Trong bài "<a
href="https://danluan.org/tin-tuc/20130627/nguyen-hung-quoc-quyen-luc">Quyền
lực</a>", khi định nghĩa quyền lực là khả năng chi phối,
khống chế và sai khiến người khác, tôi chỉ xuất phát từ
góc độ chính trị, lại là thứ chính trị học truyền thống,
tương đối đơn giản. Thật ra, khái niệm quyền lực còn
phức tạp hơn thế rất nhiều.
Nói đến quyền lực, những người quen đọc triết học và lý
thuyết văn học hậu hiện đại hẳn sẽ nghĩ ngay đến Michel
Foucault (1926-84), người nổi tiếng về việc đưa ra một cách
hiểu mới về khái niệm quyền lực, một cách hiểu rất có
ảnh hưởng trong giới nghiên cứu không những về triết học
hay văn học mà còn cả về tâm lý học, xã hội học, chính
trị học và rất nhiều lãnh vực khác.
Theo Foucault, quyền lực không phải chỉ là một cấu trúc hay
một tác tố (agency) bao gồm những gì mà một số người có
khả năng khống chế, cưỡng bức hay ra lệnh người khác theo
cách hiểu cũ. Theo ông, quyền lực có mặt ở mọi nơi
<sup>(1)</sup>, nó phân tán hơn là tập trung, nó nhập thể hơn
là sở hữu, nó thuộc về diễn ngôn hơn là thuần túy có tính
chất cưỡng bức.
Thuộc về diễn ngôn (discourse), quyền lực gắn liền với
kiến thức (bởi vậy, ông hay dùng chữ "quyền lực/kiến
thức" – power/knowledge): Mỗi xã hội có một "chế độ
chân lý" (regime of truth) hay một thứ chính trị chung về chân
lý (general politics of truth), nghĩa là một thứ diễn ngôn có
chức năng quy định thế nào là đúng và thế nào là sai, thế
nào là thật và thế nào là giả, thế nào là tốt và thế nào
là xấu, rồi dựa trên những tiêu chuẩn ấy, nó quy định
những gì nên làm và những gì không nên hoặc không được
làm, cuối cùng, dựa theo đó, nó đánh giá và đưa ra những
cách thưởng phạt khác nhau. Cái "chế độ chân lý" ấy
được xác lập bằng các diễn ngôn khoa học và các cơ chế
sản xuất các diễn ngôn ấy và sau đó, được gạn lọc, phổ
biến và củng cố bằng giáo dục cũng như hệ thống truyền
thông <sup>(2)</sup>.
Cái "chế độ chân lý" ấy không nhất thiết bất biến và
cũng không chỉ được áp đặt từ trên xuống dưới. Nếu
"quyền lực đến từ mọi nơi", như Foucault có lần nhấn
mạnh, quyền lực/kiến thức cũng có thể đến từ những
người bị trị. Mọi người đều có thể tham gia vào "trận
chiến cho chân lý" (battle for truth), tuy nhiên, theo Foucault, cái
gọi là "chân lý" ở đây không phải là các sự thật
được khám phá mà chủ yếu là các quy định theo đó người
ta phân biệt cái đúng và cái sai và những hệ quả quyền lực
gắn liền với những cái được gọi là đúng ấy. Nói cách
khác, đó là cuộc đấu tranh về tình trạng của chân lý và
về vai trò kinh tế cũng như chính trị của cái gọi là chân
lý <sup>(3)</sup>.
Áp dụng lý thuyết của Foucault vào hoàn cảnh Việt Nam hiện
nay, chúng ta thấy ngay cuộc chiến đấu cho tự do và dân chủ
thực chất là một cuộc chiến về quyền lực, để giành lại
những quyền (rights) căn bản của dân chúng. Nhưng nói đến
cuộc chiến quyền lực, không nên chỉ nghĩ đến các cuộc
cách mạng bằng vũ trang hay bạo lực hay, tiêu cực và nhẹ
nhàng hơn, các cuộc biểu tình hay tuyệt thực, thậm chí, không
phải chỉ ở các bài tố cáo hay phê phán các sự lợi dụng
quyền lực (bao gồm cả tệ nạn tham nhũng) hay hành xử quyền
lực một cách sai lầm của nhà cầm quyền. Cuộc chiến quyền
lực còn diễn ra một cách âm thầm trong việc xác định các
khái niệm để định hướng cách suy nghĩ và đánh giá của
mọi người về những vấn đề quan trọng của đất nước.
Về phương diện này, nên lưu ý, giới cầm quyền Việt Nam, hay
đảng Cộng sản nói riêng, rất có ý thức. Họ vận dụng nó
một cách triệt để và nhất quán suốt từ khi mới được
thành lập. Họ có tham vọng viết lại từ điển tiếng Việt,
ở đó, họ định nghĩa lại rất nhiều từ liên quan đến
đời sống chính trị. Với họ, những chữ như "tự do",
"dân chủ", "cách mạng", "giải phóng", "bình
đẳng", "tiến bộ", "lạc hậu", "trí tuệ", "nhân
dân", "đất nước", "cải tạo", v.v. mang ý nghĩa khác
hẳn. Bởi vậy, cãi với họ ở từng điểm một là một công
việc vô ích. Vấn đề cần thiết hơn là vạch trần ra những
âm mưu xuyên tạc chữ nghĩa, và từ đó, khung khái niệm của
họ, và thay thế chúng bằng những cách hiểu mới thích hợp
và chính xác hơn.
Một ví dụ cụ thể nhất là chữ yêu nước.
Trước, với người Việt Nam, yêu nước là quan tâm đến
đồng bào, gắn bó với vận mệnh dân tộc và cương quyết
bảo vệ độc lập, chủ quyền cũng như sự phồn thịnh của
đất nước. Thời Pháp thuộc, đảng Cộng sản, khi định
nghĩa khái niệm yêu nước, một mặt, tập trung vào khía cạnh
độc lập, mặt khác, nhấn mạnh vào yếu tố giai cấp, đặc
biệt nhắm vào nông dân và vấn đề đất đai. Trong chiến
tranh Nam Bắc, từ 1954 đến 1975, đảng Cộng sản lại tập
trung vào mục tiêu thống nhất, nghĩa là yếu tố lãnh thổ và
chủ quyền. Sau năm 1975, họ lại định nghĩa: yêu nước là
yêu chủ nghĩa xã hội, ở đó ý thức hệ nổi trội hơn tinh
thần dân tộc. Sau năm 1990, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa
sụp đổ ở Nga và Đông Âu, chiêu bài chủ nghĩa xã hội không
còn thuyết phục nữa, họ dần dần quay trở lại với yếu
tố dân tộc: yêu nước, với họ, là bảo vệ những thành
quả của cuộc cách mạng kéo dài cả hơn nửa thế kỷ trong
việc giành lại độc lập và thống nhất đất nước.
Thế nhưng, gần đây, khi âm mưu bành trướng lãnh thổ và lãnh
hải của Trung Quốc càng ngày càng lộ liễu, khi Việt Nam đang
phải đối diện với ý đồ lấn chiếm biển đảo của Trung
Quốc, đảng Cộng sản và nhà cầm quyền Việt Nam, một lần
nữa, lại thay đổi nội dung khái niệm yêu nước. Yêu nước,
với họ, bây giờ chỉ còn ba nội dung chính: Một, tập trung
vào sự phát triển kinh tế; hai, giữ gìn sự ổn định chính
trị (nghĩa là duy trì bộ máy lãnh đạo tuyệt đối của
đảng); và ba, quan trọng nhất, tin tưởng và phó thác toàn bộ
vận mệnh đất nước cho đảng! Với cách hiểu "mới" như
thế, lòng căm thù giặc cũng như ý chí tranh đấu để bảo
vệ độc lập và chủ quyền lại bị xem là… phản quốc, và
những người có những biểu hiện ấy một cách công khai bị
đối xử như là kẻ thù!
Cũng vậy, gần đây, họ muốn sử dụng cuộc bỏ phiếu tín
nhiệm ở Quốc Hội để chứng minh Việt Nam cũng có dân chủ,
thậm chí, "dân chủ gấp vạn lần" các nước tư bản khác
(theo lời bà Nguyễn Thị Doan, phó Chủ tịch nước) vì trên
thế giới không ở đâu có hình thức bỏ phiếu như vậy (theo
lời Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội). Ở đây,
người ta thu hẹp ý nghĩa dân chủ vào việc bỏ phiếu mà cố
tình lờ đi ba vấn đề quan trọng và căn bản trước, trong và
sau cuộc bỏ phiếu ấy: Một, các đại biểu Quốc Hội có
thực sự là đại biểu của dân chúng? Hai, việc chia thang
điểm thành ba: tín nhiệm cao/tín nhiệm/tín nhiệm thấp có
thực sự khoa học và có ý nghĩa?
Và ba, cái gì xảy ra sau cuộc bỏ phiếu ấy? Những người bị
tín nhiệm thấp sẽ ra sao? Sẽ bị cách chức hay vẫn tiếp
tục ngồi ì ra đó đến cuộc bỏ phiếu lần tới và lần
tới nữa nữa?
Vân vân.
Nhìn mọi âm mưu tuyên truyền tại Việt Nam từ góc độ như
thế, chúng ta sẽ thấy ngay đâu là tâm điểm của cuộc đấu
tranh quyền lực tại Việt Nam hiện nay.
***
Chú thích:
1. Michel Foucault (1998), The History of Sexuality: The Will to
Knowledge, London: Penguin, tr. 63.
2. Michel Foucault (1980), Power/Knowledge (Colin Cordon biên tập), New
York: Pantheon Books, tr. 131.
3. Như trên, tr. 132.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130627/nguyen-hung-quoc-tran-chien-ve-quyen-luc),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét