hoạt động khủng bố của Tâm Tâm Xã giữa
thập niên 1920, bị thất bại do thiếu tầm nhìn rõ ràng về
tương lai và một kế hoạch.
Ngoảnh lại, sự nỗ lực của Hồ Chí Minh trong việc liên
kết những lực lượng bị tan tác của xã hội Việt Nam thành
một lực lượng thống nhất không thể đối kháng lại được
rõ ràng xuất phát từ truyền thống lâu đời của phong trào
kháng chiến nổi tiếng chống lại sự đô hộ nước ngoài,
từ hình ảnh người anh hùng Trần Hưng Đạo trong thế kỷ 13
cho đến những phong trào chống thực dân của Phan Đình Phùng
và Phan Bội Châu trong thời của chính ông. Dù người ta có
đồng ý hay không về những quan điểm hệ tư tưởng của ông,
sức mạnh trong lập luận của ông về hoạt động thống nhất
biểu hiện hiển nhiên.
Nhưng điều quan trọng phải nhớ rằng Hồ Chí Minh đối mặt
rất nhiều trở ngại nghiệm trọng trong việc thuyết phục
đồng bào chấp nhận luận lý của những kết luận của mình.
Thông điệp của Hồ về sự tự hy sinh và sự lệ thuộc vào
những yêu cầu của tập thể không chỉ đối đầu với
thuyết định mệnh và "chính sách chờ thời" vốn tiêu
biểu cho thái độ của nhiều người Việt Nam từ sự chinh
phục của người Pháp (một thái độ mà Phan Bội Châu đã
từng phê phán một cách cay đắng trong tác phẩm <i >Việt Nam
Vong Quốc Sử</i>) [1905], mà còn đương đầu với sự nhấn
mạnh biểu hiện cá nhân và tự nhận thức tiêu biểu cho thế
hệ giới trẻ thành thị những người bước lên diễn đàn
những năm 1920 sau thế chiến thứ nhất. Liệu giới trẻ Việt
Nam có chú ý đến lời kêu gọi của ông hay không?
Để tóm tắt từ quan điểm nội dung hệ tư tưởng, Đường
Kách Mệnh chẳng cung cấp gì cho những người nghiên cứu
nghiêm túc về tình hình Việt Nam hiện đại hay lịch sử hoạt
động Cộng Sản. Sự diễn giải của tác giả về học thuyết
và thực hành chủ nghĩa Mác-Lê còm sơ khai và trong một vài
trường hợp hết sức gây hoang mang. Sự diễn giải đơn giản
và những mơ hồ về hệ tư tưởng trong cách xử lý của Hồ
về quan niệm hai giai đoạn và sự liên minh cách mạng khiến
một số người đặt vấn đề về sự am hiểu của Hồ đối
với chủ nghĩa Mác-Lê, hay cách khác, về sự cam kết của ông
đối với những lời giáo huấn của nó.
Hồ Chí Minh đã dự kiến chỉ trích như vậy. Trong phần
giới thiệu của cuốn sách nhỏ này, ông nhấn mạnh rằng ông
đã chủ tâm chọn hình thức viết đơn giản và dễ hiểu.
Điều này xuất phát từ thực tế là người nghe ông tương
đối không được đào tạo về chủ nghĩa Mác và lịch sử
châu Âu, nên sẽ là dễ hiểu nếu ông diễn đạt lời giải
thích của mình về cách mạng hiện đại bằng những từ ngữ
đơn giản để các độc giả của mình có thể nắm bắt
được. Sự nhấn mạnh về độc lập dân tộc và vai trò tích
cực của quần chúng nông dân rõ ràng giúp tạo ra quan điểm
theo chủ nghĩa Mác chính thống, với sự nhấn mạnh của nó
về chủ nghĩa Quốc Tế Vô Sản và vai trò lãnh đạo của giai
cấp công nhân thành thị, càng dễ hiểu và thu hút hơn.
Tuy nhiên, đằng sau những mơ hồ học thuyết và sự đơn
giản về cách tiếp cận đặc trưng của văn bản, Đường
Kách Mệnh vẫn cung cấp cho độc giả một ý niệm rõ ràng
vừa phải về tầm nhìn chỉ đạo hướng đi tương lai cho cách
mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh. Nếu cắt xén những yếu tố
này, những yếu tố có lẽ được thiết kế để làm cho thông
điệp của ông trở nên dễ hiểu với người nghe của mình,
trọng tâm lập luận của ông về thực chất có lẽ được xem
là của chủ nghĩa Lê Nin. Nhưng trong khi hầu hết những người
Cộng Sản châu Âu, và đôi khi chính bản thân Lê Nin, ở một
mức độ nào đó cũng có khuynh hướng xem các vấn đề về
chủ nghĩa dân tộc, sự liên minh công - nông dân với một cách
hời hợt, thì Hồ Chí Minh lại xem những ý tưởng này rất
nghiêm túc và cố gắng áp dụng chúng vào Việt Nam bằng với
một cách thức sáng tạo, phản ảnh tình trạng thực tế của
các nước châu Á đương thời và trải nghiệm lịch sử của
nhân dân Việt Nam.
<h2>Từ học thuyết đến thực hành</h2>
Một kết luận như thế nổi lên không chỉ đến từ các
trang sách trong cuốn Đường Kách Mệnh, mà còn đến những
hành động của ông trong vai trò là người sáng lập Việt Nam
Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội. Với niềm tin vững chắc
cho rằng quần chúng bị áp bức ở các xã hội Châu Á cần
sự lãnh đạo của một nhóm nòng cốt gồm những nhà cách
mạng dấn thân để cung cấp cho họ sự tổ chức và phương
hướng hoạt động. Ở Quảng Châu Hồ Chí Minh đã tập trung
nỗ lực tuyển mộ những lãnh đạo đảng tương lai từ các
thanh niên có học thức cấp tiến những người đã đạt
được sự trưởng thành ở Đông Dương trong suốt những năm
1920. Đi theo với chủ trương rằng sự quan tâm cho số mệnh
dân tộc Việt Nam là mối quan tâm chủ yếu của những phần
tử như vậy, chương trình của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng
Đồng Chí Hội đặt trọng tâm ưu tiên về vấn đề dân tộc,
mặc dù các mối quan tâm về xã hội kinh tế và quan niệm về
một xã hội không tưởng tương lai lại được luận một cách
tổng quát trong tài liệu tuyên truyền của Đồng Chí Hội. Sự
xác nhận hiệu quả nhất đối với tính hiệu lực trong cách
tiếp cận của Hồ là sự thành công nhanh chóng của Liên hiệp
trong việc đóng vai trò tích cực ở phong trào chống thực dân
bên trong Việt Nam, một vai trò nhanh chóng gây sự chú ý lo
lắng của các nhà cầm quyền Pháp.
Hồ Chí Minh có bị ảnh hưởng phương cách đáng kể nào
bởi những sự kiện xảy ra ở miền Nam Trung Quốc, hay bởi
những ý tưởng được nêu ra đến ông từ những người quen
biết của mình ở Đảng Cộng Sản Trung Quốc hay không? Rốt
cục, chắc hẳn ông phải có nhiều cơ hội thảo luận những
vấn đề hệ tư tương và thực tiễn với những nhân vật
lãnh đạo đảng như Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Bành Bái, tất
cả những người đã đôi lần tham gia giảng dạy ở học
viện của Hồ Chí Minh. Và khi đích thân thăm Viện Đào Tạo
Nông Dân của Đảng Cộng Sản Trung Quốc ở Quảng Châu, mặc
dù có lẽ ông không gặp Mao Trạch Đông ở đó. Đáng tiếc,
hơi khó để trả lời câu hỏi này, vì ông đã không thường
bình luận khi viết về các sự kiện diễn ra ở Trung Quốc
trong thời gian này, và mối quan hệ của ông với những đồng
chí Trung Quốc và Sô-Viết của mình ở Quảng Châu vẫn chưa
được nghiên cứu thấu đáo. Có một điều dường như không
cần phải bàn cãi là những quan niệm của Hồ Chí Minh về
tầm quan trọng của độc lập dân tộc và vai trò của nông
thôn trong cách mạng có trước khi ông đến Trung Quốc. Mặt
khác, dường như có cùng khả năng là ông đã gặt hái kinh
nghiệm thực tiễn đáng kể từ việc quan sát tiến trình các
sự kiện xảy ra ở Trung Quốc, và có lẽ đã áp dụng kinh
nghiệm này vào những hoạt động của ông với Đồng Chí Hội
khi còn ở Quảng Châu.
Một lãnh vực mà những quan điểm của Hồ có thể bị tác
động bởi những điều kiện ở Trung Quốc là về bản chất
và vai trò của liên minh bốn-giai-cấp. Sau cái chết của Tôn
Dật Tiên vào tháng 3 năm 1925, "khối bên trong" giữa Đảng
Cộng Sản Trung Quốc và Quốc Dân Đảng trở nên căng thẳng
nghiêm trọng vì những căng thẳng nổi lên giữa những người
Cộng Sản và những thành viên thuộc nhóm hữu phái của Quốc
Dân Đảng, lên đến cực điểm là việc thanh toán của Tưởng
Giới Thạch đối với những người Cộng Sản ở Quảng Châu
vào tháng 3 năm 1926. Trong khi vụ việc đang được dàn xếp,
các sự nghi ngờ lẫn nhau giữa những phần tử của cánh tả
và cảnh hữu trong liên minh vẫn tiếp tục và chắc hẳn điều
này cảnh báo Hồ Chí Minh cần tiếp cận mối quan hệ với
những đảng theo chủ nghĩa dân tộc tư sản một cách hoài
nghi. Việt Nam, đương nhiên, khi đó không có cái tương tự
với Quốc Dân Đảng, và có lẽ Hồ cũng thừa nhận ngay từ
ban đầu rằng tổ chức của ông sẽ đóng vai trò lãnh đạo
trong bất cứ liên minh bốn giai đoạntương lai nào ở Đông
Dương, nhưng những bình luận của ông trong Đường Kách Mệnh
lại chỉ rằng ông có một nhận thức đầy đủ về tính dễ
vỡ của liên kết này.
Cũng có nhiều kinh nghiệm thực tiễn được gặt hái từ
việc quan sát tiến trình sơ kì của Chiến dịch Bắc Phạt
(Northern Expedition), được khởi xướng chống lại các chế
độ sứ quân ở miền Trung Trung Quốc vào mùa thu năm 1926. Sau
đó, Hồ có viết về kinh nghiệm này trong một bài báo ngắn
nhan đề "Công Tác Quân Sự Của Đảng Trong Nông Dân" (The
party's Military Work among the Peasants) bài báo ông đã viết ở
Đức năm 1928. Trong bài báo ông đã nhấn mạnh tầm quan trọng
của sự lãnh đạo Đảng để đưa ra sự hướng dẫn cho chủ
nghĩa cấp tiến nông dân mới nảy sinh, nhưng cùng lúc cũng
chỉ ra các phong trào cách mạng ở các nước tiền công nghiệp
không thể thành công nếu thiếu vai trò tích cực của tầng
lớp nông dân. Sự thất bại của Đảng Cộng Sản Trung Quốc
trong việc hỗ trợ chủ nghĩa cấp tiến nông dân ở tỉnh Hồ
Nam trong suốt Chiến dịch Bắc Phạt, ông ghi nhận, đó là
"sai lầm lớn nhất của giới lãnh đạo Cộng Sản thời
đó." Trong cuộc tranh luận về tầm quan trọng tương đối
của giới nông dân và giới tư sản thành thị đối với cách
mạng ở Trung Quốc, ông kiên quyết đứng về phía của Mao
Trạch Đông.<sup>18</sup>
<h2>Di Sản</h2>
Vào đầu tháng 5 năm 1927, ngay sau khi "Cuộc tàn sát ở
Thượng Hải" của Tưởng Giới Thạch đối với những
người đồng minh Cộng Sản Trung Quốc trước đây của ông,
Hồ Chí Minh chạy khỏi Quảng Châu và đi Matxcơva. Trong sự
vắng mặt này, tình hình đối với các cộng sự của ông có
sự thay đổi quan trọng. Trong khi Đồng Chí Hội tiếp tục
phát triển về quy mô và ảnh hưởng, những căng thẳng nội
bộ về chiến lược dẫn đến sự chia rẽ về hệ tư
tưởng, nổ ra công khai trong suốt đại hội thứ nhất của
tổ chức, được tổ chức ở Hồng Kông vào tháng 5 năm 1929.
Từ đó trở đi, Đồng Chí Hội bị phân thành hai đảng
tranh chấp, mỗi đảng đều tuyên bố làm đại diện cho các
quan điểm của Quốc tế Cộng Sản ở Matxcơva.
Nguồn gốc của sự tách ly này có thể nhận thấy ở bên
trong Việt Nam và kể cả ngoài nước. Một số thành viên
thuộc khu uỷ Bắc Kỳ, bực bội vì sự thất bại của giới
lãnh đạo trong việc đẩy mạnh sự tuyển mộ trong số các
dân nghèo thành thị và nông thôn, xách động sự vô sản hoá
tổ chức và thành lập Đảng Cộng sản chính thức. Sau đó,
rõ ràng quan điểm này được khích lệ bởi một sự chuyển
dịch chiến lược ở Matxcơva. Ở đại hội Quốc tế Cộng
Sản lần thứ 6 vào tháng 7/1928, sự tin cậy vào lối tiếp
cận của chủ nghĩa Lê Nin rõ ràng bị lung lay bởi sự chối
bỏ tàn nhẫn của Tưởng Giới Thạch về mặt trận thống
nhất ở Trung Quốc, Quốc tế Cộng Sản liền từ bỏ quan
niệm liên minh bốn giai đoạnvà chuyển hướng gay gắt sang
phía tả. Chủ nghĩa dân tộc bấy giờ một lần nữa không
được ủng hộ, sự đấu tranh giai cấp và quan niệm chậc
hẹp về sự liên minh cách mạng vẫn thăng tiến.
Hồ Chí Minh đã không tham gia đại hội Quốc tế Cộng Sản
này, dành nửa năm đầu ở Tây Âu, và trên đường khi ông
đến Xiêm thì đại hội diễn ra. Sau vài tháng tham gia vào
những hoạt động tổ chức bên trong của cộng đồng tha
hương Việt Nam ở Xiêm, đầu năm 1930 ông đến Hồng Kông để
triệu tập gọi là "Hội nghị thống nhất" nhằm hằn gắn
sự tách ly bên trong phong trào cách mạng và đi đến thoả
thuận thành lập một Đảng Cộng Sản Việt Nam chính thức.
Đảng mới bao gồm các thành viên của hai phe Đồng Chí Hội
cũ cũng như các nhà cách mạng theo chủ nghĩa Mác chân thành
khác ở Việt Nam. Quyết định này phản ánh ý chí của
Matxcơva, vốn đã răn đe những nhà cách mạng Việt Nam về
những hành vi của họ và chỉ thị họ thành lập một Đảng
Cộng Sản chính thức trong dự liệu về làn sóng cách mạng
đang lên khắp Châu Á. Nhưng những tài liệu đề cương được
vạch ra dưới sự hướng dẫn của Hồ ở cuộc họp đã phản
ánh những ý tưởng đang bị bác bỏ trong hiện tại mà ông
đã đề cập trước đó trong Đường Kách Mệnh, gồm cả yêu
cầu tạo một liên minh rộng rãi với các thành phần cấp
tiến cả nước và thành lập một Việt Nam độc lập. Tuy
nhiên, mặt khác, những tài liệu cũng cảnh báo những đảng
viên không được đưa ra bất cứ nhượng bộ nào về nguyên
tắc đối với phần tử theo chủ nghĩa dân tộc tư sản, và
chỉ đạo rằng những khẩu hiệu liên quan đến vấn đề
độc lập dân tộc nên được thêm vào những lời kêu gọi
khác phản ánh vấn đề đấu tranh giai cấp và cách mạng thế
giới.<sup>19</sup>
Một vài tuần sau khi trì hoãn Hội nghị thống nhất, Trần
Phú, một người vừa tốt nghiệp trường Stalin, đến từ
Matxcơva cùng những chỉ thị của Quốc tế Cộng Sản soạn
thảo một chương trình cho đảng mới phù hợp với những
đường lối được truyền bá ở đại hội Quốc tế Cộng
Sản lần thứ 6 năm 1928. Trong một cuộc họp ở Hồng Kông
vào tháng mười, uỷ ban trung ương lâm thời của đảng chỉ
trích những đường lối chỉ đạo được phác thảo ở cuộc
họp vào tháng 2 là sai lầm và chấp thuận một chương trình
mới phản ánh cách tiếp cận thu hẹp hơn với quan niệm mặt
trận thống nhất và đặt lại tên đảng là Đảng Cộng Sản
Đông Dương. Trong khi cái cớ nêu ra bên ngoài cho quyết định
vào tháng mười là quan điểm của Matxcơva cho rằng các nước
nhỏ chỉ có thể tiến hành đấu tranh thành công chống lại
chủ nghĩa đế quốc bằng cách kết hợp thành những nhóm lớn
hơn, khả năng rằng mong muốn tháo gỡ vấn đề độc lập
dân tộc – hiện tại vẫn bị phản đối ở Matxcơva – chỉ
là một nhân tố phụ. <sup>20</sup>
Những quyết định đạt được ở hội nghị tháng Mười
đặt đinh cung cách cho chiến lược của Đảng trong suốt vài
năm sau đó. Trong khi bản thân Trần Phú lại bị bắt bởi
người Pháp và chết trong tù, lãnh đạo đảng bị chi phối
bởi những học viên kì cựu trở về từ trường Stalin, những
quan điểm học thuyết của họ rập khuôn theo đường lối
chính thức như đã được tuyên dương ở Matxcơva. Trong suốt
những năm đầu 1930, những bài trong các tờ báo Đảng thường
chỉ trích Hồ Chí Minh bởi sự mê đắm của ông vào hệ tư
tưởng dân tộc và sự xác tín của ông rằng phải có một
cuộc cách mạng dân tộc trước cách mạng thế
giới.<sup>21</sup>
Hầu hết suốt giai đoạn này, Hồ Chí Minh không liên lạc
với giới lãnh đạo Đảng. Sau hội nghị, ông vẫn ở lại
Hồng Kông như là một đại diện của Viễn Đông Cục (Far
Eastern Bureau) của Quốc tế Cộng Sản. Vào tháng 6 năm 1931, ông
bị cảnh sát Anh bắt giữ và ở tù 2 năm. Sau khi được phóng
thích vào năm 1933, ông sống vài năm tiếp theo ở Matxcơva, nơi
có báo cáo cho rằng ông bị Stalin nghi ngờ vì những quan điểm
không chính thống của mình. Nhưng vào cuối thập kỷ 1930,
Quốc tế Cộng Sản đã từ bỏ cách tiếp cận bè phái và
trở lại chiến lược theo chủ nghĩa Lê Nin về một sự
liên minh đa giai cấp giữa các đảng Cộng Sản và phi Cộng
Sản chống lại mối đe doạ chung là chủ nghĩa phát xít thế
giới [Hitler và Đảng Quốc Xã lên nắm chính quyền ở
Đức năm 1933 sau khi thắng cử]. Được biện minh qua tiến
trình các sự kiện, Hồ Chí Minh trở lại Trung Quốc năm 1938
và hai năm sau đó nối lại liên lạc với các thành viên lãnh
đạo của ICP (Đông Dương Cộng Sản Đảng). Ở Hội nghị
toàn đảng lần thứ 8 vào tháng năm 1941, Uỷ ban trung ương
Đông Dương Cộng Sản Đảng, hoạt động dưới sự lãnh đạo
của ông, tuyên bố thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh
Hội (thường được biết đến với tên gọi Mặt trận
Việt Minh), một mặt trận thống nhất cơ sở mở rộng dựa
trên hai mục tiêu đi đôi với nhau là độc lập dân tộc và
cải cách kinh tế xã hội. Đó là sự thành lập theo chiến
lược của chủ nghĩa Lê Nin mà các nhà cộng sản đấu tranh,
và chiến thắng, cuộc Chiếc Tranh Việt Nam.
<h2>Đường Kách Mệnh Hôm Nay</h2>
Trong suốt thập niên 1930 và cuộc kháng chiến sau đó chống
lại Pháp, cuốn sách nhỏ mỏng của Hồ Chí Minh không còn
được sử dụng như là một tập hợp các đường lối chỉ
đạo cho những nhà cách mạng tập sự ở Việt Nam. Sau Hội
Nghị Genava và sự thiết lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng
Hoà (DRV) ở Hà Nội năm 1954, Đường Kách Mệnh không còn nằm
trong bộ sưu tập những tác phẩm tuyển chọn của Hồ Chí
Minh, dường như do yêu cầu của chính ông. Những đoạn trích
ngắn thỉnh thoảng xuất hiện trong các tác phẩm của những
sử gia Việt Nam, nhưng văn bản gốc, được lưu trữ trong
Viện Bảo Tàng Cách Mạng ở Hà Nội, dường như không có
sẵn để lật đọc thậm chí đối với những học giả Việt
Nam. Ngay trước khi ông qua đời vào năm 1969, những người biên
tập bộ toàn tập của ông đã xin phép ông Hồ xuất bản
phiên bản đầy đủ, và ông đã chấp thuận. Những đoạn
trích dài hơn xuất hiện trong những bộ sưu tập các tài
liệu của đảng vào cuối thập niên 1970, và phiên bản đầy
đủ được xuất bản trong tập II bộ sách Hồ Chí Minh Toàn
Tập năm 1981.
Tuy nhiên, thậm chí ngày nay, vẫn chưa thấy bóng dáng bản
gốc của Đường Kách Mệnh. Trái ngược với mong muốn của
những người biên tập nhà xuất bản Sự Thực, phiên bản
gốc được biên tập để bỏ đi những sai sót về sự kiện,
và các trích dẫn sai sót. Những sai sót như thế, tôi đã
được biết theo một nguồn thông tin thông thạo ở Hà Nội,
là không thể tránh khỏi, vì Hồ Chí Minh không tiếp cận
được đến nguồn tư liệu ở Quảng Châu. Người ta cam đoan
với tôi rằng không có sự thay đổi thực chất so với bản
gốc. Cho đến khi bản gốc có thể được so sánh với phiên
bản được xuất bản, không có cách nào để thực chứng lời
phát biểu này.<sup>22</sup>
Vậy làm thế nào mà chúng ta có thể tổng kết ý nghĩa của
Đường Kách Mệnh trong sự ảnh hưởng của nó đến lịch sử
hiện đại Việt Nam? Rõ ràng, dù có phóng trí tưởng đến
đâu đi nữa cũng không thể xếp nó vào các tác phẩm kinh
điển của chủ nghĩa cộng sản thế giới hay lịch sử của
tư tưởng cách mạng. Đường Kách Mệnh được viết như là
một cuốn sách vỡ lòng để giới thiệu những yếu tố cần
thiết của học thuyết Mác-Lê cho những thanh niên yêu nước
chưa thật tinh tế, do đó chứa đựng tất cả những khuyết
điểm cũng như những ưu điểm của một cuốn sách thuộc thể
loại này. Nhưng trong một ý thức lớn hơn, nó đóng vai trò
định hình cho sự phơi mở cách mạng Việt Nam và phải
được xem như là một trong những tài liệu quan trọng vào
thời đại của nó. Cuốn sách không chỉ là một cột mốc
hướng dẫn hữu ích trong việc lý giải những ý tưởng của
Hồ Chí Minh khi ông bắt đầu tiến vào sự nghiệp cách mạng
lâu dài của mình, mà còn giới thiệu lên một tiếng nói mang
tính học thuyết quan trọng trong thuyết ngôn chính trị Việt
Nam đương thời, một phiên bản Việt Nam của tác phẩm nổi
tiếng Lê Nin "Làm gì?" (What is to be done), như một người
cầm bút Sô-Viết đã từng nhận xét. <sup>23</sup>
Có lẽ quan trọng nhất, như chính bản thân Hồ Chí Minh có
thể đã nói thêm, cuốn sách đã phục vụ cho mục đích của
nó. Dù sự thành công của Đường Kách Mệnh đến từ thông
điệp hay từ người mang thông điệp, có một điều không thể
hồ nghi rằng đó là một sự kiện bước ngoặc trong lịch sử
hiện đại Việt Nam. Ngày nay nó đã trở nên thời thượng
để đánh giá giai đoạn thập niên 1920 ở Đông Dương không
chỉ như một tiền sảnh của cuộc đấu tranh chua cay sắp
tới, mà trong những điều kiện riêng của nó, còn là một giai
đoạn thăm dò trí tuệ văn hoá khi những nhà trí thức Việt
Nam trong một sự đa dạng rộng lớn về những khuynh hướng
chính trị và triết học, còn phải đang mò mẫm tìm câu trả
lời cho các câu hỏi nêu lên bởi những trải nghiệm thuộc
địa. Với nhiều người, thông điệp chứa đựng trong Đường
Kách Mệnh đã chấm dứt cuộc tìm kiếm đó. Dưới sự lãnh
đạo của Hồ Chí Minh, những học trò của ông đã tiến đến
chiến thắng sau cùng vào mùa xuân năm 1975.
[*] Tiểu luận này được nghiên cứu một phần nhờ vào sự
tài trợ của Chương trình trao đổi học giả Đông Dương của
Hội đồng nghiên cứu khoa học xã hội và Viện nghệ thuật
và nhân văn học của trường Đại học Tiểu bang Pensylvania.
Không cần phải nói, tôi chịu toàn bộ trách nhiệm về nội
dung của tiểu luận này.
<sup>1 </sup>Phỏng vấn Ngô Phương Ba, Viện Sử học, Hà Nội,
12/12/1990
<sup>2</sup> Chính tả gốc của tựa đề văn bản này là <i
>Đường Kách Mệnh</i>. Văn bản hiện hành được xuất bản
ở Việt Nam sử dụng thuật ngữ là "cách mệnh". Với mục
đích tôn trọng tính chính xác, tôi quyết định giữ tựa
đề gốc, mặc dù nó không phù hợp với cách sử dụng đương
thời. Tường thuật chi tiết về Đồng Chí Hội do một nhà
viết sử Việt Nam đương đại, xem Phạm Xanh, <i >Việt nam
Thanh niên Cách mạng Đồng Chí Hội</i> (Hà Nội: nxb Thông Tin
Lý Luận, 1985) [Chú thích người dịch: Năm 1925, quốc tế
cộng sản và chính quyền Quốc Dân đảng dưới sự
lãnh đạo của Tôn Dật Tiên mở ra sự liên hiệp Quốc
Cộng. Vì thế, phái bộ Michael Borodin được quốc tế
cộng sản gửi đến làm việc với Quốc Dân Đảng. Chu
Ân Lai trong sự liên hiệp này cũng được làm chính trị
viên cho trường Đại học quân sự Hoàng Phố ở Quảng
Đông. Sự liên hiệp này chỉ kéo dài hai năm, và chấm
dứt với cuộc tiến quân bắc phạt của Tưởng Giới
Thạch năm 1927, tàn sát Công xã Quảng Châu và tổ chức
Cộng sản ở Thượng Hải. Sự kiện này được nhà văn
Pháp Andre' Malraunx hư cấu bằng tác phẩm nổi tiếng
thế giới La Condition Hummaine (Thân Phận Con Người) (1930).
Khi đó, Michael Borodin là cán bộ Quốc tế Cộng sản
hoạt động ở Hoa Kỳ được gửi từ Chicago qua Trung
quốc. Hồ Chí Minh làm thư ký cho phái bộ này với bí
danh là Lý Thuỵ, nhờ thông thạo tiếng Trung.]
<sup>3</sup> Yevgenyi Kobelev, <i >Hồ Chí Minh</i> (Matxcơva, nxb
Tiến Bộ, 1983), trang 57
<sup>4 </sup>Ví dụ, xem "Some Considerations of the Colonial
Question" (Một vài cứu xét về vấn đề thuộc địa) một
bài báo được in lần đầu ở tờ <i >L'Humanité (Nhân
Loại)</i> (25/5/1922), xuất hiện ở cuốn "<i >Ho Chi Minh on
Revolution</i>" (Hồ Chí Minh về cách mạng) do Bernard B. Fall biên
tập (New York: nhà xuất bản Signet, 1968), trang 25-26. Phiên bản
tiếng Việt của văn bản gốc bằng tiếng Pháp thì xem trong
Hồ Chí Minh Toàn Tập, Tập 1 (1920 – 1925) (Hà Nội: nxb Sự
Thật, 1980), trang 24-28. Sau đây, viết tắt là TT.
<sup>5</sup> Xem bài diễn văn của ông ở Đại hội Quốc tế
Cộng sản trong TT, tập I, trang 215-31. Phiên bản tiếng Anh thì
nằm trong cuốn "<i >Hồ Chí Minh: Seleted Writings</i>" (Hồ Chí
Minh Tuyển tập) (Hà Nội: nxb Ngoại Văn, 1971), trang 24-36. Xuất
thân nông dân của Hồ ở mức độ nào đó gợi nhớ đến nhà
cách mạng Mac-xít châu Á nổi tiếng khác, Mao Trạch Đông. Tuy
nhiên, cha của Hồ là một nho sĩ, trong khi đó cha của Mao là
một nông dân không biết chữ.
<sup>6</sup> Xem bài diễn văn ở đại hội Quốc Tế Nông Dân
vào tháng 10 1923, trong TT, tập I, trang 153-58. [Chú thích
người dịch: "Một tiếng kêu trong đồng vắng" là câu
viện dẫn lời Phúc Âm Ki-tô giáo nói về việc truyền
đạo của tiên tri Gioan Tẩy Giả, là người đã làm phép
rửa tội Giêsu.]
<sup>7</sup> <i >Hue-Tam Ho Tai, Radicalism and the Origins of the
Vietnamese Revolution</i> (Huệ-Tâm Hồ Tài, Chủ nghĩa cấp tiến
và những cội nguồn của Cách Mạng Việt Nam) (Cambridge: Ấn
quán Đại học Harvard, 1992). Điều tra nghiên cứu lý thú về
những tình trạng lưỡng nan mà trí thức phải đối mặt trong
niên đại chuyển tiếp này, xem của Takashi Shiraishi, <i >An Age in
Motion: Popular Radicalism in Java</i> (Một Thời Đại chuyển động:
Chủ nghĩa cấp tiến bình dân ở Java), 1912 -1926 (Ithaca, Ấn
quán Đại học Cornell, 1990)
<sup>8</sup> "<i >Some Considerations,</i>" (Một vài cứu xét…),
trang 26
<sup>9 </sup> "<i >Gửi chủ tịch đoàn quốc tế cộng
sản</i>", Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 1, trang 314
<sup>10</sup> Nguyễn Lương Bằng, "<i >My Meetings with Comrade Hồ
Chí Minh"</i> (Những lần tôi gặp Đồng Chí Hồ Chí Minh),
trong cuốn "<i >Nash Presiden Ho Shi Minh"</i> (Chủ tịch Hồ Chí
Minh của chúng ta) (Hà Nội, 1967), trang 81-82
<sup>11</sup> Một cuộc thảo luận lí thú về Serge Nechayev,
xem Adam B. Ulam, "<i >In the Name of the People: Propheis and Conspirators
in Prerevolutionary Russia</i>" (Nhân danh nhân dân: Những tiên tri
và những kẻ âm mưu ở nước Nga trước cách mạng (New York:
nxb Viking, 1977). David Marr cũng ghi nhận đặc tính Nho giáo trong
nguyên tắc đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh. Xem <i
>Vietnamese Tradition on Trial 1920-1945</i> (Truyền thống Việt Nam
trong thử thách 1920-1945) (Berkeley: Ấn quán Đại học
California, 1981), trang 375
<sup>12</sup> Từ Trung Văn "ge-ming" (theo lối phiên âm
Wade–Giles là "ko-ming") thường được dịch ra tiếng Anh là
"thay đổi mệnh trời". Chi tiết, xem Huệ-Tâm Hồ Tài, Chủ
nghĩa cấp tiến, trang 170.
<sup>13</sup> TT, trang 186. Tôi đã dùng phiên bản có sẵn ở
đây ở trang 177-254.
<sup>14</sup> Như trên, trang 206-7, có lẽ Hồ Chí Minh làm độc
giả hoang mang ở chỗ nãy, vì ông không giải thích Cách Mạng
Nga cũng là cuộc cách mạng hai giai đoạn. Nhưng chắc là ông
đã thảo luận vấn đề này ở lớp với những học viên.
<sup>15 </sup>Kiến giải của Lê Nin về quan niệm này thì xem
thêm trong "<i >Bản sơ thảo luận cương về vấn đề dân
tộc và thuộc địa</i>" (ở đại hội Quốc Tế Cộng Sản
lần thứ 2).
<sup>16</sup> TT, trang 197, 203.
<sup>17 </sup>Như trên, trang 242 - 244. <i >French Colonialism on
Trial</i> (Chủ nghĩa thực dân Pháp trong thử thách) dường như
được khuôn mẫu theo cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Emile
Zola về vụ án Dreyfuss, <i >Tôi kết tội J'Accuse</i>, là một
phê phán kịch liệt về những thất bại của nước Pháp ở
các thuộc địa. [Chú thích người dịch: <i >Tôi kết
tội</i> là một văn bản chính trị của tiểu thuyết gia Emile
Zola xuất hiện năm 1898, nhưng đây không phải là cuốn tiểu
thuyết mà chỉ là bài báo lên tiếng về lương tâm của giới
trí thức trước sự bài Do thái của quân đội và chính phủ
Pháp]
<sup>18</sup> "<i >The Party's Military Work among the Peasants:
Revolutionary</i>" (Công Tác Quân Sự của Đảng trong Nông Dân:
Những Phương pháp du kích cách mạng), trong cuốn "<i >Armed
insurrection</i>" (Khởi nghĩa vũ trang), biên tập A. Neuberg (Luân
Đôn: nxb New Left Books [Tủ sách tân tả phái], 1970).
<sup>19</sup> Những tài liệu về đại hội tháng 2 năm 1930 có
trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, trang 295-306. Có bằng chứng rằng
Hồ đã quyết định một số vấn đề trong những luận cương
này trước khi ông đến Hồng Kông. Dĩ nhiên, có thể ông không
được biết về những quyết định đã đạt được ở đại
hội Quốc Tế Cộng Sản lần thứ 6, nhưng một vài học giả
ở Hà Nội tin chắc rằng ông đã nhận biết được sự dịch
chuyển hệ tư tưởng ở Matxcơva thậm chí trước khi ông lên
đường di Xiêm.
<sup>20</sup> Những nhà sử học ở Hà Nội hiện nay có những
ý kiến khác nhau về việc liệu Hồ Chí Minh có tham gia Đại
hội tháng mười hay không. Bất kể như thế nào, chắc chắn
một điều rằng những quyết định đạt được dẫn tới
việc loại bỏ những quan điểm của Hồ khi ông phát biểu ở
Hội nghị thống nhất vào tháng Hai và trong Đường Kách Mệnh
ba năm trước đó.
<sup>21</sup> Để quy chiếu và một sự thảo luận ngắn, xem
cuốn sách của tôi "<i >The Communist Road to Power in Vietnam</i>"
(Con đường đưa Cộng Sản đến quyền lực ở Việt Nam)
(Boulder, nhà xuất bản Westview Press, 1981), trang 48.
<sup>22 </sup>Phỏng vấn với Ngô Phương Ba, 10/12/1990.
<sup>23</sup> Kobelve, Ho Chi Minh, trang 89. Một đoạn trích ngắn
từ tác phẩm của Lê Nin "Làm gì" (<i >What is to be Done</i>"
nằm ở tựa đề của Đường Kách Mệnh.
<i>Chuyển ngữ tại Sài-gòn
2013/09/15</i>
<i>Hiệu đính tại Sài-gòn
2013/09/22</i>
<b>Nguồn:</b> William J.Duiker, What is to be Done? Hồ Chí
Minh's Đường Kách Mệnh." <i>Essays into Vietnamese Parts</i>.
K. W. Taylor and John K. Whitmore, eds. New York: Cornell University
Southeast Asia Program, 1995.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130924/william-j-duiker-lam-gi-duong-kach-menh-cua-ho-chi-minh),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét