<center><img alt="Đỗ Trường (bên trái) và Thế Dũng"
src="http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2013/04/IMG_5452.jpg"
height="300" width="450"></center>
<center><em>Đỗ Trường (bên trái) và Thế Dũng</em></center>
Tôi có ông bạn là nhà thơ, cựu sinh viên khoa ngôn ngữ
trường đại học tổng hợp Moscow, hiện cư ngụ tại Nga. Hắn
cũng là người chăm đọc. Với hắn, ở Đức chỉ có Thế
Dũng biết làm thơ. Chẳng biết hắn đùa hay thật bảo, không
hiểu tại sao, đọc thơ Thế Dũng, cứ như bị ma ám ấy, chúi
đầu vào đọc, chưa đến trang cuối cùng, không thể dứt ra
được. Mặc dù rất thích và yêu thơ cũng như con người Thế
Dũng, nhưng tôi không có suy nghĩ cực đoan như nó. Cự lại
với nó như vậy, nhưng cũng phải thừa nhận, thơ của Thế
Dũng có một cái gì đó day dứt và ám ảnh, phảng phất tính
thiền triết. Vì vậy, đọc thơ của Thế Dũng, tôi cũng cảm
thấy cực nhọc có lẽ không kém, như lúc ông đang ngồi viết
ra nó. Đọc, ngẫm nghĩ, chợt hiểu ra, sướng nhẹ cả người
như vừa trùm chăn ôm nồi nước xông giải cảm vậy.
Nếu như được phép đánh giá về các nhà thơ ở trong nước,
cũng như hải ngoại, tôi cho rằng Thế Dũng nằm trong số
những nhà thơ, nhà văn đa tài. Nhưng sự rong chơi, "tử"
về thơ của ông có lẽ chỉ xếp sau nhà thơ "Cây Táo Ông
Lành" Hoàng Cát.
Hôm rồi ghé thăm vợ chồng <a
href="http://www.danchimviet.info/archives/author/vuthedung">nhà thơ Thế
Dũng</a>, trong thư phòng có đôi câu đối rất đẹp. Thấy tôi
ngẩn tò te nhìn, anh giải thích: Ông nội anh, cụ Vũ Duy Hiệu
làm nghề dạy học, nổi tiếng hay chữ. Học trò cụ, nhiều
người học giỏi. Có học trò sau khi đỗ đạt, đã viết
tặng cụ đôi câu đối này, tỏ lòng tôn kính:
<em>"Nhân Sư phong độ thanh như ngọc</em>
<em> Học hải văn chương dũng tự trào"</em>
Cải cách ruộng đất cụ bị đưa ra đấu tố. Không chịu
nhục, cụ thắt cổ tự tử. Thơ văn của cụ bị các ông
đội và ông bà bần cố đốt sạch. Tôi bảo, chữ Dũng ở
vế sau câu đối đã vận vào Thế Dũng ngay từ lúc chưa chào
đời. Thế thì, cái nghiệp văn chương của cụ, anh phải gánh
tiếp là lẽ đương nhiên rồi. Thế Dũng ca cẩm, một xã hội
giao vào tay những kẻ đốt sách, làm sao khá lên được. Thế
Dũng, quả thật là con người cẩn thận, gia phả dòng họ Vũ
được anh chia kẻ, từng chi, ngành rất rõ ràng. Cụ nội anh,
cụ Vũ Thu (1857-1927) là Hàn Lâm Viện Sĩ, được vua ban áo mũ,
làm việc trong Quốc Tử Giám. Anh bảo, nếu có điều kiện,
sẽ về xứ Đông tìm lại di cảo và những gì còn liên quan
đến cụ.
Ngoài cái nền tảng nho học căn bản cha, ông, Thế Dũng cũng
chịu ảnh hưởng không nhỏ nền giáo dục tiểu tư sản thành
thị từ mẹ. Chính sự pha trộn nguồn gốc ấy, tạo cho Thế
Dũng sau này, viết nhiều và đa dạng hơn. Người đã hun đúc
hồn thơ cho Thế Dũng chính mẹ ông, một nhà giáo mang đậm
nét hoài cổ đất Thăng Long. Do vậy, Thế Dũng đến với thi ca
sớm, khá sâu. Ngay những bài thơ đầu của ông, cũng được
đánh giá chắc tay. Có người cho rằng, Thế Dũng thuộc thế
hệ nhà thơ sau năm 1975, nhưng tôi không nghĩ như vậy. Thơ của
Thế Dũng đã được đặt nền móng ngay từ khi ông còn ở
ngoài mặt trận. Bằng chứng ông đã có những bài, như: Nghĩ
Về Cát, Ngọn Lửa Ở Lại… đăng rải rác trên các báo, từ
những năm 1974.
Cũng như những thanh niên (sinh nhầm thế kỷ) khác, Thế Dũng
buộc phải lao vào cuộc chiến. Một cuộc chiến, như một lần
ông đã viết " Kẻ thù đâu chẳng rõ / Chỉ thấy máu đẫm
mặt nhau". Và rồi sau cuộc chiến, Thế Dũng vẫn còn sống
để trở về. Dù ông đã là quan, nhưng là quan văn nghệ, nào
đảng có tin dùng. Trong cái bế tắc của cuộc sống, ông nhận
ra sự ruỗng mục, giả dối của xã hội đương thời. Với
ông, tất cả chỉ còn là hư danh. Ông dám vứt bỏ tất cả,
bước lên con tầu vét (cuối cùng) để kịp đến Berlin ngồi
nấc. Ông đã chợt nhận ra, tuổi trẻ của ông và thế hệ
ông đã bị đánh cắp. Người lính trong phim khóc hay chính ông
ngồi đó xót xa, đau đớn tột cùng của kẻ cô đơn và hét
lên như con thú hoang? Bài "Trung Đội Chỉ Còn Một Người"
là một trong những bài thơ hay nhất trong tập thơ Từ Tâm của
Thế Dũng. Bài thơ như là một chiếc áo vô hình, thít chặt
lại, nhưng ông đã tự lột cởi, gột rửa hết, để trở về
như chính lúc mẹ sinh ra.
<em>"Tiếng chim đầm đìa máu đỏ</em>
<em>Suối vỡ lếnh loang lửa nâu</em>
<em>Người rú trong khói độc</em>
<em>Người nỉ non trong cỏ nhầu</em>
<em>Người hộc lên vì đạn lén..</em>
<em>Người quặn quoại trong dao đâm</em>
<em>Người khóc như là thú hoang</em>
<em>Tuổi mười tám bị đánh lừa?</em>
<em>Kẻ thù ở đâu chưa rõ</em>
<em>Chỉ thấy máu đẫm mặt nhau</em>
<em>Chỉ thấy lương tâm tan nát</em>
<em>Chỉ thấy vòng tròn Thiện- Ác</em>
<em>Từng giọt máu viễn chinh</em>
<em>Trung đội chỉ còn một mình tôi</em>
<em>Kịp đến Berlin ngồi nấc</em>
<em>Bao nhiêu trung đội tan rồi</em>
<em>Rạp "Kosmos" chiều nay…</em>
<em>một binh nhất khóc.."</em>
Mấy chục năm qua, chẳng biết Thế Dũng có tập thiền hay
không, nhưng thấy ông sống và viết tĩnh tâm lắm. Dường như
lúc này, ông đã tìm được cho mình một cách thể hiện mới.
Đó là sự khúc chiết đầy hình tượng, xuyên suốt tập thơ
Từ Tâm gần đây nhất của ông. Cái triết lý, hình tượng
ấy, đôi khi làm người đọc khó hiểu. Phải thành thật mà
nói, nếu ai không tĩnh tâm, khó có thể đọc trọn vẹn thơ
của Thế Dũng viết trong thời gian này.
Tôi hoàn toàn không có ý so sánh, nhưng chúng ta hãy đọc lại
bài Thu Điếu của Nguyễn Khuyến, đế thấy được cái hay cái
tài, lấy động tả tĩnh của cụ. "Cá đâu đớp động
dưới ao bèo" Tiếng động cá đớp ở đây đã tan(rơi tõm)
vào cái không gian tĩnh mịch ấy, làm cho bức tranh mùa thu, càng
vắng lặng yên bình hơn. Có lẽ Thế Dũng đã học được từ
tiền nhân chăng? Nên ông đảo ngược lại, lấy tĩnh tả
động. Thủ pháp này đã thể hiện đậm nét nhất qua bài thơ
"Hộ Chiếu Buồn Những Biên Cương…" Những cụm từ như,
mùa thu câm, đồng hồ chết, cây đàn mất ngủ, hay tĩnh
vật… tất cả tĩnh lặng. Nhưng trong đó là sự xáo động
mạnh nội tâm của những kẻ tha hương. Bài thơ này, được
Thế Dũng viết vào mùa thu sụp đổ của bức tường Berlin
1989, trong tâm trạng khi ông trở về, người bạn cùng phòng
đã ra đi. Căn phòng trống và ông đã trở thành tĩnh vật.
Vậy là có bao nhiêu những thân phận người Việt lao nô (làm
thuê) trong đoàn người chạy trốn? Và có thể nói, mấy ngàn
năm dựng nước và giữ nước, chưa bao giờ người Việt ly
tan, sợ trở về quê hương, cố quốc đến như vậy:
<em>"Những bông hồng chiều nay chỉ là Tạm Biệt</em>
<em>Hay đã là Vĩnh Biệt với Berlin?</em>
<em>Em đã bay im ắng như chim…</em>
<em>Và không lẽ em không về quê nữa?</em>
<em>Sương chưa giáng xuống tóc mềm thiếu nữ</em>
<em>Em buồn nôn nhưng chưa chịu chán đời</em>
<em>Vẫn cố tìm một chân trời huyền ảo</em>
<em>Một hào quang có thật ở xa xôi?</em>
<em>Liệu có đủ không gian và thời gian?</em>
<em>Để làm đàn bà để làm nhi nữ…</em>
<em>Khi cát bụi lầm chân người lữ thứ</em>
<em>Liệu có thể suốt đời thanh thản hồn nhiên?</em>
<em>Mùa Thu câm trong nhà trọ của em</em>
<em>Đồng hồ chết bên cây đàn mất ngủ…</em>
<em>Ngọn nến cháy nửa chừng xiêu xiêu đổ </em>
<em>Trên những xác áo quần thành tĩnh vật âm u…</em>
<em>Vé trở về em gửi lá mùa thu… </em>
<em>Khói thuốc di cư mịt mù đêm giã biệt</em>
<em>Gió phi trường lạnh ngắt rượu tha hương</em>
<em>Mặt hộ chiếu buồn cười nhạt những biên cương!</em>
<em>Và không lẽ chiều nay tôi không thành tĩnh vật!</em>
<em>Khoảng trống mà em bỏ lại thật hoang đường </em>
<em>Và không biết chiều nay em có cười u uất?</em>
<em>Khi tự hỏi: sao mình cứ sợ hồi hương?</em>
<em>Những bông hồng chiều nay đừng là lời Vĩnh Biệt…</em>
<em>Cho em tôi không biệt xứ suốt đời…</em>
<em>Không thể cả đời là Người ngoại quốc!</em>
<em>Em có về Hà Nội nữa hay thôi?"</em>
Thế Dũng có lần bảo, Đỗ Trường ơi! Đọc bài nào viết
về thân phận con người lưu vong của em, anh cũng thấy như
vết dao đâm vây. Vâng! Cái đau của cả chục truyện ngắn,
một trăm tản văn của tôi cũng không đau, không xót bằng một
câu thơ đọc lên thấy xé lòng của anh. Nếu như văn học sử
Việt Nam có một Nguyễn Trọng Tạo đã gửi gắm tâm sự, tình
yêu của mình vào chồn cáo, nồi niêu, xoong chảo, thì văn học
ở hải ngoại này, chỉ có Thế Dũng mới dám đưa những câu
cho là tục, là đại kỵ, như ngừa thai, tuyệt chủng vào thơ
của mình. Đọc lên, ta gai gai, sởn sởn trong người, nhưng
trong tâm trạng, hoàn cảnh này, lại rất hay, rất thoát. Có
lẽ, trong lúc u uất, tuyệt vọng lắm, nhà thơ mới cắn bút
viết ra câu thơ cay đến như vậy:
<em>Lẽ nào</em>
<em>Chỉ một quốc tịch khác</em>
<em>Đủ thoát khỏi uất hờn</em>
<em>Lẽ nào</em>
<em>Ngừa thai cho Tuyệt chủng</em>
<em>Kiếp lưu vong u cuồng?…</em>" (Tự Vấn)
Có người cho rằng thơ của Thế Dũng trước đây, không sâu,
không trầm luân bằng sau này. Với tôi, điều này không hẳn
đúng. Tôi yêu cái hồn nhiên, trong trẻo trước đây trong thơ
anh hơn. Vâng! có gì hay hơn, sảng khoái hơn, khi ta được đọc
những câu thơ:
<em>"…Mắt chúng mình ừng ực uống sông Ngân</em>
<em> Mắt chúng mình xanh ngắt nước Củu Long</em>
<em>Càng giông bão sóng sông Hồng càng đỏ</em>
<em>Dẫu củ chuối, lương khô và nước lã</em>
<em>Đã yêu sông phải lên tận Kỳ Cùng</em>
<em>Kẻ hiểm độc đây rồi. Máu đỏ đất Tam Lung</em>
<em>Chúng trắng trợn hiện nguyên hình tàn bạo</em>
<em>Cởi trần mà bắn thôi! Trời xanh kia là áo!</em>
<em>Đã trả kiếm cho Rùa Vàng mà vẫn không xong…"</em>
Nhà thơ Thu Bồn, cho rằng "Đến Bây Giờ Ta Vẫn Ở Bên
Nhau" là bài thơ tình yêu, tình đồng chí, tình yêu Tổ Quốc.
Vâng! Đúng như vậy, nhưng còn chưa đủ. Bài thơ này, Thế
Dũng viết vào tháng 3-1979, khi giặc Tầu tràn sang dày xéo biên
cương Tổ Quốc. Ông đã nhân cách hóa hình tượng, như: Mắt
chúng mình ừng ực uống sông Ngân/ hay càng giông bão sóng sông
Hồng càng đỏ… Làm bật lên cái khí thế hừng hực chiến
đấu của người lính trước kẻ thù, khơi dậy truyền thống
quật cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
Không hiểu tại sao khi đọc đến câu "Cởi trần mà bắn
thôi! Trời xanh kia là áo…" tôi lại nghĩ ngay đến cái chất
sảng khoái, trường ca "Đất Nước Hình Tia Chớp" và giọng
đọc của bác Trần Mạnh Hảo. Đầu năm Qúi Tỵ vừa rồi,
tôi gọi điện chúc tết bác. Thăm hỏi, chúc tụng xong đâu
đấy, bác Hảo đọc liền tù tì mừng tuổi cho ba, bốn bài
thơ, khai bút đầu xuân của bác. Giọng vang lên trầm bổng như
đang hát của bác, làm tôi giật mình cứ ngỡ giọng của bác
Thế Dũng. Không hiểu sao, hai ông này có giọng đọc thơ giống
nhau đến thế.
Đọc bài thơ "Cổ Loa Thành Bi Tráng Một Thời Vua" tôi cứ
ngỡ mình đang nghe lại bản giao hưởng bi tráng của dân tộc.
Bài thơ được viết cách nay đã 34 năm(1979), nhưng cái bài
học xa dân, dẫn đến mất nước vẫn còn mới, còn giá trị y
nguyên. Nhát gươm chém con của Thục Vương, để giữ lại hồn
nước, cho đến nay đã có ai làm được? Theo nhà thơ Vũ Quần
Phương, cùng năm 1979, bài thơ này đã ghi âm và có lịch phát
trên đài tiếng nói Viêt Nam. Nhưng có lệnh trên phải dừng
lại, bởi chỉ vì những câu "Vì thuở ấy dân phải ở quá
xa thành/… Thành tan nát bởi lòng người chia lẻ/ Những bầy
tôi trung-Vương đã đuổi đi đâu". Thì ra thời nào cũng
vậy, sự thật bao giờ cũng là kẻ thù của độc đoán chuyên
quyền:
<em> "Khúc dạo:</em>
<em>Bao hưng phế trên hành trình dân tộc</em>
<em>Nên thơ tôi âm vọng tiếng bi hùng</em>
<em>Giữ đất nước có trai làng Phù Đổng</em>
<em>Đổ Loa Thành tại cả một triều vua</em>
<em> Với Nàng Mỵ Châu</em>
<em>Năm tháng ấy tan hoang và thua trận</em>
<em>Cánh tay em buông thõng. Không ngờ…</em>
<em>Tượng cụt đầu nhưng hồn em còn đó</em>
<em>Nhắc bao điều tôi muốn nói. Ngày xưa…</em>
<em>Ngày xưa..</em>
<em>…Lông ngỗng bay ngơ ngác nẻo đường cùng</em>
<em>Tim em rung cờ nghĩa những Bà Trưng</em>
<em>Máu lênh láng xói mòn mơ với tưởng</em>
<em>Năm tháng ấy cả tin và hẹn ước</em>
<em>Đổ Loa thành không tội một mình em…</em>
<em> Với An Dương Vương:</em>
<em>Ôi đường gươm tuyệt mệnh! Nói chi thêm?</em>
<em>Thế đất ấy xoáy bao vòng sóng cuốn?</em>
<em>Rùa thông thái thủy chung đành nuốt giận</em>
<em>Vì thưở ấy thường dân phải ở quá xa thành…</em>
<em>…Cổ Loa Thàng quấn quýt cuộc tình say</em>
<em>Trọng Thủy thế! Trách gì không xuống giếng …</em>
<em>Những nham hiểm tàng hình trong lịch sử</em>
<em>Khéo khôn ngoan hôn những nụ hôn vờ!</em>
<em>Không được nhìn dung nhan Thục Vương</em>
<em>Người phút ấy gươm lia như chớp mắt</em>
<em>Xé ruột chém con để còn hồn của nước!</em>
<em>Núi Sông như vương miện ở trên đầu…</em>
<em>Thành tan nát bởi lòng người chia lẻ</em>
<em>Những bầy tôi trung – Vương đã đuổi đi đâu</em>
<em>Người cao đẹp bởi đường gươm tỉnh mộng</em>
<em>Đã vỡ lòng cho trận thắng mai sau !</em>
<em>Vĩ Thanh:</em>
<em>Cổ Loa Thành! Bi tráng một triều Vua …</em>
<em>Phòng tuyến mới bây giờ xây đã khác</em>
<em>Những thế trận Bạch Đằng dâng sóng cọc</em>
<em>Nước non mình, muôn thưở có Nhân dân !</em>
<em>Đã tên lửa! Quên sao ngày lẫy Nỏ?</em>
<em>Sa cơ kia! Xin nhớ, dẫu bao giờ…</em>
<em>Những Binh nhất đang trở thành Tư lệnh</em>
<em>Vỡ lòng mình trên kiếm máu năm xưa! "</em>
Viết về đề tài thời sự và những nóng bỏng về biển
đảo, Thế Dũng vẫn viết nhẹ nhàng, rủ rỉ rù rì. Lời thơ
giản dị, như là những câu nói thường ngày. Nhưng ý nghĩa và
sức mạnh, tôi cho là có sức lan tỏa lớn. Lời bồ câu và em
bé Việt Nam sống ở xứ người, làm lời thơ ông nặng trữu,
nhưng bật lên được cái khí phách của tuổi trẻ, cũng như
chính sách nhu nhược của những người ngồi trên. Hình ảnh
Trường Sa, Hoàng Sa được gánh trên đôi vai bé nhỏ của em,
đọc lên cảm thấy xót xa và tủi hổ cho những đám đang tự
ru mình, ru người như tôi, như anh và như tất cả chúng ta.
Đọc đến tinh thần yêu nước Việt và bức tranh của em bé
mười một tuổi, sống ở nước ngoài làm tôi lại nhớ đến
khí phách trên giường của mấy bác nhạc sỹ nhạc xiếc ở
Mỹ, nhà văn nhà viếc ở Đức. Đời tư của các bác em cũng
không lưu tâm. Nhưng mấy ngày nay các bác chường cái đời tư,
ôm các cháu kém ba, bốn chục tuổi của mình trên báo trong và
ngoài nước, hơi bị nhiều, thành ra nhiều kẻ nhòm ngó. Có
thằng độc mồm, độc miệng bảo, đúng là bọn trọc phú
mới, mùi như hũ mắm thối không có nút vậy. Em thông cảm cho
các bác thôi, làm thằng đàn ông, thằng nào chẳng máu, kể
cả lúc hết xí quách, như các bác đang đến cuối con dốc U70.
Nếu các bác có làm phát dối già, cưới xin múc máy các cháu
bằng tuổi con của con mình, thì cũng nên kín kín một chút,
kiếm cái nút bịt cái hũ mắm ấy lại. Hơn nữa các bác lại
là nhà văn đảng viên. Đảng viên, ai lại đi làm cái chuyện
lệch với luân thường đạo lý như vậy và sao chẳng giống
gì với lời nói cái viết hàng ngày của các bác. Em nhớ ngày
chị Quỳnh(nhà thơ Xuân Quỳnh) còn sống kể. Hồi chị làm ở
nhà xuất bản, có ông nhà văn đảng viên cũng can tội gái gú.
Cơ quan định chuyển ông này về sinh hoạt ở tổ quần chúng
phó thường dân chỗ chị, bị tổ của chị đuổi thẳng
cẳng. Đây không phải là cái thùng nước gạo, như các ông
nhé!
Nói thật, em cũng trên năm sọi rồi, nhiều khi nhìn mình trong
gương, giật mình đánh thót, cứ tưởng mặt giặc. Huống hồ
các bác đã trên dưới bảy mươi, dù kim cương, chuyền vàng
có đánh lọng ở cổ, thì mồm miệng móm mém, cái đầu trọc
lốc của các bác, nhìn có khác gì hình nhân trên sân khấu hề
chèo. Thôi thì, báo chí cũng là tiền đóng thuế của dân, các
bác ám chỗ thế là đủ rồi, bây giờ nên trả lại tin ảnh
cho bà con nông dân và các cháu đang cầm cờ chống Tầu dưới
đây nhé:
"<em>…Liệu em có còn ở Cheb hay đang ở Warzawa?</em>
<em>Hình như em đã cùng tôi đi biểu tình ở Berlin năm
trước</em>
<em>Hồn em thổi những cơn gió muôn phương về biển Đông</em>
<em>Trái tim em trong ngực bồ câu mang hình đảo Cát Dài và Cát
Vàng</em>
<em>Cương Quyết đã mang về Biển Đông bằng lồng ngực Việt
– gốc Pháp.</em>
<em>Em đang ở Berlin ? ở Budapest ? hay Wazsawa ?</em>
<em>Em là con lai hay thuần máu Việt ?</em>
<em>Tôi đã thấy nhiều triệu trẻ em vẽ chim bồ câu</em>
<em>nhưng chưa thấy cánh chim nào nặng trĩu nỗi nước non</em>
<em>như đôi cánh chim em nhọc nhằn gánh vác hai quần đảo
</em>
<em>Thần máu Việt đã nâng Hoàng Sa – Trường Sa lên hồn thơ
giông bão</em>
<em>Lên đôi cánh chim câu quả cảm can trường</em>
<em>3</em>
<em>Tôi đã từng ứa nước mắt khi thấy những ngư dân nghèo
Lý Sơn</em>
<em>phải nộp phạt nhiều triệu đồng</em>
<em>cho những tờ biên lai dày đặc chữ Tầu ngay trên lãnh
hải Việt!</em>
<em>Tôi thấy trong tranh em: một tâm hồn lớn.</em>
<em>Như nhiều người, tôi cũng muốn biết tên em mà không
thể</em>
<em>Lẽ nào em cũng sợ bị bỏ tù?</em>
<em>Lẽ nào em cố tình ẩn danh để tránh họa biệt giam ?</em>
<em>đau thương thế Việt Nam?</em>
<em>Tang tóc vây quanh đầu xanh ngực trẻ?</em>
<em>4</em>
<em>Ơi bé gái tha hương</em>
<em>Tâm hồn mười một tuổi </em>
<em>Mà non nước hai vai</em>
<em>Đôi cánh chim nặng gánh</em>
<em>Cát Vàng và Cát Dài</em>
<em>Hoàng Sa và Trường Sa</em>
<em>Hồn bồ câu của em là xót xa có thật</em>
<em>Mà em thì giấu tên</em>
<em>Lời bồ câu của em là nỗi đau có thật</em>
<em>Mà em không xưng danh!</em>
<em>Nhưng không hề mất khôn vì quá sợ…</em>
<em>5</em>
<em>dù đã giữ lại bản gốc bức tranh</em>
<em>nhưng Andre Menras (1) cứ băn khoăn vì không biết tên em!</em>
<em>đây chỉ là phiên bản.</em>
<em>mà tôi sững sờ như được soi gương</em>
<em>và chợt thấy xác thân đầy gió biển:</em>
<em>Họa phẩm em như một điều Hiến định </em>
<em>về chủ quyền biển đảo Việt Nam</em>
<em>Thần hứng em là thần khí Việt</em>
<em>Cội nguồn em là linh khí Việt</em>
<em>Ngữ ngôn em là sinh khí Việt</em>
<em>Em tên là Nguyên Khí! – Việt Nam ơi…"</em>
Có thể nói, nỗi buồn và sự cô đơn thường trực trong thơ
văn cũng như con người Thế Dũng. Tình yêu, gia đình đổ vỡ,
con tầu vét (cuối cùng) đã đưa ông đến Berlin. Nhưng những
vết thương, nỗi cô đơn ấy vẫn cứ bám chặt và ám ảnh
ông. Chỉ đến khi gặp được Giai Nhân (người sau này là vợ
ông) đã kéo ông ra khỏi những tiếng nấc của cuộc đời. Và
từ đó Thế Dũng được sống hết mình với thi ca. Phải nói
thẳng thế này, nếu không có sự giúp đỡ, đồng hành của
người vợ, Thế Dũng không có sự nghiệp thơ văn và thành
công trong đời sống như ngày hôm naCó người bảo, Thế Dũng
viết cả tập thơ tặng vợ, hèn chi được vợ quan tâm giúp
đỡ và cho tự do viết lách. Tôi nghĩ, điều đó chưa hẳn như
vậy. Như tôi, cả ngày úp mặt vào chảo, từ mười giờ sáng
đến mười giờ đêm, lại là trụ cột cứng của gia đình.
Lúc không có khách mới dám kê lên Theke bia để viết. Thế mà
bà vợ vẫn theo dõi, cấm viết. Lần nào bắt được tôi đang
viết trộm, bà ấy cũng nghiến răng, viết với chả lách, bị
treo Visa một lần rồi, chưa tởn sao? Có lúc thấy tôi buồn
buồn, đần mặt ra, có lẽ làm bà ấy mủi lòng, lờ đi cho
viết, nhưng thế quái nào cũng rình kiểm tra cho bằng được,
xem viết gì. Đọc xong, bà ấy phán, bài này viết xong, đưa cho
tôi, cất vào tủ, khóa lại. Nhiều lúc nghĩ, mình chỉ là
thằng viết văn tép riu, hỉ mũi mà còn khổ hơn cả cảnh văn
chui, rượu chịu của bác Phùng Quán ngày xưa. Bác Phùng Quán
chỉ cần chui vào chòi cá giữa hồ là có thế giới riêng
biệt. Mình bây giờ, bà trưởng ban tư tưởng lúc nằm cùng
giường, lúc huỵch một phát đã đứng sau lưng, làm thót cả
tim. Tôi nghi nguyên nhân bệnh huyết áp cao của mình cũng từ
đây mà ra.
Khi tôi đọc những câu thơ tặng vợ của bác Thế Dũng:
<em> "Cõi người giam lỏng thi nhân/ Tôi giam tôi với Minh Tâm
giữa đời/… Em sống chết trong tôi/</em>
<em>Không biết yêu em thì tôi đến/ cuộc đi này làm gì? Tâm
ơi… "</em>
Thế là, tôi bắt chước bác Dũng, nghĩ mấy đêm liền viết
được bài thơ khá dài" Đôi Mắt" có những câu, rất bay
bổng. Chờ đúng buổi sáng đẹp giời, ăn sáng xong, lúc vui
vẻ cafe, tôi đọc cho bà ấy nghe:
<em>" …Nếu là người địa chất</em>
<em>Đi vào trong lòng đất</em>
<em>Để khai thác tài nguyên</em>
<em>Anh đi vào mắt em</em>
<em>Tìm bao điều chưa nói</em>
<em> …Ôi! Đôi mắt của em</em>
<em>Là cả bầu trời xanh của vũ trụ</em>
<em>Anh cứ đi tìm mãi</em>
<em>Dù có hết đời anh</em>
<em>Không bao giờ hết được</em>
<em>Những gì trong mắt em…"</em>
Nâng tầm đôi mắt, với những câu nịnh đầm như vậy, tôi
nghĩ, thế nào bà ấy cũng phải mắc câu vào rọ, nới lỏng
bới móc, kiểm soát một chút. Mới đầu bà ấy có vẻ cảm
động lắm. Lúc sau mặt bà ấy đổi sắc, không được, mấy
ông hâm hấp, thơ phú này, tư tưởng dễ bị diễn biến lắm.
Từ nay, tôi vẫn phải giám sát ông. Nhiều lúc nghi, hay bà ấy
có vấn đề, xúi bà ấy đến bác sỹ. Bà ấy quặc lại, ông
điên à, tôi thể thao, sport thế này, làm sao mà phải đến bác
sỹ. Hay nhận thức bà ấy có vấn đề? Cũng chẳng phải nốt,
vì bà ấy học hành cũng khá, là cựu cầu thủ đội tuyển
quốc gia Việt Nam, nên đã đi thi đấu, tập huấn ở nhiều
nước. Hơn nữa, bà ấy đã từng huấn luận viên quốc gia,
nên đã học qua tâm lý con người.
Viết ra điều này, bác nào có kinh nghiệm, truyền cho ít võ
đỡ, chứ tôi hết cách rồi. Nhưng có gì các bác rỉ tai thôi
nhé, bà ấy biết tôi có tư tưởng chống đối, là gặp đại
hạn chứ chẳng chơi. Như hôm rồi, dấm dúi mãi, tôi mới
viết xong truyện ngắn" Những Vết Thương Không Bao giờ Thành
Sẹo". Có cảnh tả, trái tim mình hơi xao động trước người
đàn bà hát. Thế mà, báo vừa đăng lên, chẳng hiểu ai mách
bà ấy đọc, vậy là tôi bị phạt hành chánh vì can tội dao
động tư tưởng, ngay tức thì.
Thế mới biết, bác Thế Dũng có hậu phương quả thật tuyệt
vời.
Tôi chỉ mới được đọc, tập thơ Từ Tâm và một số bài
thơ đăng rải rác trên các báo của Thế Dũng. Nên chỉ có
một vài nhận xét nhỏ về ông, không biết đúng sai thế nào.
Nhưng cũng phải dứt khoát nói rằng, tôi thích cái hào sảng
hồn nhiên trong thơ của Thế Dũng của những năm bảy, tám
mươi của thế kỷ trước, hay những bài thơ ông viết theo
thể tự do. Còn những bài thơ trìu tượng, sẽ bị gò bó khi
viết, bởi vì ông phải mất công gò ý, tìm từ nên rất kén
người đọc. Tôi tin rằng, với thời đại công nghệ cao như
hiện nay, nhiều người không đủ kiên nhẫn ngồi đọc và suy
ngẫm những câu thơ trìu tượng trong tập thơ Từ Tâm của
ông. Nên tôi vẫn mong ông trở về với thơ tự do như bài
"Tên Em Là Nguyên Khí.." gần đây.
<em>Leipzig tháng 4-2013</em>
Đỗ Trường
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/node/19081), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét