Chủ nghĩa tư bản và tình trạng bất bình đẳng (2)

<strong>Đời sống trong nền kinh tế hậu công nghiệp</strong>

Đối với nhân loại nói chung, cuối thế kỷ 20 và đầu thế
kỷ 21 là một thời kỳ tiến bộ ngoạn mục, một phần không
nhỏ nhờ vào sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản trên
toàn cầu. Tiến trình tự do hóa kinh tế (economic liberalization)
tại Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Indonesia, và các nước khác
trong thế giới đang phát triển đã cho phép hàng trăm triệu
người thoát khỏi cảnh nghèo đói cùng cực và tiến lên giai
cấp trung lưu. Trong khi đó, người tiêu thụ tại các nước tư
bản tiên tiến hơn, như Hoa Kỳ chẳng hạn, đã và đang được
hưởng sự giảm giá cực lớn của nhiều mặt hàng, từ quần
áo đến máy truyền hình, và có thể mua sắm cả một biển
hàng hóa mới mẻ, những thứ đã biến đổi cuộc đời họ.

Nhưng đáng chú ý hơn cả có lẽ là những biến đổi trong các
phương tiện trau dồi kiến thức bản thân (self-cultivation). Như
nhà kinh tế Tyler Cowen nhận xét, phần lớn thành quả của
những phát triển gần đây "nằm trong đầu và trong những
chiếc laptop của chúng ta nhiều hơn nằm trong khu vực kinh tế
sinh ra doanh thu". Do đó, "phần lớn giá trị của Internet
được cảm nhận ở mức độ cá nhân và vì thế không bao
giờ xuất hiện trong những số liệu chỉ năng suất". Nhiều
cuộc trình diễn âm nhạc vĩ đại của thế kỷ 20, đủ mọi
thể loại, có thể được thưởng thức miễn phí trên YouTube.
Nhiều bộ phim xuất sắc của thế kỷ 20, mà ngày trước chỉ
thỉnh thoảng mới được trình chiếu tại các trung tâm nghệ
thuật ở một vài vùng đô thị lớn, bây giờ có thể được
xem bởi bất cứ ai vào bất cứ lúc nào với một lệ phí hàng
tháng rất thấp. Chẳng bao lâu nữa, thư viện của các đại
học lớn sẽ mở cửa trực tuyến cho toàn thế giới; và tiếp
theo đó, những cơ hội chưa từng có trong việc phát triển
đời sống cá nhân sẽ diễn ra.

Tuy nhiên, tất cả sự tiến bộ này vẫn bị ám ảnh bởi hai
đặc điểm bất diệt của chủ nghĩa tư bản: đó là, tình
trạng bất bình đẳng và bất an kinh tế. Ngay từ năm 1973, nhà
xã hội học Daniel Bell đã nhận xét rằng trong thế giới tư
bản tiên tiến, tri thức, khoa học, và công nghệ đang thúc
đẩy một cuộc chuyển đổi sang cái mà ông gọi là "xã hội
hậu công nghiệp (postindustrial society)". Cũng như ngành chế
tạo hàng hoá trước đó đã thay thế nông nghiệp làm nguồn
thu dụng nhân công chính, ông lý luận, khu vực dịch vụ (the
service sector) hiện đang thay thế khu vực chế tạo. Trong một
nền kinh tế tri thức hậu công nghiệp, việc sản xuất các
mặt hàng chế tạo dựa trên đầu vào công nghệ (technological
inputs) nhiều hơn dựa vào kỹ năng của những công nhân thực
sự xây dựng và lắp ráp sản phẩm. Điều này ngụ ý một
sự suy giảm nhu cầu đối với các công nhân nhà máy có kỹ
năng (skilled) và bán kỹ năng (semiskilled) và sự xuống cấp về
giá trị kinh tế của họ – cũng như trước đó đã có sự
suy giảm nhu cầu đối với người làm nghề nông và sự xuống
cấp giá trị của họ. Trong một nền kinh tế hậu công
nghiệp, những kỹ năng được đòi hỏi gồm tri thức khoa học
kỹ thuật và khả năng sử dụng thông tin. Trong khi đó, cuộc
cách mạng công nghệ thông tin ào ạt diễn ra trong nền kinh tế
trong vài thập kỷ gần đây chỉ càng thúc đẩy mạnh mẽ
những xu thế này.

Một ảnh hưởng nghiêm trọng do sự trỗi dậy của nền kinh
tế hậu công nghiệp liên quan đến địa vị và vai trò của
nam giới và nữ giới. Lợi thế tương đối của nam giới trong
các nền kinh tế tiền công nghiệp và công nghiệp (preindustrial
and industrial economies) phần lớn nằm ở sức mạnh thể lực
lớn hơn của họ – một điều mà bây giờ ngày càng ít cần
đến. Trái lại, nữ giới hoặc do cấu tạo sinh học hoặc qua
giao tiếp xã hội, có được một lợi thế tương đối về
kỹ năng ứng xử và trí tuệ xúc cảm (emotional intelligence),
những đức tính ngày càng trở nên quan trọng trong một nền
kinh tế hướng tới dịch vụ hơn là hướng tới sản xuất
vật dụng. Bộ phận kinh tế mà người phụ nữ có thể tham
gia đã mở rộng, và lao động của họ đã trở nên có giá
trị hơn trước – điều này ngụ ý rằng, nếu họ dùng thì
giờ cho việc nội trợ thì họ sẽ mất đi những khả năng
thuận lợi trong lực lượng lao động được trả lương.
Điều đó dẫn đến sự thay thế ngày càng phổ biến các hộ
gia đình chồng đi kiếm cơm-vợ lo nội trợ (male
breadwinner-female homemaker households) bằng hộ gia đình có hai
nguồn thu nhập (dual-income households). Những người ủng hộ
cũng như những người đả kích việc thu dụng phụ nữ vào
nền kinh tế được trả lương có xu thế nhấn mạnh quá đáng
vai trò của các cuộc tranh đấu ý thức hệ về nữ quyền
trong sự thay đổi này, trong khi đánh giá quá thấp vai trò của
những thay đổi trong bản chất của tiến trình sản xuất tư
bản chủ nghĩa. Việc tái triển khai lao động phụ nữ ra khỏi
hộ gia đình được thể hiện một phần nhờ sự xuất hiện
của những hàng hoá mới, những hàng hóa đã cắt giảm thì
giờ lao động cần thiết trong gia đình (như máy giặt, máy
sấy, máy rửa chén, bình nóng lạnh, máy hút bụi, lò vi sóng).
Chính việc dành nhiều thì giờ hơn cho hoạt động thị
trường đã làm nảy sinh nhu cầu mới đối với những mặt
hàng tiêu thụ trong gia đình ít đòi hỏi công sức (như thức
ăn gói sẵn và làm sẵn), đồng thời thúc đẩy sự bành
trướng của việc ăn nhà hàng và thức ăn nhanh. Và điều này
đã dẫn đến tiến trình thương phẩm hóa dịch vụ chăm sóc
(the commodifiation of care) – khi trẻ em, người cao niên, và
người tàn tật ngày càng được chăm sóc không phải bởi
người thân, mà bởi những người được trả lương.

Xu thế người phụ nữ được học hành nhiều hơn và thành
đạt hơn trong nghề nghiệp đi đôi với việc thay đổi chuẩn
mực xã hội trong việc lựa chọn người hôn phối. Trong thời
đại hôn nhân với mô hình chồng kiếm cơm-vợ lo việc nhà,
người phụ nữ có khuynh hướng coi trọng khả năng kiếm tiền
trong việc lựa chọn người hôn phối. Về phần mình, người
đàn ông đánh giá những khả năng nội trợ của người vợ
tương lai cao hơn những thành đạt nghề nghiệp của họ. Không
phải là chuyện bất thường khi đàn ông hay đàn bà lấy một
người có cùng trình độ trí thức, nhưng vào thời đó đàn
bà có xu thế lấy đàn ông có trình độ giáo dục và thành
đạt kinh tế cao hơn mình. Khi kinh tế chuyển từ một nền kinh
tế công nghiệp sang một nền kinh tế dịch vụ và thông tin
hậu công nghiệp, phụ nữ đã sánh vai cùng nam giới trong nỗ
lực giành sự công nhận xã hội qua các công việc được trả
lương, do đó một cặp vợ chồng cần mẫn tiêu biểu hiện nay
ngày càng là hai người đồng đẳng (peers), với trình độ
giáo dục ngang hàng hơn trước và mức thành đạt kinh tế
tương đương hơn trước – một tiến trình được gọi là
"assortative mating" ["trao duyên phải lứa, gieo cầu đúng
nơi"- Kiều].

<strong>Tình trạng bất bình đẳng trên đà gia tăng</strong>

Những xu thế xã hội hậu công nghiệp này đã tác động đáng
kể lên tình trạng bất bình đẳng hiện nay. Nếu thu nhập gia
đình tăng lên gấp đôi ở mỗi nấc thang kinh tế, thì tổng
số thu nhập của những gia đình ở những nấc thang cao hơn
chắc chắn tăng nhanh hơn tổng số thu nhập của những gia
đình ở những nấc thang bên dưới. Nhưng đối với một bộ
phận đáng kể những hộ gia đình ở phần dưới của chiếc
thang, thu nhập gia đình không thể nào tăng gấp đôi được –
vì khi lương tương đối của phụ nữ được tăng lên và
lương tương đối của giới nam công nhân ít học bị giảm
sút, thì giới đàn ông này bị coi là càng ngày càng khó lấy
vợ. Thông thường, những hạn chế về vốn con người (human
capital) khiến những người đàn ông này khó kiếm được việc
làm và biến họ trở thành những đối tượng ít được mong
muốn. Và những đặc điểm nhân cách của những người đàn
ông thất nghiệp kinh niên đôi khi cũng xuống cấp theo. Với
đồng lương càng kém cỏi mang về cho gia đình, những người
đàn ông này càng bị coi là ít cần thiết – một phần vì
ngày nay đàn bà có thể trông cậy vào những trợ cấp của
nhà nước phúc lợi như một nguồn thu nhập độc lập phụ
trội, dù ít ỏi bao nhiêu chăng nữa.

Tại Hoa Kỳ, một trong những phát triển nổi bật nhất của
các thập kỷ gần đây là tiến trình giai cấp hóa các mô hình
hôn nhân giữa các tầng lớp và các nhóm sắc tộc khác nhau
trong xã hội. Khi luật ly dị được nới lỏng vào những năm
1960, tỉ lệ ly dị đã gia tăng trong mọi tầng lớp xã hội.
Nhưng vào khoảng thập niên 1980, một mô hình mới đã xuất
hiện: tỉ lệ ly dị bắt đầu giảm trong những bộ phận dân
chúng có học, trong khi tỉ lệ ly dị trong những bộ phận dân
số thiếu học vẫn tiếp tục tăng. Hơn nữa, những người có
học và khá giả thường có khả năng lấy vợ lấy chồng hơn,
trong khi những người thiếu học ít có khả năng này. Vì gia
đình đóng vai trò là nơi tạo ra vốn con người, những xu thế
trên có hậu quả nghiêm trọng lây lan sang tình trạng bất bình
đẳng trong xã hội. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng trẻ em
được cả cha lẫn mẹ nuôi dạy trong một cuộc hôn nhân không
gián đoạn có khả năng phát triển tinh thần kỷ luật và lòng
tự tin hơn, để chuẩn bị cho những thành công trong đời,
trong khi trẻ em – và nhất là con trai – được nuôi trong các
hộ gia đình chỉ có một người cha hay mẹ đơn chiếc (hay,
tồi tệ hơn nữa, những hộ gia đình với một người mẹ có
những quan hệ tạm bợ) thường chịu rủi ro nhận lãnh những
hậu quả xấu cao hơn.

Tất cả sự thể này đã và đang diễn ra trong một thời kỳ
mà cơ hội đồng đều trong việc tiếp cận giáo dục và tiến
trình phân cấp (stratification) các phần thưởng kinh tế thị
trường đang gia tăng – cả hai diễn biến này đã nâng cao
tầm quan trọng của vốn con người. Một yếu tố của vốn con
người là khả năng nhận thức (cognitive ability): sự nhanh trí,
khả năng suy luận và áp dụng các mô hình rút từ kinh nghiệm,
và khả năng đối phó với tính phức tạp trí tuệ. Một yếu
tố khác là nhân cách và các kỹ năng xã hội: tinh thần kỷ
luật, đức tính kiên trì, và tinh thần trách nhiệm [còn
được gọi là noncognitive skills, ND]. Yếu tố thứ ba là kiến
thức thực có (actual knowledge). Tất cả những yếu tố này
của vốn con người đang ngày càng trở nên tối quan trọng cho
sự thành công trong thị trường hậu công nghiệp. Như nhà kinh
tế Brink Lindsey nhận xét trong cuốn sách gần đây của ông,
Human Capitalism (Chủ nghĩa tư bản nhân văn), từ năm 1973 đến
năm 2001, tăng trưởng lợi tức trung bình hàng năm là 0,3% cho
những người thuộc 1/5 thấp nhất trong bản phân phối lợi
tức Hoa Kỳ, so với 0,8% cho những người thuộc 1/5 ở giữa và
1,8% cho những người thuộc 1/5 cao nhất trong bản phân phối.
Những mô hình khá tương tự cũng chiếm lĩnh tại nhiều nền
kinh tế tiên tiến khác.

Tiến trình toàn cầu hóa không phải là nguyên nhân gây ra,
nhưng nó góp phần đẩy mạnh mô hình bất bình đẳng ngày
càng tăng về phân phối lợi tức tương ứng với vốn con
người nêu trên Chuyên gia kinh tế Michael Spence đã phân biệt
hàng hoá và dịch vụ "mậu dịch" (tradable), tức những thứ
có thể xuất khẩu và nhập khẩu dễ dàng, và những hàng hóa
và dịch vụ "phi mậu dịch" (untradable), tức những thứ
không thể xuất nhập khẩu. Ngày càng nhiều, những hàng hóa
và dịch vụ mậu dịch được nhập vào các xã hội tư bản
tiên tiến từ các xã hội tư bản kém tiên tiến, là nơi giá
lao động thấp hơn. Khi các hàng chế tạo và các dịch vụ
thông dụng được đưa ra sản xuất ở nước ngoài (outsourced)
thì đồng lương công nhân thiếu tay nghề và thiếu học tại
các xã hội tư bản tiên tiến sẽ xuống thấp hơn nữa, trừ
phi những người này có thể tìm được việc làm khấm khá
trong khu vực hàng hóa-dịch vụ không thể xuất nhập khẩu (the
untradable sector).

<strong>Tác động của tài chính hiện đại</strong>

Trong khi đó, tình trạng bất bình đẳng kinh tế hiện đang gia
tăng đã trở nên nghiêm trọng hơn do chính nỗi bất an và lo
lắng cũng đang gia tăng của những người ở nấc thang kinh tế
cao hơn. Một xu thế ảnh hưởng đến vấn đề này là tiến
trình tài chính hóa nền kinh tế, chủ yếu diễn ra tại Mỹ,
hiện đang tạo ra cái mà nhà kinh tế Hyman Minsky mệnh danh là
"chủ nghĩa tư bản quản lý tiền" (money manager capitalism) và
được chuyên gia tài chính Alfred Rappaport gọi là "chủ nghĩa
tư bản môi giới" (agency capitalism).

Đến tận thập niên 1980, tài chính tuy là một yếu tố cần
thiết nhưng hạn chế trong nền kinh tế Hoa Kỳ. Việc mua bán
cổ phiếu (thị trường chứng khoán) gồm các nhà đầu tư cá
nhân, lớn hoặc nhỏ, bỏ tiền của chính mình vào cổ phần
các công ty mà họ tin là có viễn ảnh dài hạn tốt đẹp.
Vốn đầu tư thời bấy giờ cũng có thể xuất phát từ các
ngân hàng đầu tư chính của Wall Street hay của các nước khác;
đây là những công ty tư nhân trong đó tiền của người hùn
vốn có thể chịu rủi ro mất mát. Tất cả điều này bắt
đầu thay đổi khi các quỹ vốn chung lớn hơn được đem ra
đầu tư và được các nhà quản lý tiền chuyên nghiệp
(professional money managers) chứ không do bản thân các chủ vốn
ấy triển khai trên thị trường.

Một nguồn vốn mới mẻ thuộc loại này là các quĩ hưu trí
(pension funds). Trong những thập kỷ hậu chiến, khi các công
nghiệp quan trọng của Hoa Kỳ ra đời từ Thế chiến II như là
những tập đoàn có sức mạnh độc quyền (oligopolies) ít gặp
cạnh tranh và có thị trường to lớn bành trướng ở bên trong
cũng như bên ngoài nước Mỹ, lợi nhuận và viễn ảnh tương
lai của những công ty này đã cho phép chúng cung ứng cho nhân
viên của mình những chương trình hưu trí trong đó quyền lợi
công nhân được qui định rõ ràng và công ty gánh chịu mọi
rủi ro. Nhưng, từ thập niên 1970, vì môi trường kinh tế Hoa
Kỳ trở nên giầu cạnh tranh hơn trước, lợi nhuận của các
tập đoàn cũng trở nên bấp bênh hơn, và các công ty (cũng như
nhiều tổ chức trong khu vực công) cố gắng chuyển hướng sự
rủi ro bằng cách đặt các quỹ hưu trí vào tay các nhà quản
lý tiền chuyên nghiệp, tức những chuyên gia được người ta
kỳ vọng sẽ tạo ra lợi nhuận đáng kể. Lợi tức hưu trí
của nhân viên không còn tùy thuộc vào lợi nhuận của các
công ty họ từng phục vụ mà tùy thuộc vào số phận của các
quỹ hưu trí.

Một nguồn vốn mới mẻ khác là các quỹ tài trợ (emdowments)
cho các đại học và các tổ chức phi lợi nhuận thời gian
đầu nhờ quyên góp (donations) mà phát triển, nhưng càng ngày
người ta càng kỳ vọng chúng sẽ tăng trưởng hơn nữa nhờ
thành tích của việc đầu tư chúng vào thị trường. Và còn
có một nguồn vốn mới mẻ hơn nữa phát xuất từ các cá
nhân và chính phủ trong thế giới đang phát triển, nơi mà sự
tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, kết hợp với một xu thế
tiết kiệm cao và một ước muốn bỏ vốn vào các dự án
đầu tư tương đối an toàn, đã dẫn đến những luồng tiền
to lớn chảy vào hệ thống tài chính Hoa Kỳ.

Được thúc đẩy một phần bởi những cơ hội mới mẻ này,
các ngân hàng đầu tư truyền thống của Wall Street đã tự
biến mình thành những tập đoàn có cổ phần được mua bán
công khai trên sàn giao dịch – nghĩa là, những ngân hàng này
bắt đầu đầu tư không những với ngân quỹ của chính mình
mà còn với tiền của người khác – và ràng buộc tiền
thưởng dành cho các đối tác và nhân viên của mình vào lợi
nhuận hàng năm. Tất cả sự kiện này đã tạo ra một hệ
thống tài chính cạnh tranh cao độ, bị khống chế bởi những
nhà quản lý đầu tư có khả năng điều động những lượng
vốn hùn hạp to lớn, và thù lao của họ tùy thuộc vào khả
năng mang lại thành tích vượt trội hơn những người cùng
địa vị. Cơ cấu tưởng thưởng trong môi trường này đã
thúc đẩy các nhà quản lý quỹ đầu tư cố gắng tối đa hóa
lợi nhuận ngắn hạn (maximize short-term returns), và sức ép này
đã phần nào đổ xuống lãnh đạo các tập đoàn. Khung thời
gian bị thu hẹp đã tạo ra một cám dỗ là phải thúc đẩy
lợi nhuận trước mắt, bất chấp cả những đầu tư dài
hạn, dù đó là lãnh vực nghiên cứu phát triển (research and
development) hay đó là việc cải thiện các kỹ năng của lực
lượng lao động trong một công ty. Đối với cả giới quản
lý lẫn nhân viên, hậu quả của nỗ lực đầu tư này là một
tình trạng xáo trộn thường xuyên làm gia tăng khả năng mất
việc và bất an kinh tế.

Một nền kinh tế tư bản tiên tiến hẳn nhiên cần đến một
khu vực tài chính rộng lớn. Một phần của điều đó là
việc đơn giản nới rộng sự phân công lao động: giao các
quyết định liên quan đến đầu tư cho các chuyên gia có nghĩa
là cho phép phần còn lại trong dân chúng có được không gian
trí tuệ (the mental space) để theo đuổi những gì mà họ thành
thạo hơn hay quan tâm nhiều hơn. Tính phức tạp ngày càng gia
tăng của các nền kinh tế tư bản ngụ ý rằng doanh nhân và
lãnh đạo các tập đoàn cần đến người giúp đỡ trong việc
quyết định thời điểm và phương cách gây vốn. Và các công
ty quản lý đầu tư (private equity firms) mà quyền lợi gắn
liền với sự gia tăng giá trị thực (real value) của các hãng
mà chúng đầu tư, đóng vai trò chủ yếu trong việc đẩy mạnh
tăng trưởng kinh tế. Những vấn đề này, vốn là mối bận
tâm chính đáng của các nhà tài chính, thường đưa đến
những hậu quả quan trọng, và muốn xử lý chúng thì phải
cần đến thông minh, cần mẫn, và động lực. Vì thế, chẳng
phải là một điều đáng ngạc nhiên hay là một điều ngoài ý
muốn khi các chuyên gia trong lãnh vực này được trả lương
rất hậu. Nhưng dù những lợi ích và giá trị xã hội liên
lũy của nó là gì đi nữa, tiến trình tài chính hóa xã hội
(the financialization of society) vẫn mang lại một số hậu quả
đáng tiếc, cả trong việc gia tăng tình trạng bất bình đẳng
bằng cách nâng cấp giới chóp bu trên chiếc thang kinh tế
(thông qua những phần thưởng phi thường mà giới quản lý tài
chính nhận được), lẫn trong việc gia tăng tình trạng bất an
kinh tế cho những thành phần ở nấc thang thấp hơn (thông qua
việc tập trung cao độ vào thành tích kinh tế ngắn hạn mà
phải loại bỏ các quan tâm dài hạn khác).

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130628/chu-nghia-tu-ban-va-tinh-trang-bat-binh-dang-2),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét