Karl Graf Ballestrem - Vài Nhận Định Sai Lầm Của Karl Marx Về Quan Điểm Của Adam Smith

<blockquote><strong>Lời người dịch:</strong> Karl Marx là một nhà
nghiên cứu về lịch sử tư tưởng kinh tế. Dù uyên bác và
làm việc nghiêm túc nhưng ông không tránh khỏi sai lầm. Cụ
thể là khi viết Tư Bản Luận, Marx không đề cập đến thành
tích đóng góp của phong trào Khai Sáng Tô Cách Lan trong tiến
trình thay đổi suy luận kinh tế của châu Âu. Marx liệt kê Adam
Smith và David Ricardo vào chung một học phái, mà cả hai sống
vào hai thời điểm và có nội dung khảo hướng khác nhau. Marx
còn hiểu lầm Smith là học trò của Ferguson. Nhưng quan trọng
nhất là Marx có hai phê phán sai lạc về quan điểm của Smith.

Thứ nhất, Marx đã quy kết Smith là "đại biểu khoa học của
gia cấp tư sản". Là một giáo sư Đạo Đức học, Smith không
hề đảm nhận vai trò này trong thực tế. Lý thuyết của Smith
qua tác phẩm "Sự Thịnh Vượng Cuả Đất Nước" đào sâu
hiện tượng xã hội trong bối cảnh "lịch sử tự nhiên của
xã hội dân sự". Smith luôn biện hộ cho một chính sách kinh
tế có thể tác động đến tăng lương công nhân và hạ giá
bán sản phẩm. Smith không hề bảo vệ quyền lợi của người
giàu và quyền thế, mà ông còn công khai phê phán thái độ
đàn áp công chúng giới lãnh đạo thủ cựu và lừa bịp của
giới tư sản. Do đó, quy kết của Marx không dựa theo quan
điểm xã hội của Smith.

Thứ hai, Marx xem lý thuyết giá trị và phân phối của Smith sai
lầm, vì Smith không hiểu chức năng của tiền tệ trong phân
công lao động và trao đổi hàng hoá và Smith cũng không nắm
bắt được quyền lực lao động trong tiến trình sản xuất. Do
không khám phá nguồn gốc tư bản thống trị xã hội, nên Smith
không lý giải được tại sao của cải xã hội gia tăng mà có
phân phối bất công.

Thực ra, Smith lập luận chiếm hữu trong xã hội dân sự có
chức năng lao động của con người, nhưng cũng là thành quả
của sử dụng bạo lực và lưà đảo. Phân phối hoặc chiếm
hữu giá trị không phải luôn luôn là nguồn gốc của giá trị
và luật giá trị không tạo nên xã hội tư sản. Smith không
giới hạn phân phối của cải xã hội chỉ có trong ba giai cấp
điền chủ, sở hữu chủ tư bản và lao động. Khi giải thích
doanh lợi chỉ là do giá bán cao hơn giá trị hoặc là do lừa
đảo quyết định, ý tưởng này là sai lầm, vì Smith cho là
còn có nhiều yếu tố khác tác động. Smith giải thích doanh
lợi là phần trích xuất từ giá trị sản xuất. Khi mọi
người không vi phạm luật công bình thì họ có hoàn toàn tự
do để theo đuổi quyền lợi riêng và có quyền mang tư bản
vào đầu tư kinh tế để cạnh tranh với người khác theo cách
của mình. Doanh lợi và điạ tô không những chỉ có chức năng
tiền lương mà còn có chức năng giá cả. Do đó, Smith biện
minh "hệ thống tự do tự nhiên" dựa trên lập luận hữu dụng
nhằm phục vụ quyền lợi tốt đẹp nhất cho đại đa số
quần chúng.

Dù có nhận định sai lầm về Smith nhưng Tư Bản Luận của
Marx vẫn còn có những giá trị giới hạn nhất định.

Nguyên tác Anh ngữ của bản dịch là "Karl Marx and Adam Smith:
Critical Remarks About The Critique Of Political Economy" đăng trong:
Contemporary Marxism, James J. O´Rourke et al.(eds.), 1984, D. Reidel
Publishing Company, 21-38. Karl Graf Ballestrem (1937-2007), là Giáo sư
Triết học và Chính trị học tại các Đại học Chicago,
Notre-Dame (Hoa Kỳ), München và Eichstätt-Ingolstadt (Đức).

Người dịch đặt tựa đề cho bản dịch và đưa chung các
trích dẫn kinh điển và chú giải cuả tác giả vào cuối bản
dịch.</blockquote>

<center>* * *</center>


<div class="boxright220"><img
src="https://danluan.org/files/u1/sub03/image001_26.jpg" width="331"
height="500" alt="image001_26.jpg" /></div>
Nếu luận về phương pháp để so sánh giữa hai tác phẩm "Sự
Thịnh Vượng Cuả Đất Nước" của Adam Smith và "Tư Bản
Luận" của Karl Marx thì chúng ta sẽ thấy có sự dị biệt quan
trọng và rõ rệt: Trong khi Smith cố gắng tổng quát hoá những
kinh nghiệm (mà ông tìm ra qua tư liệu lịch sử, thống kê và
đàm luận với thương giới ở thành phố Glasgow) và kiểm
chứng lại những phương cách này để lý giải với một tầm
vóc rộng hơn về những hiện tượng được chứng nghiệm (theo
quy luật khoa học của Newton), thì Marx qua tiểu tựa đã cho
thấy Tư Bản Luận là bàn về „Phê Phán Về Kinh tế Chính
Trị Học". Tư Bản Luận khởi đầu với suy đoán lý thuyết
của những nhà kinh tế tư sản để chứng minh những phạm trù
và quy luật vừa lộ vừa ẩn và đều không có khả năng giải
thích được thực trạng của hệ thống kinh tế tư bản. Đối
với Smith, việc tham khảo tài liệu kinh tế cổ điển và hiện
đại giúp cho ông soi sáng thêm quan điểm, nhưng ông không cần
đến các thuyết trọng thương và trọng nông để lý giải cho
luận thuyết của mình. Đúng hơn về sau (đặc biệt là trong
quyển IV của „Sự Thịnh Vượng Cuả Đất Nước"), ông thảo
luận về các lý thuyết, nhưng chỉ để nhằm soi sáng ưu thế
trong hệ thống lý thuyết. Ngược lại, Marx nghiên cứu cẩn
trọng về các sách vở kinh tế trên 200 năm qua để khám phá
về „Phân Tích Về Xã Hội Tư Sản" và giới thiệu như một
tiền đề trong lý thuyết phê phán (ngay từ đầu quyển I Tư
Bản Luận) mà ông coi là những phạm trù và nguyên tắc cơ
bản của "Kinh Tế Chính Trị Học Cổ Điển".

Khi chúng ta lưu tâm đến tầm quan trọng của khoa học kinh tế
chính trị cổ điển để tìm hiểu Marx về phê phán xã hội
tư sản, một vấn đề có liên quan đặc biệt là liệu Marx có
quan tâm đến James Steuart hay Adam Smith hoặc David Ricardo không
hoặc là Marx có chú ý lý giải trung thực về các lý thuyết
của họ không hoặc Marx có sử dụng chọn lọc các công trình
này để đúc kết xem các lý thuyết này có cục bộ và tự
mâu thuẫn hay không. Dù thế, vấn đề này không đáng được
quan tâm. Trong số những học giả Mác xít, lý thuyết của các
nhà kinh tế tư sản thường được trình bày theo quan điểm
phê phán thiên về Marx và trích lời của Marx.[1] Đối với các
sử gia về tư tưởng kinh tế không theo Mác xít, thì Marx thực
ra là kinh tế gia, nhưng không phải là nhà phê phán về lý
thuyết kinh tế.[2]

Những nhà nghiên cứu khoa học về Marx là những người hiểu
phương pháp lý thuyết phê phán của Marx nhưng không có khuynh
hướng hoặc thẩm quyền để lập luận chống lại lý giải
kinh điển của Marx về kinh tế tư sản. [3]

Dĩ nhiên, tiểu luận này không cố ý thách thức đến toàn bộ
công trình phê phán về kinh tế chính trị học của Marx. Điều
tôi muốn minh chứng là so sánh những gì Marx nói về những lý
thuyết kinh tế tư sản với nghiên cứu lý thuyết được trình
bày nghiêm túc trong toàn cảnh lịch sử và hệ thống. [4] Bởi
vì Marx coi Smith và Ricardo là những nhà lập thuyết cho trường
phái kinh tế cổ điển loại thượng hạng, thí dụ này là
một dẫn chứng quan trọng. Nhưng khi tôi muốn minh chứng quan
điểm của Marx đối với Smith là phiến diện và không thuộc
về lịch sử, tôi không suy đoán rằng quan điểm của Marx cũng
đúng cho Ricardo và những người khác. Cho dù trường hợp này
có đúng đi nữa, tôi cũng không suy luận là kết luận của
Marx về hệ thống kinh tế tư bản là sai.

Dù tôi tự đặt giới hạn cho đề tài, tuy nhiên, mối quan hệ
về loại phê phán mà tôi đề xuất rất minh bạch. Để có
thể minh chứng Marx hiểu sai về Smith hay Ricardo là có một
trọng lượng phê phán khác biệt, tôi có so với dẫn chứng
khác, thí dụ như Smith hiểu sai về thuyết trọng nông. Điều
này có thể nhận xét qua thí dụ sau đây. Chúng ta hãy suy đoán
về các sách vở kinh điển của tư sản là không bao giờ nói
đến lao động và trao đổi các mặt hàng tương đương như
phương thức tiêu biểu của chiếm hữu và phân phối trong
"những xã hội dân sự". Ngay từ khởi đầu của Tư Bản Luận
điểm chính khi phân tích giá trị và trao đổi là chứng minh
lao động và trao đổi hàng hoá tương đương như biểu hiện
tất yếu về những nguyên tắc đặc trưng của chiếm hữu và
phân phối của xã hội tư bản (như là một hình thức chống
lại xã hội phong kiến). Và chỉ có khi thay đổi cách nhìn từ
trên bình diện này (phạm vi trao đổi) đến chiều sâu thuộc
cấu trúc (phạm vi sản xuất tư bản) thì người ta mới hiểu
được bản chất của thặng dư và doanh lợi.


<div class="boxright220"><img
src="https://danluan.org/files/u1/sub03/image003_15.jpg" width="185"
height="273" alt="image003_15.jpg" /></div>
Tuy nhiên, Marx không chứng minh được cho suy đoán của mình là
xã hội tư sản thể hiện tất yếu theo chiều hướng này cho
các thành viên. Bằng chứng duy nhất của Marx là „kinh điển
của kinh tế chính trị học" đã có nói như thế. Đó chính
là lý do tại sao Marx lý giải về thặng dư và doanh lợi có
hình thức phê phán của kinh tế chính trị học. Ngày nay, nếu
"kinh điển" có nghĩa là một cái gì đó hoàn toàn khác, thì lý
giải của Marx về thặng dư và doanh lợi vẫn có thể còn
đúng, nhưng hình thức đặc biệt trong lập luận của Marx
không còn thuyết phục.

Tiểu luận này chia làm hai phần. Phần thứ nhất thảo luận
về điểm Marx đã hiểu đại cương về lý thuyết xã hội
của Smith như thế nào. Phần thứ hai bàn đến vấn đề Marx
có thừa nhận lý thuyết giá trị và phân phối của Smith là
có đúng không.

<h2>Lý thuyết xã hội của Adam Smith</h2>

Trước hết, đối với các sử gia đương đại, Adam Smith là
một trong các nhân vật chủ yếu của „Phong Trào Khai Sáng Tô
Cách Lan".[5] Cùng với bạn là David Hume, ông thuộc về nhóm
học giả kiệt xuất mà qua những công trình này chúng ta có
thể nhận ra sự thay đổi tư tưởng của con nguời và xã hội
từ khoa học quy phạm cổ truyền đến khoa học xã hội hiện
đại. Khởi đầu của thời kỳ chuyển hoá này ta có thể tìm
thấy qua tác phẩm Treaties of Human Nature (1739/1740) của Hume,
đặc biệt là trong quyển III Of Morals. Tác phẩm này giải thích
và phê phán về kết ước xã hội theo thuyết tự nhiên. Việc
giải thích này trở nên hiển nhiên hơn trong tác phẩm Theory of
Moral Sentiments (1759) của Smith mà Smith xem các vấn đề đạo
đức học như là một đối tượng thuộc về khoa tâm lý xã
hội.

Essay on the History of Civil Society (1767) của Adam Ferguson và Origin
of the Distinction of Ranks (177 của John Millars là những tác phẩm
tiêu biểu tiên khởi cho những nghiên cứu về khoa học xã hội
thực nghiệm và được xem như là công trình tiên phong của xã
hội học hiện đại. Inquiry into the Nature and Cause of the Wealth of
Nations của Adam Smith là tác phẩm về kinh tế chính trị đầu
tiên theo khoa học xã hội thực nghiệm.

Dù có loại trừ David Hume một phần nào thì một đặc điểm
chung của các tác giả này là họ nỗ lực giải thích hiện
tượng xã hội trong bối cảnh lịch sử, nói một cách chính
xác hơn, trong khuôn khổ của "lịch sử tự nhiên của xã hội
dân sự". Các sử gia về lý thuyết nêu rõ điểm tương đồng
trong khảo hướng về „lịch sử tự nhiên" của trào lưu
khai sáng Tô Cách Lan và „khái niệm biện chứng lịch sử"
của Marx. Thứ nhất, điểm tương đồng có thể tìm thấy quy
luật này trong khái niệm về con người như một tác nhân tích
cực nhằm thoả mản nhu cầu ngày càng tăng qua lao động. Thứ
hai, các tác giả Tô Cách Lan suy đoán là các xã hội có khuynh
hướng phát triển qua những giai đoạn lịch sử nhất định,
thể hiện qua các đặc tính sản xuất và chiếm hữu khác nhau
(thí dụ như giới săn bắn, nuôi cưù, nông gia và thương
nhân). Thứ ba, họ cố lý giải các thể chế xã hội và chính
trị bằng cách quy chiếu với những phương thức sản xuất và
sở hữu. Sử gia William Roberton, người bạn của Adam Smith,
diễn đạt nguyên tắc này qua hình thức như sau: "Trong bất cứ
một cuộc khảo sát nào về hoạt động của con người khi
hợp quần vào xã hội, thì mục tiêu đầu tiên cấn phải chú
ý là phương thức sinh tồn. Khi phương thức này thay đổi thì
các quy luật và chính sách phải thay đổi theo." [6]

Đối với các tác giả Tô Cách Lan, lịch sử không luôn được
xem là thăng tiến vì sự tiến bộ trong lĩnh vực này phải
trả bằng một giá là tai ách hay xung đột trong lĩnh vực khác.
Chính vì thế mà đi theo sau chiếm hữu đất đai tư nhân, phát
triển phân công lao động và du nhập thương mại và kỹ nghệ
chế biến là gia tăng năng suất nhưng cùng song hành với nó là
nỗi khốn khó ngày càng nhiều của nhân dân lao động, xung
đột xã hội và suy đồi đạo đức công cộng. Trong khi
Ferguson không tìm ra giải pháp cho tính biện chứng của tiến
bộ và suy thoái này, nên ông hoàn toàn bi quan trong nhận định
những xã hội hiện đại. Smith và Millar tin rằng họ khám phá
khuynh hướng lịch sử nhằm làm gỉảm mối quan hệ của
thống trị và tăng tự do cá nhân. „Hệ thống tự do theo tự
nhiên" của Smith là một phương thức xã hội tương lai mà
các lực lượng của thị trường có khuynh hướng làm tăng
lương và hạ giá bán, nhờ thế mà thực hiện được quyền
lợi của đại đa số dân chúng.

Marx có khả năng giải thích Smith trong bối cảnh tư tưởng
của Tô Cách Lan vào thế kỷ XVIII. Marx không những đọc Wealth
of Nations của Smith và Essay của Hume mà còn Essay on the History of
Civil Society của Ferguson và Origin of the Distinction of Ranks của
Millar. [7] Marx nhận xét Smith là học trò của Ferguson, dù đây
là một điều sai, nhưng cũng chúng tỏ Marx biết được những
mối quan hệ cá nhân của nhóm này. [8] Tuy nhiên khi đọc Marx
không ai có cảm tưởng rằng Smith là người thuộc phong trào
khai sáng Tô Cách Lan. Smith được luôn đề cập chung với
Ricardo, dù về phương diện lịch sử, người ta không thể kỳ
vọng có điểm tương đồng giữa một vị giáo sư Đạo đức
học ở Glasgow với nhà đầu tư chứng khoán tại Luân Đôn,
người mà nửa thế kỷ sau có sáng tác, nhưng trong một môi
trường lý thuyết và xã hội khác biệt.

Nếu Marx là một sử gia về tư tưởng kinh tế, ta không thể
chờ đợi Marx nghiên cứu về luận cương trong lý thuyết xã
hội của Smith và bối cảnh lịch sử của trào lưu khai sáng
Tô Cách Lan. Tuy nhiên, Marx coi những lý thuyết kinh tế tư sản
là những ý thức hệ, một hệ thống tư tưởng có thể trình
bày triển vọng và quan tâm của giai cấp tư sản trong một
bối cảnh lịch sử và xã hội đặc biệt. Để minh chứng
trong trường hợp của Smith, Marx không những chỉ giải thích
quan điểm về doanh lợi và tiền lương trong một cách đặc
biệt (mà tôi sẽ trình bày trong phần sau) mà còn có những ghi
nhận thuộc về lĩnh vực nhân chủng học cá nhân chủ nghiã,
đặc điểm không thuộc về lịch sử trong lý thuyết của Smith
và trong chức năng của Smith là người phát ngôn cho giới tư
sản vào cuối thế kỷ XVIII. Tôi xin cố chứng minh là Marx
giải thích sai lầm khá vụng về về lý thuyết xã hội của
Smith.

Ngay từ đầu tác phẩm Grundrisse Marx khẳng định là Smith và
Ricardo quan niệm về xã hội không thuộc về lịch sử và là
cá nhân. Theo Marx, cả hai suy đoán lầm lẫn về cá nhân hiện
đại là con người tự nhiên, kết quả của một phát triển
lịch sử lâu dài. Khi Smith và Ricardo viết về "những người
đi săn và đánh cá cô lập và cá nhân", cả hai theo một thí
dụ của những nhà tiên tri thế kỷ XVIII mà trong trí tưởng
tượng về mỗi cá nhân này trong thế kỷ XVIII – một phần
là do sản phẩm dựa vào sự giải thể của những hình thái
phong kiến của xã hội, một phần khác là do những lực
lượng sản xuất mới được triển khai từ thế kỷ XVI -.
Sản phẩm này thể hiện một lý tưởng mà sinh hoạt của nó
theo họ phản ảnh được quá khứ. Đó không phải là một
thành quả mà là một khởi điểm lịch sử. Theo khái niệm
bản chất của con người, khi cá nhân thích ứng, đó là do tự
nhiên, mà không do trổi dậy theo dòng lịch sử. Sai lầm này
khá phổ biến cho từng giai đoạn cho đến ngày nay. [9]

Không giống như các sử gia về tư tưởng hiện đại, Marx
không giải thích Smith như là một đại biểu hàng đầu của
khảo hướng "lịch sử tự nhiên". Trong khung cảnh phê phán
của Marx, Smith xuất hiện như là một nhà kinh tế tư sản. Marx
cũng suy đoán về đặc trưng của tư tưởng kinh tế tư sản
để hình dung phương thức sản xuất cuả những xã hội dân
sự hiện đại và „xem thiên nhiên là quy định bất biến cho
mỗi tình trạng xã hội".[10] Marx có viết trong The Poverty of
Philosophy như sau: "Theo những nhà kinh tế đại diện cho những
mối quan hệ tư sản trong sản xuất thì phân công lao động,
tín dụng, tiền tệ là những phạm trù cố định, bất biến
và vĩnh cữu... Họ giải thích cho chúng ta biết là người ta
sản xuất được trong những tình trạng sẳn có như thế nào.
Điều mà họ không giải thích được là những điều kiện
này tự nó được tạo lập ra sao, thí dụ như chuyển động
lịch sử nào đã đem những điều kiện này thành hình".[11]
Trong "kinh điển về kinh tế chính trị học" thì James Steuart là
người duy nhất không bị cáo buộc: "Steuart tránh được quan
điểm hẹp hòi này vì ông là nhà qúy tộc và trong tinh thần
phản luận của thế kỷ XVIII ông đã tôn trọng những cơ sở
lịch sử".[12] Khi Smith và Ricardo thảng hoặc có chú ý đến
lịch sử, họ chỉ muốn chứng tỏ tính ưu thế của thời
hiện tại tư sản so với quá khứ phong kiến. Theo Marx, điểm
này là "nhiệm vụ của họ" vì họ là "đại biểu khoa học cho
giai cấp tư sản".[13]

Marx không nỗ lực chứng minh về đặc điểm ý thức hệ của
lý thuyết Smith từ trong văn bản. Đúng hơn, Smith bị phê phán
tổng quát là có tư tưởng kinh tế tư sản và không liên hệ
đến lịch sử và chỉ biện luận. Tuy thế cần phân biệt
lời cáo giác. Không giống như các nhà biện hộ hậu trào,
Smith và Ricardo được coi là những "nhà kinh tế kinh điển"
bởi vì họ có vị thế mạnh khi diễn tả công khai mối quan
hệ sản xuất trong hình thái thuần tuý của nó".[14] Sáng tác
trong thời kỳ mà đấu tranh giai cấp giữa tư sản và vô sản
chưa thể hiện, họ nêu lên vấn đề khá rõ rệt của hệ
thống tư bản, ngay cả khi mà những suy đoán lý thuyết của
họ không tạo ra nhiều khó khăn[15]. Họ không phủ nhận sự
cực kỳ túng quẩn của giới sản xuất ra của cải trong xã
hội tư sản và chấp nhận là một phó sản của một hệ
thống thăng tiến như định mệnh an bài. "Theo nhãn quan của
họ, sự khốn khổ chỉ là đau thương có từ thuở lọt lòng,
do thuộc bản chất hay do nền kinh tế kỹ nghệ".[16]

<div class="boxright220"><img
src="https://danluan.org/files/u1/sub03/image005_3.jpg" width="164"
height="228" alt="image005_3.jpg" /></div>
Điều đáng suy gẫm về phê phán của Marx là Marx đáng lý
phải biết rằng Smith không chia sẽ về những ảo tưởng của
chủ nghĩa cá nhân trong xã hội tư sản là do bản chất định
sẳn bất biến, mà Smith là một trong số những người đầu
tiên lý giải (trong quyển III Sự Thịnh Vượng Của Đất
Nước) việc cá nhân hiện đại trổi dậy là để thoát ra
khỏi mối quan hệ phong kiến và họ là một lực lượng sản
xuất mới được phát triển từ cuối thời Trung Cổ. Marx cũng
phải biết đó không phải là "những người đi săn và đánh
cá riêng rẽ và biệt lập" mà là những người mà Smith và
Ricardo khởi đầu giới thiệu. [17] „Sự Thịnh Vượng Của
Đất Nuớc" khởi đầu với sự phân tích về phân công lao
động hiện đại và nhận xét đối chiếu "về đất nước
hoang sơ có nhiều người đi săn và đánh cá" ít nhất không cho
thấy Smith nghĩ đến các cá nhân biệt lập. Khi ông dẫn chứng
về hai người đi săn trao đổi hai chiến lợi phẩm trong "một
tình trạng sơ khai và thô thiển của xã hội và đi trước
tích lũy của cải và chiếm hữu đất đai"[18], ông không hề
đề xuất là hình thức lao động, chiếm hữu và trao đổi có
trong thời hiện đại là cũng đã có trong những xã hội sơ
khai. Trái lại, thí dụ này nhằm nhấn mạnh sự khác biệt
giữa trao đổi trong xã hội tư sản (là nơi mà luôn có sự
khác biệt giữa công nhân và chù nhân) và trong xã hội sơ khai
(là nơi mà người ta chỉ sản xuất cho riêng mình và ít khi
mới có trao đổi sản phẩm).

Khẳng định của Marx là Smith và Ricardo có những thái độ
chấp nhận định mệnh và biện hộ về sự khốn cùng của
giới lao động là không có cơ sở trong các công trình của
Smith. Dù khảo hướng về lịch sử tự nhiên ít có tính quy
phạm hơn là các học thuyết luật tư nhiên truyền thống, Smith
bị phê phán thuộc về xã hội mà "người ta lo quần áo cho
cả thế gian trong khi chỉ mang trên mình tấm giẻ rách"[19], và
không đem lại nghi ngờ khi những chính sách nhằm giới hạn cơ
hội của công nhân được thu nhập lương cao hơn, theo ý nghĩ
của ông, là "một vi phạm trầm trọng về tự do tự nhiên và
công bình".[20] Những lời tuyên bố như sau cho thấy rõ thiện
cảm của ông: "Tất cả chỉ dành riêng chúng ta và không có
dành cho người nào khác, dường như đây là một câu châm ngôn
đồi bại của các bậc thầy của nhân loại trong mỗi thời
đại của thế gian".[21]

Thực ra, khó xác định được là Smith là "đại biểu khoa học
của gia cấp tư sản" theo ý nghĩa nào. Thí dụ như dù Marx xem
Steuart là một nhà qúy tộc, vấn đề ý thức hệ hiển nhiên
là không liên hệ gì đến hoàn cảnh xã hội của cá nhân
(nếu không thì ta có thể gọi Marx và Engels là những nhà ý
thức hệ tư sản loại thượng thặng). Đúng ra, đây là vấn
đề họ cùng quan điểm và bảo vệ quyền lợi của một giai
cấp đặc biệt. Tôi đã chứng minh là chủ nghĩa cá nhân và
thiếu ý thức về lịch sử, điều mà Marx suy nghĩ về những
đặc trưng của tư tưởng kinh tế tư sản, không thể tìm
thấy nơi con người Smith. Càng hiển nhiên hơn khi ta không tìm
thấy bất cư nơi nào để chứng minh là Smith bảo vệ cho
quyền lợi tư sản. Trong tác phẩm „Sự Thịnh Vượng Của
Đất Nước" không có một tập đoàn nào - kể cả giới lãnh
đạo thủ cựu "không sản xuất" - bị phê phán cùng mức
độ và cùng đặc điểm giống như thương giới và nhà sản
xuất, chỉ vì với lý do là họ là thiểu số nhưng có phương
tiện tài chính dồi dào, có lối sống thành thị và cận kề
các trung tâm quyền lực. Theo Smith, họ có khả năng can thiệp
vào những động lực của thị trường và gây ảnh hưởng
đến chính trị để phục vụ cho quyền lợi riêng tư. Họ âm
mưu giảm giá lương và tăng giá bán, họ hổ trợ luật pháp
(như luật gia sản và huấn nghệ) để ngăn ngừa cạnh tranh;
họ lập ra thuế quan để giữ ưu thế trước các nhà cạnh
tranh quốc tế; họ gây ảnh hưởng chính sách đối ngoại theo
chiều hướng phiêu lưu thuộc điạ và gây chiến, đồng thời
họ chấp nhận những thiệt hại nặng nề cho đất nước
nhằm thủ lợi cho riêng mình.

Phê phán của Smith về thuyết trọng thương phải được nhìn
trong bối cảnh chung này và không được hiểu như là lối phê
phán về chính sách kinh tế đối ngoại dựa trên những suy
đoán lý thuyết sai lầm. Chính ra đó là chiều hướng có chủ
yếu chống lại một loại chính sách hoàn toàn phù hợp với
quan điểm về quyền lợi đặc biệt của thương giới và nhà
sản xuất, thường thì thành công, nhưng gây thiệt hại cho
công nhân và người tiêu thụ, và cho đa số. Smith đoan chắc
là không có một xã hội dân sự nào tồn tại và thịnh
vượng mà không có nhóm này, sáng kiến của họ đem lại việc
sử dụng tư bản sinh lợi có thể tạo nên một vai trò hữu
ích. Nhưng Smith cũng cảnh báo rằng quyền lợi riêng của nhóm
này có thể đối nghịch với quyền lợi của các phe nhóm khác
trong xã hội. Nó chỉ có thể giữ một vai trò tích cực bền
bỉ và phù hợp nếu khi nhóm này tuân theo quy luật thị
trường tự do, mà thị trường này có khuynh hướng thách
thức.

Dự thảo về luật lệ thương mại trong khuôn khổ này cần
phải được tham khảo với sự thận trọng và không bao giờ
được chuẩn nhận cho đến khi được duyệt xét kỹ càng,
một việc không phải chỉ vì có ý định tham ô mà với tất
cả ngờ vực. Luật pháp này đến từ khuôn khổ của những
con người mà những quyền lợi của họ không bao giờ hoàn
toàn giống như quyền lợi của công chúng. Nói chung, họ quan
tâm đánh lừa và đàn áp công chúng, và cũng khi họ đã làm
hai việc này có cơ hội thuận tiện.[22]

Nhận xét này cũng đủ chứng tỏ rằng khi Marx xem Smith là
"đại biểu khoa học của gia cấp tư sản", Marx đã diễn
giải sai lạc về luận cương của Smith trong lý thuyết xã
hội. Thay vì đặt ra ngoài vòng lịch sử, lý thuyết của Smith
cố giải thích hiện tượng xã hội trong bối cảnh "một lịch
sử tự nhiên của xã hội dân sự". Thay vì đơn thuần chấp
nhận cảnh khốn cùng của công nhân, Smith biện hộ cho một
chính sách kinh tế có thể tác động tương đối đến tăng
lương và hạ giá bán. Thay vì bảo vệ cho quyền lợi của
người giàu và quyền thế, Smith công khai phê phán không những
giới lãnh đạo thủ cựu mà còn cả giới tư sản mới. Sự
giải thích sai lệch này, vì đó chính là tiền đề phê phán
của Marx về ý thức hệ, nên ảnh hưỏng đến nội dung phê
phán của Marx về kinh tế chính trị. Đó là vấn đề cần xét
tới.

<h2>Lý Thuyết Giá Trị Và Phân Phối Của Adam Smith</h2>

Giới nghiên cứu Tư Bản Luận qua chiều hướng của Grundrisse
thấy rằng phương pháp của Marx mất vài đặc điểm bí hiểm.
Những nhận xét của Marx về phương pháp luận qua những công
trình được ấn hành lúc sinh thời cũng không soi sáng nhiều
hơn. Đề cương về khái niệm của thuyết duy vật lịch sử,
như đã đưọc phác hoạ trong trong tựa đề nổi tiếng trong
năm 1859 [23], dường như không có tác dụng trực tiếp trong
việc phê phán kinh tế chính trị học. Nhận xét của Marx về
thuyết biện chứng của Hegel và „ý định làm đảo ngược
thuyết này lần nữa" được đề cập trong hậu từ dành cho
ấn bản Đức ngữ lần thứ hai của Quyển I Tư Bản Luận
[24]. Nhưng với nỗ lực giải thích thuyết duy vật biện chứng
bằng cách quy chiếu vào vật lý và sinh vật học [25], thì Marx
lại làm mù mờ hơn về những điểm phương pháp luận trong
khoa học xã hội phê phán.

Chúng ta có thể giải thích Tựa Đề của năm 1859 - đựợc xem
như một trong những công trình xuất sắc của Marx - là một
phác thảo chung về phương pháp khảo sát của Marx (hướng dẫn
cho các nghiên cứu của ông). Một điều chắc đó không phải
là một khuôn mẫu cho phương pháp trình bày của ông. Tư Bản
Luận không xuất phát từ một phân tích về phương thức sản
xuất đi trước chủ nghiã tư bản và của những động lực
sản xuất nhằm đưa tới những hình thái sở hữu chủ tư
bản để vạch ra thể chế và ý thức hệ của xã hội tư
sản. Marx không chọn một phương thức trình bày theo cách liên
tục như di truyền. Hiện nay các học giả nghiên cứu Marx
đồng ý rằng chương đầu của Tư Bản Luận không đề cập
tới thí dụ lịch sử của "những xã hội sản xuất hàng hóa
đơn giản". Càng rõ nét hơn khi công trình này không nỗ lực
giải thích "thượng tầng kiến trúc" thông qua phân tích „nền
tảng thực tế" của xã hội tư sản. Ngược lại, khi "phê
phán về kinh tế chính trị học" việc khởi đầu là phân tích
về những hình thức tiêu biểu của ý thức tư sản để
chứng tỏ những hạn chế và mâu thuẫn tất yếu.

Khoa học giữ một hình thức phê phán trong mức độ mà khoa
học không những có thể giải thích được hiện tượng không
trung thực trong ý nghiã thông thường, - một biểu hiện giả
tạo của thực tại - những hình thức của ý thức sai lạc,
nhưng nhờ vào cấu trúc của thực tại, mà khoa học còn giải
thích được hiện tượng thể hiện tất yếu hình thức sai
lạc đối với những người không có tinh thần phê phán.

Trong tư duy của giới tư sản, phê phán kinh tế chính trị học
khởi đầu bằng cách phân tích các hiện tượng thể hiện như
là một hình thức tư tưởng xãy ra thông thường [26]. Hình
thức tư tưởng này được hình thành và hệ thống hóa trong
những phạm trù và luật pháp của kinh tế chính trị. "Thoạt
tiên, sự thịnh vuợng của xã hội tư sản do tích lũy vô số
hàng hoá, hàng hoá đơn sơ như điều kiện sống cơ bản" [27].
Chính thế mà phê phán bắt nguồn từ sự phân tích phạm trù
hàng hoá (theo ý nghĩa của giá trị, lao động và tiền lương)
và „quy luật giá trị" (hàng hoá được trao đổi tùy theo
giá trị - giá trị được xác định bằng thời gian lao động
trung bình cần thiết bỏ ra). Phê phán nhằm tiến hành chứng
minh là đặc điểm của nền kinh tế tư bản, thí dụ như sản
xuất tư bản, không thể lý giải dựa trên mức độ về
„luân chuyển đơn giản của hàng hoá" theo quy luật giá
trị.

Đồng hành với người có tiền và người chiếm hữu quyền
lao động, chúng ta rời bỏ một lĩnh vực khá ồn ào trong một
khoảng thời gian, nơi mà mọi chuyện xãy ra trên bình diện và
được mọi người chú ý, và chúng ta cùng theo họ tới một
điạ điểm sản xuất kín đáo… Ở đây, chúng ta hiểu không
những tư bản là gì mà còn hiểu nó được tạo ra như thế
nào. Cuối cùng, chúng ta khám phá bí mật của sự sản xuất
dư thừa. [28]

Lý thuyết thặng dư giá trị giải thích bản chất của hệ
thống kinh tế tư bản chủ nghiã. Từ trên cơ sở này, phê
phán có thể trở lại bình diện để lý giải về doanh lợi,
tiền lương và hưu bổng - trước tiên trong tổng quát, sau đó
trong điều kiện cụ thể của thời gian và cạnh tranh. Khởi
đầu quyển III của Tư Bản Luận, chúng ta tìm thấy khẳng
định sau đây:" Khi chúng tôi khởi thảo vấn đề trong sách
này, thì việc tạo lập tư bản tiến hành tuần tự mà hình
thức thể hiện trên bình diện xã hội, trong sự tương tác
của các tư bản khác nhau khi cạnh tranh và trong tinh thần ý
thức chung của các tác nhân sản xuất".[29]

„Biểu hiện" là một phạm trù của ý thức: một cái gì
đó chỉ thể hiện trong ý thức của chủ thể. Khi Marx phê
phán và lý giải những biểu hiện trên bình diện xã hội tư
sản, đôi khi ông đề cập tới "các hình thức trung bình của
tư tưởng", "ý thức chung của các tác nhân sản xuất", hoặc
là "những ý kiến thô bỉ của thương nhân tự do" [30]. Tuy
nhiên, đối tượng đặc biệt của Marx về phê phán không
phải là ý thức của giới tư sản trung bình, nhưng là của
"những đại biểu khoa học của gia cấp tư sản", đặc biệt
là của "giới kinh điển của kinh tế chính trị học". Trong
phần bàn về tiền lương (Tư Bản Luận, Quyển I Chương 17)
Marx chứng minh mối quan hệ chặt chẽ giữa những lý thuyết
kinh tế khoa học và ý thức của giới tư sản trung lưu.

Trên bình diện xã hội tư sản tiền lương công nhân là giá
của lao động... Kinh tế chính trị cổ điển vay mượn phạm
trù giá lao động trong ngôn ngữ của đời sống hàng ngày mà
không phê bình sâu xa hơn, và chỉ đơn thuần đặt vấn đề
là giá cả được quyết định như thế nào... Kinh tế chính
trị cổ điển gần chạm đến mối quan hệ đích thực của
vấn đề, tuy nhiên hầu như tránh trình bày vấn đề một cách
có ý thức. Điều này làm vấn đề không dính vào da của
giới tư sản. [31]

Đối tượng đặc biệt mà Marx phê phán là những phạm trù và
luật lệ của chủ nghĩa tư bản. Khi ta cho rằng vấn đề đã
được trình bày trong kinh tế chính trị cổ điển thì dường
như ta chỉ gặp trong quyển IV của Tư Bản Luận, mà chủ đề
chính gọi là Lý Thuyết Về Thặng Dư Giá Trị mà những lý
thuyết của các nhà kinh tế tư sản có đề cập đến khó
khăn này trong chi tiết. Những thảo luận ngắn về các đề
tài này có thể tìm ra trong phần lý thuyết của Tư Bản Luận
(luôn ở trong phần chú thích) có thể được loại bỏ dễ
dàng mà không gây ảnh hưởng đến các lập luận. Tuy thế, khi
tham khảo lý thuyết về thặng dư giá trị như là một loại
tư tưởng lịch sử không liên quan đến lý thuyết, đó là
một sai lầm nghiêm trọng. Điều này được trình bày trong
phần đầu của quyển sách. [32] Trong phần thảo luận đào sâu
về những lý thuyết kinh tế tư sản (lý thuyết XHCN và cộng
sản không đưọc đề cập tới) [33] thì ở đây chính là nơi
mà Marx diễn đạt trọn vẹn lý thuyết thặng dư. Đầu tiên,
Marx định đưa vấn đề „duyệt xét lịch sử" vào trong
phần lý thuyết phù hợp. Chỉ khi vấn đề được triển khai
trong khuôn khổ này, Marx quyết định chuyển vấn đề thành
một chuyên đề riêng biệt là "một sự tái lập trong hình
thái lịch sử" của vấn đề mà nó được thảo luận và
giải quyết trong các chương trước". [34]

Tiểu tựa của Tư Bản Luận không đề cập đến bất cứ
phần đặc biệt nào của công trình. Toàn bộ công trình từ
đầu đến cuối có nghĩa là "Phê phán về Kinh Tế Chính Trị
Học". Giữa quyển đầu và quyển chót của bộ sách chỉ có
một sự khác biệt, phần đầu đúc kết trong trừu tượng -
như phê phán của những phạm trù chủ yếu và luật lệ của
xã hội tư sản khi nó thể hiện trong ý thức tư sản - phần
cuối nỗ lực đúc kết trong cụ thể - như là một lối phê
phán về các lý thuyết tư sản đặc biệt. Về cơ bản thì
đối tượng phê bình trong từng trường hợp một là giống
nhau: Marx giả định những lý thuyết này, dù có sự khác biệt
và thay đổi trong viễn cảnh giữa thế kỷ XVII và XIX, được
lập lại những đặc điểm chung của ý thức tư sản trong
những mức độ sâu xa và phức tạp khác nhau. [35]

Trong tác phẩm Grundrise Marx nhấn mạnh nhiều lần là xã hội
tư sản - không giống như xã hội chiếm hữu nô lệ của thời
Thượng Cổ và xã hội phong kiến thời Trung Cổ - thể hiện
như là hình thức hợp tác giữa những người sở hữu chủ
hàng hoá có tự do và bình đẳng. Không một ai bị bắt buộc
phải làm việc cho người khác, không một ai phải cho mà không
nhận. Nhờ phân công lao động, mỗi người có thể tự chuyên
môn hoá trong sản xuất một loại hàng đặc biệt - thông qua
trao đổi tương đương – doanh lợi từ lao động của người
khác[36]. Khi một người chiếm hữu bất kỳ loại gì, dù sản
phẩm là công trình của mình hoặc là của người khác, đều
có tự do chia phần sản phẩm và nhận phần tương đương.

Ngay trong vận hành, tiến trình của trao đổi thể hiện trên
bình diện của xã hội tư sản, mỗi người đều cho khi nhận
và có nhận khi cho. Làm việc này hay việc khác, người ta phải
có một cái gì... Vì thế mà tất cả các nhà kinh tế hiện
đại tuyên bố lao động của riêng mình như là loại quyền tư
hữu... và quyền sở hữu chủ của thành quả lao động được
xem như là một suy đoán cơ bản của xã hội tư sản. [37]

Nhưng đâu là bất công giữa giàu nghèo? Đâu là khốn cùng
của gia cấp lao động trong xã hội tư sản? Những gì làm nhà
kinh điển quan tâm phê phán kinh tế chính trị học - không
giống như các nhà biện hộ hậu trào – khi họ không hề phủ
nhận thực tế của nghèo đói và bất công, nhưng họ cũng
không nỗ lực để lý giải vấn đề qua lười biếng và
những yếu tố tâm lý và đạo đức tương tự. Họ chấp
nhận nghèo đói và bất công là những hậu quả tất yếu của
xã hội tư sản. Họ muốn lập luận chiếm hữu qua lao động
và trao đổi những tương đương là những nguyên tắc hình
thành xã hội. Lập luận này mang đến cho họ mâu thuẫn, Marx
nói: "từ tất cả những nhà kinh tế học cổ điển cho đến
Ricardo[38] đều lập luận là những nguyên tắc mà họ xem là
tạo hình cho xã hội tư sản chỉ được thực hiện trong cổ
thời trước khi quyền tư hữu thành hình. Khi họ cố lý giải
sản xuất và phân phối trong xã hội tư sản, họ bị giao
động khi chấp nhận sự thật thuộc về „quy luật giá
trị" và quan hệ với các thế lực và gian xảo như là nguồn
gốc của doanh thu và nguồn lợi.

Theo Marx, những sai lầm và mâu thuẫn của hầu hết các nhà
kinh tế tư sản là có thể hiểu được. Họ không có một
phương cách trực tiếp để khám phá nguồn gốc bất công và
thống trị trong xã hội mà những mối quan hệ xã hội một
phần do kết quả của các hợp đồng giữa những cá nhân có
tự do và bình đẳng, phần khác là do những mối quan hệ khách
quan giữa những sản phẩm có giá trị đặc biệt. [39] Chỉ khi
nào hiểu được chức năng của tiền tệ dựa trên phân công
lao động và trao đổi hàng hoá; chỉ khi nào hiểu được sự
thay đổi tất yếu của tiền thành tư bản; chỉ khi nào nhận
xét được sự sử dụng đặc biệt của quyền lực lao động
trong việc làm ra hàng hoá trong tiến trình sản xuất thì mới
có thể lý giải được các của cải xã hội gia tăng mà phân
phối lại bất công trong một hệ thống dựa trên trao đổi
tương đương.

Trao đổi các tương đương này chỉ trên bình diện sản xuất
dựa vào chiếm hữu lao động của người khác mà không có trao
đổi hoặc trao đổi giả tạo. Hệ thống trao đổi này dựa
trên tư bản làm cơ sở. Khi cơ sở này coi tư bản là một
thành phần của hệ thống và tự thể hiện trên bình diện
như một hệ thống độc lập, đó là biểu hiện đơn thuần
nhưng là biểu hiện tất yếu. Tuy nhiên, hiện nay ta không ngạc
nhiên khi thấy hệ thống giá trị trao đổi... chúng tỏ như là
những nền tảng tiềm tàng của chiếm hữu lao động người
khác mà không có trao đổi, một sự tách biệt toàn diện giữa
lao động và tư hữu. [40]

Để hiểu những gì Marx nói về lý thuyết giá trị và phân
phối của Smith, ta cần nên quan tâm đến những điểm chủ
yếu trong phê phán về kinh tế chính trị học. Dưới nhãn quan
của Marx, Simth là một biểu tượng đặc biệt về những nhận
thức và lầm lạc của kinh tế chính trị học cổ điển. Smith
tạo được uy tín là người đầu tiên diễn đạt trong sáng
về những điểm cơ bản của hệ thống kinh tế dựa trên phân
công lao động và sản xuất hàng hoá. Smith không những chỉ
phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi; mà
còn nhận ra là không có bất kỳ một hình thức lao động
đặc biệt nào khác mà chỉ có lao động tổng quát, một loại
hình trừu tượng tạo nên giá trị hàng hoá. [41] Chỉ dựa
trên cơ sở của nhận thức này ("một bước tiến nhảy
vọt")[42] giúp ta đạt đến quy luật tổng quát về giá trị.
Và Marx cũng nỗ lực chứng minh là Smith luôn chấp nhận quy
luật này được áp dụng trong những xã hội sản xuất hàng
hoá. [43] Mặt khác, Smith lại phân tích mơ hồ về giá trị [44]
và cũng không thể tin được là giữa nhà tư bản và người
lao động có trao đổi tương đương xãy ra. Vì thế, Marx phủ
nhận quy luật chung về giá trị ngự trị trong những xã hội
tư bản ("quy luật tổng quát bị hủy ngay" [45]) và đề xuất
lĩnh vực áp dụng của luật này chỉ trong xã hội nguyên thủy
hay trước thời của Smith. [46]

Theo Marx, mâu thuẫn cơ bản của Smith trong lý thuyết giá trị
và phân phối gồm có việc Smith giả định về luật giá trị
là một nguyên tắc hình thành xã hội tư sản. Trong khi xã hội
sản xuất hàng hoá không quy định mối quan hệ hợp tác, mà
thực ra mối quan hệ này là nguồn gốc chủ yếu cho sự thịnh
vượng xã hội.

Một công trình to lớn của Smith là ông… cảm thấy có một
sư rạn nứt ở điểm này (trong mối quan hệ giữa tư bản và
lao động) và luật giá trị thực sự bị hủy diệt trong kết
qủa ... và cùng với tích lũy tư bản luật giá trị bị đảo
lộn tạo bao nhiêu khó khăn. Đó chính là thế mạnh lý thuyết
khi ông thấy được và nhấn mạnh điểm mâu thuẫn này. Nhưng
đồng thời đó cũng là yếu điểm lý thuyết khi ông nghi ngờ
quy luật tổng quát, ngay cả cho sự trao đổi đơn giản hàng
hoá. Ông không hiểu mâu thuẫn xãy ra qua quyền lực lao động
khi tự nó lại trở thành hàng hoá và giá trị sử dụng của
loại hàng hoá đặt biệt này, - giá trị này không liên hệ
đến giá trị trao đổi của nó - mà tự nó là một nguồn
năng lực tạo nên giá trị trao đổi [47].

Trong những nhận xét sau đây tôi không có ý định chứng minh
là lý thuyết về giá trị và phân phối của Smith là không sai
lầm hay không mơ hồ. Ngược lại, tôi nghĩ Marx có lý khi chỉ
rõ những điểm mơ hồ trong khái niệm về giá trị của Smith
khi cáo buộc Smith là pha trộn hai vấn đề giá trị và phân
phối. Tuy nhiên, tôi nghĩ Marx sai lầm khi giải thích những khó
khăn của Smith như là kết quả của những mâu thuẫn cơ bản,
thí dụ như một mặt thì lập luận là mối quan hệ trong xã
hội tư sản tuân theo, mặt khác, lại không tuân theo quy luật
giá trị. Nói một cách khác, Smith lập luận chiếm hữu trong
xã hội tư sản là một chức năng của lao động của con
người và trao đổi các tương đương, nhưng cũng là thành quả
của bạo lực và lưà đảo. Smith không bao giờ nghĩ là luật
gía trị tạo nên xã hội tư sản, hay nói theo thuật ngữ của
Smith, "xã hội dân sự". Smith cũng không hề đề xuất phân
phối của cải trong ba giai cấp xã hội (điền chủ, sở hữu
chủ tư bản và lao động) có liên hệ đến sự trao đổi các
tương đương. Lý thuyết về phân phối trong xã hội dân sự
của Smith có liên hệ đến những phân tích kinh tế về quyền
lực và hầu như không liên hệ gì đến hư cấu về các sở
hữu chủ hàng hoá có tự do và bình đẳng. Chính thế mà Smith
không đủ thẩm quyền giải thích đối với người dựa vào
quan điểm là xã hội tư sản thể hiện trên bình diện như
"trong một vườn điạ đàng của quyền bẩm sinh con người".
[48] Đối với suy nghĩ của Smith, không cần vuợt qua những
hiện tượng để hiểu điều hiển nhiên: của cải xã hội
bị phân chia bất công theo nguyên tắc ít có liên hệ đến
những thoả thuận tự nguyện hoặc là số lượng lao động
đóng góp của từng cá nhân. Để chứng minh điều này, tôi
muốn tóm tắt vài khía cạnh trong lý thuyết của Smith về giá
trị và phân phối.

Các xã hội có khuynh hướng du nhập phân công lao động và trao
đổi hàng hoá đều có lý do căn bản tại sao. Vấn đề cần
phải nhận ra qua thực tế là bằng cách này người ta có thể
tìm ra ưu thế trong các công trình của người khác và đạt
được việc thoả mãn nhu cầu tối đa với ít nỗ lực hơn.
Đó là lý do tại sao Smith định nghĩa giá trị trao đổi hàng
hoá do số lượng lao động của người khác mà nó cho phép sở
hữu chủ mua hay đặt hàng[49]. Dĩ nhiên, ta có thể định nghiã
là giá trị trao đổi của hàng hoá khi quy chiếu với số
lượng của bất cứ loại hàng khác (thí dụ như vàng). Nhưng
vì giá trị hàng hoá thay đổi - kể cả giá trị của lao
động tiền lương (đưọc tính bằng một giá) điểm quy chiếu
ổn định duy nhất dường như là nỗ lực được tiết kiệm
hoặc sự hữu dụng đạt được khi có thể ta đặt mua nhiều
hơn thời gian lao động của người khác. [50]

Tại sao một mặt hàng đặc biệt có một giá trị trao đổi
đặc biệt? Tại sao cho phép người sở hữu chủ mua hoặc
đặt hàng một số lượng nào đó về thời gian lao động của
người khác (hoặc trực tiếp khi thuê dịch vụ hay lao động
tiền lương; hoặc gián tiếp, khi đòi hỏi thời giờ cho sản
xuất một loại hàng mơ ước)? Một câu trả lời khả dĩ - mà
cũng là câu trả lời của Marx - như sau: bởi vì mặt hàng này
tự nó biểu hiện (đòi hỏi để được sản xuất) cùng một
số lượng thời gian lao động khi được đặt hàng. Nhưng đó
không phải là điểm mà Smith nói. Trong suy nghĩ của Smith, lao
động thể hiện trong hàng hoá chỉ bằng với lao động đặt
mua mặt hàng này khi người sản xuất chính là người làm chủ
phương tiện sản xuất, có nghĩa là, sản xuất có trước
chiếm hữu đất đai và tích lũy tư bản, nếu nói theo phương
diện lịch sử. Chỉ khi nào chúng ta suy đoán "tình trạng
nguyên thủy của các sự vật tiếp tục, chúng ta có thể hình
dung một xã hội mà „toàn bộ sản xuất lao động thuộc về
giới lao động" và "các hàng hoá sản xuất do các số
lượng lao động tương đương trao đổi một cách tự
nhiên".[51] Nhưng việc này xãy ra trong các xã hội dân sự,
đất đai trở thành của sở hữu tư nhân và phương tiện sản
xuất nằm trong tay của chủ tư bản, điền chủ và nhà tư
bản đòi hỏi chia phần trong sản xuất và giá hàng phải tăng.
Nói một cách khác, hàng hoá bán ra không phải chỉ có một
mục tiêu duy nhất là đem lại thu nhập cho người lao động mà
còn trả cho doanh lợi và điạ tô. Sở hữu chủ hàng hoá phải
mua hàng hoặc đặt nhiều lao động hơn các mặt hàng thể
hiện.

Như Marx trình bày, quan điểm này bao hàm sự lầm lẫn giữa
giá trị và phân phối, hoặc là hàng hoá khi bán, cần nhiều
lao động hơn nó thể hiện, hoặc là người lao động nhận
toàn bộ sản xuất hoặc phải chia phần với điền chủ (điạ
tô) hoặc chia phần với chủ tư bản (doanh lợi). "Thực ra,
phân phối hoặc chiếm hữu giá trị không phải là nguồn của
giá trị... Nếu không có sự chiếm hữu như vậy và công nhân
nhận lương cho toàn bộ công trình sản xuất của mình, giá
trị của hàng sản xuất không thay đổi, dù giá trị này không
được chia cho điền chủ hay nhà tư bản".[52] Hơn nữa, Marx
nghĩ rằng giải thích doanh lợi chính là do giá bán cao hơn giá
trị hoặc là do lừa đảo, ý tưởng này là ngây thơ. Ý
tưởng này nhằm giải thích những doanh lợi đặc biệt, nhưng
nếu tất cả mọi sở hữu chủ hàng hoá thưòng lừa đảo
lẫn nhau, thì không ai có thể tạo doanh lợi theo kiểu này. Theo
Marx, Smith sai lầm khi cố giải thích doanh lợi bằng cách phân
thích sư trao đổi hay giao lưu hàng hoá, nhưng ông có lý - và hy
vọng lý thuyết thặng dư của ông - khi ông mô tả doanh lợi
như là phần trích xuất từ giá trị sản xuất của công
nhân.[53]

Dù Smith có lầm, lý do của sai lầm này có thể hiểu được.
Smith muốn lập luận là doanh lợi với hai lý do - một mặt,
những sở hữu chủ tư bản có thể đòi hỏi chia phần sản
xuất, mặt khác họ muốn gây ảnh hưởng thị trường. Nói
một các khác, doanh lợi có hai chức năng vửa tiền lương vừa
giá cả. Không có lý do gì để tin là Smith sai lầm trong quan
điểm này.

„Trong tinh trạng nguyên thủy của sự vật trước khi có
chiếm hữu đất đai hay tích lũy tư bản, toàn thể sản xuất
lao động thuộc về công nhân. Công nhân không chia phần cho
điền chủ và người chủ. [54] Trong những xã hội dân sự,
thành quả lao động phải được phân chia bởi vì công nhân
không còn làm chủ phương tiện sản xuất. Điền chủ và nhà
tư bản chỉ đầu tư vào sản xuất khi nào ho kỳ vọng rằng
có được chia phần trong sản xuất. Họ có thể được hưởng
bao nhiêu trong toàn bộ sản xuất này không tùy thuộc vào họ
có đóng góp vào trong phần lao động có hiệu qủa kinh tế hay
không, ngay cả khi ít hơn trong tổng số của lao động. Doanh
lợi „không tương ứng đối với số lượng, cực nhọc,
hoặc mưu trí của loại lao động được suy đoán là bỏ ra
để giám sát và điều khiển".[55] Điều này càng hiển nhiên
hơn trong trường hợp của địa tô. "Khi đất đai ở bất
cứ nước nào trở thành thuộc quyền tư hữu, thì điền chủ,
cũng giống như bất cứ người nào khác, họ chỉ muốn thu
hoạch nơi mà họ không hề gieo, đòi hỏi địa tô đối với
những sản xuất tự nhiên.[56]

Doanh lợi và tiền lương có khuynh hướng đi theo tỷ lệ
nghịch: doanh lợi cao luôn nhờ vì có lương thấp, và ngược
lại. "Lương cao cho lao động và doanh lợi cho chủ tư bản
là... hai chuyện hiếm khi... đi liền nhau".[57] Số lượng chính
xác của mỗi yếu tố này tùy thuộc vào điều kiện hợp
đồng mà mỗi bên có quyền lợi đối nghịch nhau (một bên
thắng thì có một bên thua) và quyền lực mổi bên không bình
đẳng. Khi số lượng người chủ càng ít, họ càng tự tin và
có nhiều ảnh hưởng trong chính trị, thì họ tất phải thắng
thế hơn đối với công nhân. Họ thấy điều này khi luật
cấm công nhân kết hợp, trong khi tự chính họ lại luôn luôn
cấu kết trá hình nhưng bền bỉ và đồng nhất không tăng
lương cho công nhân trên mức lương thực sự của họ. [58]

Tăng lương trên mức tối thiểu đòi hỏi phải tái sản xuất
của giới lao động, việc này tùy thuộc các lực lượng của
thị trường. Khi chủ tư bản chạy tìm doanh lợi dùng càng
nhiều tư bản đầu tư, nhưng cạnh tranh lẫn nhau gây khuynh
hướng tăng lương, giảm giá bán và giảm doanh lợi.[59] Dù
chủ đầu tư kỳ vọng doanh thu tương ứng với mức đầu tư
của mình, nhưng một hê thống cạnh tranh năng động có khuynh
hướng xoá tan những kỳ vọng này. Tuy thế, nền kinh tế
thịnh vượng và mở rộng là quyền lợi của đa số (công
nhân và người tiêu thụ) nhưng không phải là quyền lợi của
thương giới và các nhà chế biến.[60] Đó là lý do tại sao
các phe nhóm này bằng mọi phương tiện cố tránh cạnh tranh và
làm đảo ngược sự vận hành tự nhiên của thị trường:
"Những người trong cùng một loai doanh nghiêp ít khi gặp nhau,
kể cả cho việc ca ngợi nhau và đánh lạc hướng nhau, nhưng
khi có luận đàm họ thường kết thúc bằng âm mưu chống lại
công chúng, hoặc trù liệu chuyện tăng giá." [61]

Dĩ nhiên, những chính sách hạn chế của chủ tư bản không
tùy thuộc vào trường hợp nhân qủa. Như đã đề cập ở
trên, những quyền lợi của họ được tìm thấy trong luật
pháp và chính sách, thí dụ như luật huấn nghệ [62], luật gia
sản [63], các biện pháp hổ trợ cho thị dân khi thương thảo
với thôn dân [64], mánh khoé trong ngoại thương, phiêu lưu
thuộc địa và gây chiến tranh [65] - điều mà Smith coi là cực
kỳ tác hại cho nền kinh tế quốc gia, bởi vì họ có khuynh
hướng loại bỏ cạnh tranh và tăng giá cũng như tăng doanh lợi
trên mức thích hợp. [66]

Tại sao Smith nghĩ rằng doanh lợi không chỉ có chức năng tiền
lương mà còn có chức năng giá cả, điều này đã được minh
chứng quá nhiều. Tương phản với hệ thống trọng thương,
hệ thống tự do tự nhiên của Smith không còn cổ vũ quyền
lợi của thương giới và nhà sản xuất: mọi người khi họ
không vi phạm về luật công bình thì họ có hoàn toàn tự do
để theo đuổi quyền lợi riêng theo cách của mình, và mang
quyền lợi của mình vào kinh tế công nghiêp và tư bản để
cạnh tranh với người khác [67]. Smith không hề đề xuất rằng
hệ thống này cho phép bất cứ người nào chiếm hữu h àng
hoá bằng phương tiện lao động của riêng mình hoặc là do trao
đổi tương ứng. Các chủ sở hữu đất đai và tư bản sẽ
chia phần trong sản xuất, không bởi vì bất cư lao động nào
của họ nhưng vì họ có quyền đòi hỏi việc này. Doanh lợi
cũng còn có chức năng tiền lương - nhưng không còn chức năng
giá cả -. Giá cả có khuynh hướng thấp và lương tương đối
cao. Chính thế mà "hệ thông tự do tự nhiên" được biện minh
dựa trên lập luận hữu dụng: nó nhằm phục vụ quyền lợi
tốt đẹp nhất cho đại đa số quần chúng. [68]

Khởi đầu tiểu luận này tôi đặt vấn đề là Marx có giải
thích trung thực các kinh điển của khoa kinh tế chính trị học
không. Đến đây thì ta đã rõ là quan điểm của Marx về Smith
không phải là kết quả của một sự phân tích cẩn trọng về
tư tưởng của Smith trong bối cảnh lịch sử và hệ thống.
Marx đã xem Smith là „đại biểu khoa học của giai cấp tư
sản", mà lý thuyết này thực ra không liên hệ gỉ đến
lịch sử mà chỉ biện hộ, mặc dù - như đã minh chứng -
đặc điểm lịch sử và phê phán của công trình Smith rất
hiển nhiên. Dù những gì Marx nói, Smith không bị đánh lừa
bởi bất cứ những biểu hiện công lý trong xã hội dân sự.
Lý thuyết của Smith, dù mơ hồ và sai lầm trong một vài khía
cạnh, nhưng không hàm chứa những mâu thuẫn căn bản như Marx
đề ra.

Trong tầm mức rộng lớn hơn, nhận xét của Marx về Smith là
một kết cấu đòi hỏi do phưong pháp và những tiền đề của
phê phán về khoa kinh tế chính trị học. "Trong biên niên sử
kinh tế chính trị học, thời vàng son thanh bình ngự tri từ
thuở xa xưa. Trong bất cứ thời nào thì quyền lợi luật đinh
và „lao động" cũng là phương tiện duy nhất đem lại thịnh
vượng..."[69] Khẳng định này thiếu tính thực tại trong kinh
tế chính trị học của Smith, nhưng thể hiện được là tiền
đề thích hợp cho lý thuyết của chủ nghĩa tư bản và được
suy đoán là cùng lúc lại phê phán ý thức tư sản.


__________________________


[1] Jürgen Kuczynski, Geschichte der Lage der Arbeiter unter dem
Kapitalismus, vol. 26, East Berlin, 1965. A.V. Anikin, Junost´nauki, Mosva,
1971.

[2] Robert L. Heilbronner, The Wordly Philosophers, third ed., New York 1969,
pp. 140ff. Mark Blaug, Economic Theory in Restropect, Homewood, 1962, German
ed. München, 1972, vol. 2, pp. 145ff.

[3] Ronald Meek, Marx´s Economic Method, in Economics and Ideology, London,
1967, pp. 93-112.

[4] Karl Graf Ballstrem, Die schottische Äufklärung, München, Oldenbourg.

[5] Andrew Skinner, "Economic and History: The Scottsh Entlightement",
in Scottisch Journal of Political Economy, 12, 1965; H. R. Trevor-Roper,
"The Scottish Enlightment", in Studies on Voltaire and the 18th Century,
vol. 58, Geneva, 1967, pp. 1635 ff.

[6] William Roberston, Collected Works, ed. Dugald Steward, 1809, vol. 5,
p.111.

[7] Ronald Meek, „The Scottish Contribution to Marxist Sociology", in
Economics and Ideology, London, 1967, pp. 34-50, esp, .48.

[8] Marx, Karl, Friedrich Engels, 1961, Werke, Dietz Verlag, Berlin, 23,p.
218.

[9] FN 8, P. 5, 84.

[10] FN 8, 23,p, p. 95.

[11] FN 8, 4, p. 126.

[12] Marx Karl, Grundrisse der Kritik der Politischen Ökonomie, Dietz
Verlag, Berlin, p. 6.

[13] FN 8, 4.p. 142.

[14] FN 12, p. 917.

[15] FN 8, 23, p.19.

[16] FN 8, 4, p.142.

[17] FN 12, p. 5.

[18] Smith Adam, 1976, Wealth of Nations, Clarendons Press, Oxford, I, 6, p.
65.

[19] Smith Adam, 1978 Lectures in Jurisprudence, Clarendon Press, Oxford, p.
40.

[20] FN 18, I, p. 157.

[21] A.W. Coast (ed.), The Classical Economists and Economic Policy, London,
1971. Smith Adam, FN 18, III, p. 418.

[22] FN 18, I, Cp. 11. p. 267.

[23] FN 8, 13, pp.7ff.

[24] FN 8, 23, p. 27.

[25] FN 8, 23, pp. 12, 26.

[26] FN 8, 23, p. 564.

[27] FN 8, 13, p.15.

[28] FN 8, 23, p.189.

[29] FN 8, 25, p.33.

[30] FN 8, 23, p.190.

[31] FN 8, 23, p.257, 259.

[32] FN 8, 34, p.235.

[33] FN 8, 26. p.230.

[34] FN 8, 31, p.132.

[35] FN 8, 32, p.532.

[36] FN 12, p.903.

[37] FN 12, p.903.

[38] FN 12 p.904.

[39] FN 8, 85, p. 89.

[40] FN 12, p. 409; FN 8, 23, pp. 161-191.

[41] FN 2, 26. 2. p. 56.

[42] FN 12 p. 54.

[43] FN 12, p. 56, 42.

[44] FN 12, p. 504.

[45] FN 8, 26, 1, p. 43.

[46] FN 12, 14, p. 44

[47] FN 12 26. 1 p. 59.

[48] FN 12 23 p. 59.

[49] FN 18 I, p. 5, 47.

[50] FN 18 I p. 51.

[51] FN 18 I, 8, p. 52.

[52] FN 12. 26. 1, p. 65.

[53] FN 12, 26. 1, p.50.

[54] FN 18 I 3,p. 82.

[55] FN 18 I 3, p. 82.

[56] FN 18 I 6, p. 67.

[57] FN 18 I 9, p. 109.

[58] FN 18 I 8 p. 84.

[59] FN 18 I 9 p.105.

[60] FN 18 I 11,p. 266.

[61] FN 18 I, 10, p. 145.

[62] FN 18 I 10, p. 135.

[63] FN 18 I 10, p.151.

[64] FN 18 I 10, p. 141, 376.

[65] FN 18 IV 7 p. 556.

[66] FN 18 I, 10, p. 132.

[67] FN 18 IV, 9, p. 867.

[68] FN 18 IV, 7, p. 630.

[69] FN 12 2, p. 230.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130924/karl-graf-ballestrem-vai-nhan-dinh-sai-lam-cua-karl-marx-ve-quan-diem-cua-adam),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét