<blockquote>"... Sở dĩ ngày hôm nay đất nước chúng ta kiệt
quệ như thế này cũng vì cái tâm lý tôn sùng bạo lực ấy.
Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm. Chúng ta tôn sùng bạo
lực và ngạc nhiên thấy mình là nạn nhân của bạo
lực."</blockquote>
Hồi còn ở tiểu học, tôi có làm một bài luận với đầu
đề: Trong những anh hùng nước Nam, em thích vị nào nhất? Hãy
nói tại sao? Bài luận này rất phổ thông, hình như người nào
học tiểu học chương trình Việt cũng đã gặp. Chỉ sau khi
đảng cộng sản nắm chính quyền, câu hỏi mới không đặt ra
nữa, vì lúc đó người anh hùng vĩ đại nhất từ xưa đến
nay của Việt nam dĩ nhiên bắt buộc phải là chủ tịch Hồ
Chí Minh.
<div class="boxleft220"><img
src="https://fbcdn-sphotos-a-a.akamaihd.net/hphotos-ak-frc3/379881_588450997831679_61189027_n.jpg"
/></div>
Tôi chọn vua Quang Trung, tức Nguyễn Huệ. Lý do là vì ông ấy
giỏi võ và đánh thắng năm mươi vạn quân Thanh tại trận
Đống Đa. Trong lớp tôi có tới gần một nửa cũng chọn
Nguyễn Huệ. Phần còn lại chọn Trần Hưng Đạo, Đinh Tiên
Hoàng, một vài đứa chọn Ngô Quyền, Trần Bình Trọng, Lê
Lợi, Lê Lai, Trần Quốc Toản, Lý Thường Kiệt.
Sau khi du học Pháp về lôi hỏi một số giáo viên tiểu học
về bài luận. Họ cho biết năm nào cũng ra đề tài này và
Nguyễn Huệ luôn luôn về nhất khá xa, kế tiếp là Trần Hưng
Đạo, Đinh Tiên Hoàng. Thỉnh thoảng có Nguyễn Trãi, Ngô
Quyền, Trần Bình Trọng, Nguyễn Công Trứ.
Nói chung ba ngôi vị đầu vẫn thế, ở đoạn cuối bảng danh
dự đã bắt đầu xuất hiện những nhân vật mới có thành
tích về văn hóa. Nhưng mẫu số chung giữa các vị anh hùng này
vẫn không đỗi: tất cả đều là võ tướng. Nguyễn Trãi tuy
xuất thân là nho sinh nhưng đã cầm quân đi đánh giặc và làm
quân sư (<em>ở đây xin chú thích chữ quân sư thường được
hiểu trong ngôn ngữ dân gian là người bày mưu kế nhưng thực
ra nó có nghĩa là tư lệnh, các quân sư được ra lệnh cho các
tướng</em>). Nguyễn Công Trứ tuy có sự nghiệp văn chương
lớn, nhưng cũng là võ tướng, cầm quân đánh dẹp khắp nơi,
từng là Bình Tây Đại Tướng, ông được coi là người văn
võ kiêm toàn. Tuyệt đối kháng thấy Nguyễn Du, Lê Quí Đôn,
Chu Văn An, Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Phan Huy Chú. Như thế anh
hùng của Việt nam bắt buộc phải là võ tướng, và hơn thế
nữa phải thắng trận. Trần Bình Trọng, Lê Lai là những võ
tướng được tôn vinh vì lòng can đảm, nhưng dần dần lọt
sổ. Trường hợp Nguyễn Trãi có điều đáng nói. Ông giúp Lê
Lợi, cầm quân đánh giặc giành lại được độc lập cho
nước ta, nhưng gặp nạn ở cuối đời, bị tru di tam tộc, về
sau mới được Lê Thánh Tông phục hồi danh dự. Sự oan nghiệt
đó có lẽ đã không khiến ông xuất hiện một cách lộng lẫy
dưới con mắt của trẻ thơ.
Trẻ thơ là tấm gương soi tâm hồn của một dân tộc. Từ
những bài luận của học sinh tiểu học, phải suy ra rằng
người Việt nam có tâm lý tôn thờ bạo lực rất mạnh. Bạo
lực càng nhiều, công đức càng cao.
Nguyền Huệ xuất thân là tướng cướp, nhờ liên hệ với
quân Thượng và quân gốc Chiêm Thành và đám cướp biên
người Tàu mà mạnh dần lên, rồi nhờ tài dùng binh mà lên
làm vua. Ông là người đặc biệt hung tợn và hiếu sát. Sự
nghiệp của ông là những trận đánh khốc liệt trong đó
người Việt nam tàn sát lẫn nhau; chỉ có hai ngoại lệ là
một trận đánh thắng quân Xiêm và một trận Đống Đa, trong
đó ông phá tan quân Thanh. Trong một bài sau tôi sẽ trở lại
với nhân vật Nguyễn Huệ và trận Đống Đa. ở đây tôi chỉ
xin đưa một nhận định tạm thời. Nếu nhìn một cách bình
tĩnh thì công lao của Nguyễn Huệ thực ra không thấm tháp gì
so với những tàn phá và chết chóc mà ông đã gây ra cho đất
nước. Việc ông được tôn sùng quá đáng tố giác một tâm
lý kính sợ bạo lực của người Việt nam; việc người ta tô
vẽ cho ông nhưng đức tính mà ông hoàn toàn không có như giỏi
trị nước an dân, có lòng nhân ái, v. v... chứng tỏ rằng ta
tôn sùng bạo lực tới độ ta sẵn sàng làm đẹp nó.
Hình như ta còn cho rằng chỉ có những chiến công mới là
đáng kể, những gì đạt được phải đạt bằng bạo lực
mới là hay. Chu Văn An đã viết ra nhiều sách, Lê Quí Đôn có
công làm ra bộ tự điển bách khoa đầu tiên, Lê Văn Hưu mở
đầu cho khoa sử ở nước ta, Ngô Sĩ Liên là người đầu tiên
biết nhận định lịch sử một cách chính xác, có thể coi như
nhà lý luận chính trị đầu tiên của nước ta, Phan Huy Chú là
tác giả công trình biên khảo lớn nhất. Tuy vậy, tất cả
đều không phải là những anh hùng dân tộc. Nguyễn Du chỉ
được biết tới như một nhà thơ lớn.
Không những người cộng sản, mà cả nhưng người chống
cộng, đều nghĩ rằng thành tích to lớn nhất và cũng là nền
tảng của sự chính đáng của đảng cộng sản là đã đánh
Pháp, đánh Mỹ, đánh phe quốc gia. Nhưng nếu không đánh thì
sao? Nếu biết vận dụng trí tuệ để tranh đấu bất bạo
động chắc chắn chúng ta cũng đã được độc lập và thống
nhất không muộn hơn, mà lại không phải trải qua những đỗ
vỡ trầm trọng. Ta tôn thờ bạo lực ngay cả khi bạo lực có
hại.
Người cộng sản không có độc quyền tôn thờ bạo lực.
Việt nam Quốc Dân Đảng dù không có một hy vọng mảy may nào
thắng được người Pháp bằng bạo lực vẫn chủ trương dùng
con đường bạo lực ngay từ đầu. Quyết định khởi nghĩa
năm 1930 chỉ là một quyết định tự sát.
Sự hấp dẫn của bạo lực đối với chúng ta quá mạnh. Mạnh
đến nỗi ta không những chấp nhận mà còn mơ ước bạo lực.
Khi không có bạo lực, ta phải cố bịa đặt để tưởng
tượng rằng mình có bạo lực. Các tổ chức chống cộng hải
ngoại trước đây đều đồng thanh chủ trương phải giải
phóng quê hương bằng bạo lực, dù hoàn toàn không có phương
tiện của bạo lực.
Ông Võ Đại Tôn có lực lượng gì đâu, ông chỉ cùng với hai
ba người qua biên giới Lào chụp ảnh để gây ấn tượng trong
cộng đồng người tị nạn. Ông Hoàng Cơ Minh lập một doanh
trại ở Thái Lan rồi bảo đó là chiến khu quốc nội. Trách
họ là bịp bợm có thể đúng nhưng quả là quá dễ và, theo
tôi, không công bình. Họ phải làm như thế để tranh thủ sự
ủng hộ. Giả thử nếu ông Võ Đại Tôn không tạo cái ảo
tưởng là có bạo lực thì ông cũng không khác nhiều người
hoạt động khác. Nếu ông Hoàng Cơ Minh không lập chiến khu
thì liệu ông có được sự ủng hộ mạnh mẽ đến thế
không?
Sự thực ra cũng không thể trách họ là bịp bợm. Tôi sang
Pháp lúc ông Hoàng Cơ Minh đang nỗi như cồn. Tôi đã nói
chuyện với rất nhiều người, và không ai, kể cả những
người ủng hộ ông, tin là ông có chiến khu thực sự đâu.
Vậy làm sao có thể nói là đã bị lừa gạt? Nói như vậy là
không thành thực. Sở dĩ người ta ủng hộ ông là vì ông đã
có công tạo ra một ảo tưởng bạo lực, và ảo tưởng đó
là giấc mơ của đa số người tị nạn thời đó. Họ đóng
góp cho ông Hoàng Cơ Minh vì ông cho phép họ nuôi dưỡng giấc
mơ đó. Họ đóng góp cho ông để ông diễn tuồng kháng chiến
võ trang cho họ xem.
Ông Võ Đại Tôn đã phải trải qua mười năm tù tội. Ông
Hoàng Cơ Minh đã thiệt mạng. Nhiều người khác đang mòn mỏi
trong các nhà tù. Họ là những nạn nhân đáng thương của tâm
lý tôn sùng bạo lực của người Việt nam.
Tôi không bao giờ tán thành bạo lực, và hoàn toàn không tán
thành đường lối đấu tranh của họ. Nhưng đối với họ tôi
luôn luôn có một tình cảm bùi ngùi, thương xót. Điều đáng
trách là tâm lý tôn sùng bạo lực của con người Việt Nam.
Nhóm Thông Luận đã bị phản đối dữ dội vì chủ trương
từ bỏ bạo lực, và do đó đụng chạm tới một sự sùng ái
lâu đời. Một dân tộc không nhiều thì ít cũng xứng đáng
với số phận của mình.
Sở dĩ ngày hôm nay đất nước chúng ta kiệt quệ như thế này
cũng vì cái tâm lý tôn sùng bạo lực ấy. Tất cả chúng ta
đều có trách nhiệm. Chúng ta tôn sùng bạo lực và ngạc nhiên
thấy mình là nạn nhân của bạo lực.
-- NGUYỄN GIA KIỂNG
(viết trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn, 2000)
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/node/19518), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét