<div class="special_quote"><strong>Tin liên quan:</strong>
<ul>
<li><a
href="https://danluan.org/tin-tuc/20130415/cong-nhan-vnch-vi-bien-dao-ngay-nay#comment-84492">Công
nhận VNCH vì biển đảo ngày nay?</a></li>
</ul></div>
Bài viết "Công nhận VNCH vì biển đảo ngày nay?" trên BBC
có nhiều điều cần được thảo luận lại.
<h2>1/ "Công nhận" VNCH ở cái gì?</h2>
<div class="boxright300"><img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjrsgS6010Zokw9hff94oI4MrjYHvoxWodmd7L-SQ7nclPaRxwr-w-HfFcOqO6RSDy9Am5MCgUJ1uUZLl9bCa8UZf2xIbd2M51cmbQuxqIhbwz5NNAMLj3vnd5W74R_ohNJ_WmfoZMCixk/s1600/VNCH-VNDCCH-danlambao.jpg"
/></div>
Theo nội dung bài viết, công nhận ở đây là công nhận "VNCH
từng là một quốc gia". Cũng theo các tác giả: Cộng hòa Miền
Nam Việt Nam "là một quốc gia".
Việc "công nhận quốc gia" là quan trọng trong quan hệ quốc
tế, vì nó xác định sự hiện hữu (tư cách pháp nhân) một
quốc gia trên sân khấu quốc tế. Thủ tục công nhận thể
hiện bằng việc "thiết lập bang giao", qua các việc trao đổi
lãnh sự, ký kết các hiệp ước, hay bằng một tuyên bố đơn
phương giữa các quốc gia. Việc công nhận quốc gia là các bên
chấp nhận các yếu tố đặc thù về công dân, về lãnh thổ
và về chính phủ của các bên.
Trên tinh thần này thì nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
(VNDCCH), tức nhà nước tiền nhiệm của Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), chưa bao giờ "công nhận" VNCH (chưa nói
đến việc VNCH có là "quốc gia" hay không). Hai miền Nam, Bắc
là hai đối thủ thù nghịch nhau trong cuộc nội chiến 54-75,
chưa bao giờ có thiết lập quan hệ ngoại giao mà chỉ có đối
đầu bằng súng đạn.
Mặt khác, nước CHXHCNVN cũng không thể bây giờ mới "công
nhận" VNCH là một quốc gia. Đơn giản vì người ta không thể
công nhận cái đã không còn hiện hữu.
<h2>2/ Vấn đề "lãnh thổ" và "quốc gia"</h2>
Các tác giả cho rằng:
<blockquote>"chiến lược khả thi hơn cho lập luận pháp lý của
Việt Nam cần dựa trên điểm then chốt là từ năm 1958 đến
1976 có hai quốc gia khác nhau trên đất nước Việt
Nam."</blockquote>
Có phải từ 1958 đến 1976 có hai quốc gia khác nhau trên đất
nước Việt Nam?
Hiệp định Genève 1954 qui định nước Việt Nam là một nước
độc lập, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Sông Bến
Hải (vĩ tuyến 17°) chỉ là giới tuyến quân sự tạm thời,
không phải là đường ranh giới về lãnh thổ hay chính trị.
Hiệp định Genève qui định một nước Việt Nam duy nhứt, phân
chia thành hai vùng lãnh thổ, mỗi bên quản lý vùng đất của
mình. Hiệp định không hề nói đến "hai quốc gia".
Cũng không thấy trong khoản thời gian 54-75, hai bên VNDCCH và VNCH
có ý định trở thành quốc gia "độc lập".
Theo tập quán quốc tế, một vùng lãnh thổ có thể trở thành
một "quốc gia", nếu hội đủ một số điều kiện. Tiên
quyết là ý chí của dân chúng sống trong vùng lãnh thổ này có
muốn trở thành một quốc gia độc lập hay không? (Nguyên tắc
dân tộc tự quyết).
Có nhiều thí dụ về sự thành hình quốc gia từ một vùng
lãnh thổ. Trường hợp quốc gia ly khai thành quốc gia mới
(Tiệp Khắc thành Cộng hòa Séc và Cộng hòa Slovakia), hay
trường hợp các nước trong Liên Xô cũ, là các vùng lãnh thổ
được độc lập do ý nguyện của người dân. Trường hợp
Đài Loan, vùng lãnh thổ này cũng muốn trở thành quốc gia
độc lập dưới thời Trần Thủy Biển nhưng không thành.
(Việc này khiến Trung Quốc đặt ra luật "chống ly khai"). Hay
dân tộc Palestine hiện nay đang tranh đấu để được nhìn
nhận là một quốc gia v.v… là các thí dụ cụ thể về sự
thành hình của quốc gia.
Dân chúng hai miền Nam, Bắc Việt Nam chưa bao giờ bày tỏ ý
muốn để trở thành một "quốc gia" độc lập. Thái độ của
hai chính phủ luôn tôn trọng nguyên tắc "một quốc gia". Thí
dụ: VNDCCH không gia nhập các định chế quốc tế thuộc LHQ mà
phía VNCH đã gia nhập. Cộng đồng quốc tế cũng tôn trọng
nguyên tắc này: quốc gia này công nhận miền này thì không
công nhận miền kia tại LHQ.
Các tác giả dẫn trường hợp Nam và Bắc Hàn, cho rằng hai
nước này là hai "quốc gia". Điều này không đúng.
Hai miền Nam và Bắc Triều Tiên cùng gia nhập LHQ cuối năm 1991,
cộng đồng quốc tế có thói quen xem hai miền là hai "quốc
gia", nhưng thực tế không phải vậy. Hai xứ này cùng gia nhập
LHQ trên tinh thần của Kết ước "<a
href="http://www.monde-diplomatique.fr/dossiers/coree/A/coree91.html">Hòa
giải và hợp tác</a>" ký giữa hai miền ngày 13-12-1991. Lời mở
đầu của kết ước khẳng định các quan hệ hai bên không
phải là quan hệ giữa "quốc gia", mà chỉ là một quan hệ tạm
thời trong tiến trình thống nhứt đất nước.
Việc có phải là "quốc gia" hay không là một vấn đề thuộc
về pháp lý, là "nguyện vọng" của dân chúng sinh sống trong
vùng lãnh thổ cũng như sự nhìn nhận của cộng đồng quốc
tế. Công việc của các tòa án là thiết lập công lý trên
những tranh tụng mà nguyên tắc cơ bản là đi tìm "sự thật".
Người ta không thể thiết lập sự thật về "hai quốc gia
Việt Nam" bằng việc "tự lựa chọn" hay "tự công nhận" lẫn
nhau như các tác giả nhận định.
Một vấn đề nhỏ khác về từ ngữ : Các tác giả cho rằng
hiệp định Genève đã tạo nên "một lãnh thổ, hai quốc gia".
Người ta sử dụng từ "lãnh thổ" để chỉ một cộng đồng
dân tộc sinh sống trên một vùng đất (lãnh thổ), có nền kinh
tế riêng, có "chính phủ" riêng nhưng không được công nhận
là "quốc gia". Trường hợp Palestine hoặc Đài Loan, Hồng Kông
trong Tổ chức APEC, là các thí dụ.
Không ai nói "một lãnh thổ, hai quốc gia" mà chỉ nói "một
quốc gia, hai vùng lãnh thổ".
<h2>3/ Phải chăng "Hà Nội đã công nhận rằng Cộng hòa miền
Nam Việt Nam là một quốc gia"?</h2>
Không có bằng chứng nào cho thấy việc "công nhận" này đã
thể hiện. Nhưng có thể quốc tế đã nhìn nhận sự hiện
hữu hai "quốc gia" VNDCCH và CHMNVN. Việc này có thể kiểm
chứng qua việc cả hai bên VNDCCH cùng được chấp nhận gia
nhập Tổ chức Y tế Quốc tế (OMS). Các định chế quốc tế
thuộc LHQ, như OMS, chỉ nhận thành viên có tư cách pháp nhân
là "quốc gia".
VNDCCH "công nhận" CHMNVN là một "quốc gia", với những thủ
tục ngoại giao cần thiết bắt buộc, với việc quốc tế có
thể nhìn nhận hai bên là "quốc gia", là hai vấn đề hoàn toàn
khác biệt.
<h2>4/ Về việc VNCH không chấp nhận thực hiện tổng tuyển
cử vào năm 1958:</h2>
Sau hiệp định Genève 1954, Việt Nam chia hai đất nước. Tháng 3
năm 1958 phía CS miền Bắc lên tiếng, qua đài phát thanh Bắc
Kinh, yêu cầu thực thi việc "thống nhứt đất nước" qua một
cuộc trưng cầu dân ý.
Cùng khoản thời gian, hai nước Triều Tiên và Đức cũng đặt
vấn đề "thống nhứt đất nước". Phía Tây Đức và Nam Hàn
lên tiếng đề nghị "thống nhứt đất nước" bằng một cuộc
đầu phiếu tự do.
Các nước thuộc khối cộng sản bác bỏ các đề nghị này ở
Nam Hàn và Tây Đức nhưng lại ủng hộ ở Việt Nam.
Cuối cùng không có nước nào thực hiện việc "thống nhứt
đất nước" theo đường lối trưng cầu dân ý.
Bởi vì, khi Việt Nam chia hai đất nước, dân số miền Bắc là
13 triệu, miền Nam là 11 triệu. Chính quyền ông Diệm từ chối
vì thấy chắc thua (mặt khác chính quyền này không chỉ không
ký mà còn phản đối hiệp định Genève, do đó không bị nội
dung hiệp định này ràng buộc). Còn ở Đông Đức và Bắc
Hàn, dân số phía CS kiểm soát ít hơn, do đó họ phản đối.
Việc "trưng cầu dân ý" trở thành một "dấu ngoặc" của lịch
sử, không thể dẫn ra đây để kết tội vì phía miền Nam mà
việc chia đôi đất nước kéo dài. Người ta cũng có thể
đặt lại vấn đề vì sao miền Bắc đồng ý chia đôi đất
nước?
<strong>5/ Về hiệu công hàm 1953 của tiểu quốc Johor</strong>
trong <a href="http://www.icj-cij.org/docket/files/130/14492.pdf">vụ án
tranh chấp chủ quyền các đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle
Rocks và South Ledge giữa hai nước Mã Lai và Singapour.</a>
Tại tòa, việc giải thích hiệu lực công hàm 1953 của Johor
chiếm một thời lượng lớn, từ đoạn 192 đến đoạn 230
trong bản ghi chép về phiên xử. Cần phải có một bài viết
riêng mới có thể nói hết các ý nghĩa pháp lý của công hàm.
Vài đoạn quan trọng:
Đoạn 223: <em>"La Cour en conclut que la réponse du Johor montre que, en
1953, celui-ci considérait que la souveraineté sur Pedra Branca/Pulau Batu
Puteh ne lui appartenait pas"</em>. Tòa kết luận, văn bản trả lời
của Johor năm 1953 cho thấy chủ quyền đảo Pedra Branca không
thuộc về nước này.
Đây là yếu tố pháp lý quan trọng, ảnh hưởng đến quyết
định của Tòa.
Đoạn 275: Kết luận của Tòa. Tòa cho rằng công hàm "có tầm
quan trọng quyết định".
Các tác giả viết:
<blockquote>Công hàm 1953 không có hệ quả pháp lý mang tính
quyết định và không có tính chất ràng buộc cho
Johor.</blockquote>
Là không đúng với thực tế của phán quyết.
Có ba ý kiến khác nhau về một vấn đề trước Tòa : bên bị,
bên nguyên và ý kiến của tòa. Không thể trích dẫn ý kiến
này mà bỏ qua các ý kiến khác như các tác giả đã làm. Nếu
muốn trích dẫn như vậy, hợp lý là trích dẫn ý kiến chung
cuộc của Tòa.
<h2>6/ Công nhận VNCH hay kế thừa di sản VNCH?</h2>
Các thực thể chính trị VNDCCH, VNCH, CHMNVH không phải là
"quốc gia", như qui định của Hiệp định Genève, cũng như
lập trường của các bên và thái độ của quốc tế thể
hiện trong quá khứ.
Người ta không thể thay đổi quá khứ nhưng tương lai tùy
thuộc vào việc làm của mình hôm nay.
Vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về việc
"kế thừa" VNCH chứ không phải là việc "công nhận"
VNCH. Câu hỏi đặt ra: "kế thừa" như thế nào? Bài viết <a
href="http://nhantuantruong.blogspot.fr/2013/04/nhan-ngay-30-4-noi-ve-danh-nghia-chu.html">ở
đây</a> là một đề nghị.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130418/truong-nhan-tuan-cong-nhan-vnch-vi-chu-quyen-bien-dao),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét