Michael Lüders - Những Ngày Thịnh Nộ - Chương 5

<h2>NỖI LO SỢ TRƯỚC SỰ BIẾN ĐỔI</h2>

Năm 1987, Tổng Thống Mỹ Ronald Reagan trong bài diễn văn trước
Cổng Brandenburg ở Berlin đã yêu cầu nguyên Tổng Bí thư Đảng
Cộng sản Liên bang Xô viết dưới sự reo mừng của những
người nghe đã được chọn lọc trước: "Ông Gorbachev, ông
hãy giật sập bức tường này đi!" Khi rồi nó thật sự sụp
đổ hai năm sau đấy, sự vui mừng là vô biên như người ta
đã biết. Bài diễn văn to lớn âm vang ở khắp mọi nơi, nói
về chiến thắng của sự tự do trước sự phi tự do. Các
Chính phủ Phương Tây đã không hề sợ tốn công sức lẫn
tiền bạc để giúp đỡ những nền dân chủ đang thành hình
ở Đông Âu (và để cắt giảm ảnh hưởng của nước Nga kình
địch, như mở rộng khối NATO về phía Đông). Chiến thắng
của Chủ nghĩa Tư bản trước Chủ nghĩa Cộng sản cũng có
nghĩa là "Sự chấm dứt của lịch sử", nhà chính trị học
người Mỹ Francis Fukuyama khẳng định trong quyển sách bán
chạy cùng tên của ông ấy và trao cho Hoa Kỳ một "vai trò
đặc biệt" trong truyền bá tư tưởng tự do và kinh tế thị
trường. Nhà tư tưởng của phái Tân Bảo thủ thuộc trong số
những người đồng thành lập "Dự án cho thế kỷ Mỹ
mới" (Project for the New American Century) năm 1997, cái dự án
đề nghị dân chủ hóa thế giới Ả Rập bằng cách can thiệp
quân sự như ở Iraq năm 2003.

Chiếc chìa khóa để hiểu được sự cảm nhận hoàn toàn khác
nhau về cuộc Cách Mạng ở Đông Âu năm 1989 và trong thế giới
Ả Rập năm 2011 của giới chính khách Phương Tây và nhiều
phần của giới công cộng ở đây [Đức/châu Âu] có lẽ là
nằm ở đây. Sự chấm dứt của Chủ nghĩa Cộng sản và sự
sụp đổ của Liên bang Xô viết không chỉ là một chiến
thắng có được một cách hòa bình trước kẻ thù truyền
kiếp nhiều thập niên liền. Nó đồng thời cũng mang lại
cảm giác rằng người ta đang đứng ở bên mặt đúng của
lịch sử. Trước nay lúc nào cũng làm, sống và nghĩ một cách
đúng đắn. Từ bây giờ, bất cứ một chính sách quyền lực
nào dù có thiển cận đến đâu đi chăng nữa cũng được mô
tả như là sự thể hiện của một đạo đức cao cả hơn,
của những giá trị Phương Tây, của tự do, dân chủ và nhân
quyền. Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, khi đạo Hồi cuối cùng
tiến lên trở thành hình ảnh thù địch mới, còn có thêm một
điều chắc chắn nữa: phải bảo vệ những thành quả gắn
liền với sự thế tục hóa và khai sáng của một xã hội đa
nguyên chống lại những thủ lĩnh Hồi giáo, khủng bố, khăn
trùm đầu và "giết người vì danh dự".

<h2>Tốt và xấu, đúng và sai</h2>

Cuộc Cách mạng Ả Rập đã được định dạng một cách sai
lầm. Nó không phù hợp với cái "đĩa cứng tâm lý" đang
thống trị, không tương ứng với những cảm nhận và những
điều được tin chắc của đa số. Làm sao mà có thể được,
khi hàng triệu những người theo đạo Hồi, những người mà
theo luận điểm của Thilo Sarrazin là bị hỏng hệ gene, bước
xuống đường và chỉ trong vòng vài tuần là đã lật đổ
được những chế độ độc tài có từ nhiều thập niên nay
mà, ở Tunesia và Ai Cập, không phải bắn đến một phát súng,
không cần đến những chiến binh thần thánh, không cần đến
những chiềc mũ của sự căm thù? Làm sao có thể được, khi
những người phụ nữ trùm kín người chỉ còn nhìn thấy mắt
lại đứng trước máy camera yêu cầu có dân chủ và tự do
bằng tiếng Anh thông thạo? Làm sao có thể được, khi đám
đông người đần độn đấy, say mê một tôn giáo thời Trung
cổ, muốn thống trị thế giới, lại có khả năng đoàn kết,
viết nên lịch sử?

Cái mà nếu người ta cứ tiếp tục dòng suy nghĩ cũng đưa ra
một câu hỏi đau đớn trong nước Đức, rằng tại sao chính
những người đấy lại thành công trong một việc mà người
Đức không hề có thể đạt được dù ở mức sơ khai trong
những năm 1930. Thế giới dường như đã đơn giản và rõ ràng
như thế đấy, ví dụ như khi Hans-Magnus Enzensberger dẫn giải ra
trong một bài tiểu luận dài trong tờ ZEIT sau cuộc tấn công
vào Kuwait của Iraq năm 1990, rằng tại sao Saddam Hussein lại là
"một Hitlert thứ hai" và một sự can thiệp quân sự chính
là điều nên làm ở thời điểm này. Điều đấy đã mang lại
cho ông ấy nhiều sự tán thành và công nhận, vì ông ấy đã
học từ lịch sử Đức mới đây và đã rút ra những kết
luận đúng đắn. Tốt và xấu, đúng và sai có vị trí cố
định của nó, không khác gì ở những người phê phán Hồi
giáo sau đấy.

Phản ứng lại những vụ khủng bố của 11 tháng 9 năm 2001, Hoa
Kỳ và đồng minh của mình đã và đang tiến hành hai cuộc
chiến tranh, ở Afghanistan và Iraq. Với mục đích chiến thắng
Al-Qaida và Taliban, và lật đổ đối tác kinh doanh lâu năm Saddam
Hussein mà sự thống trị bạo lực của ông ấy đã không hề
khiến cho ai cảm thấy phiền hà, cho tới khi ông ấy thách
thức các lợi ích về dầu mỏ của Phương Tây ở Kuwait. Các
lãnh tụ Tân Bảo thủ của thế giới, trước hết là ở Hoa
Kỳ, quyết định lập một nhà nước dân chủ kiểu mẫu từ
Iraq mà sức tỏa sách của nó sẽ dần dần giáo dục toàn bộ
vùng đấy đi đến tự do. Và giống như có bàn tay ảo thuật,
xung đột Cận Đông cũng nhân tiện đấy mà sẽ được giải
quyết, vì kẻ hỗ trợ khủng bố chủ yếu, Saddam Hussein, không
còn nữa.

Hàng trăm nghìn người đã chết, trước hết là trong Iraq. Ở
Kabul cũng như ở Bagdad, những chính phủ bù nhìn được hợp
pháp hóa một cách giả dân chủ nắm quyền, những chính phủ
hoàn toàn chỉ thực hiện chính sách bảo trợ [clientelism] và
bỏ đầy túi cho mình. Chi phí cho cả hai cuộc chiến tranh đã
vượt ranh giới nghìn tỉ từ lâu rồi. Không chiến thắng
được Al-Quadi, nói chi đến Taliban, Iraq đứng ở rìa của sự
phân rã nhà nước và tình trạng vô chính phủ, Hamas và
Hezbollah mạnh như chưa từng bao giờ, trong Iraq và cả trong
Afghanistan, Teheran có ảnh hưởng nhiều như chưa từng bao giờ.
Ngay đến Francis Fukuyama cũng phải thừa nhận trong tờ New York
Times năm 2006 rằng cuộc Chiến tranh Iraq là một sai lầm đáng
sợ. Ông ấy còn đặt Chủ nghĩa Tân Bảo thủ, tư tưởng
thống trị tất cả trong kỷ nguyên của George W. Bush, ngang với
Chủ nghĩa Bolshevik dưới thời Lenin.

Đấy là những từ ngữ rõ ràng của sự tự phê phán và cũng
chính vì vậy mà là một trường hợp ngoại lệ lớn lao.
Nước Cộng hòa Liên bang [Đức] dưới chính phủ
Schröder/Fischer đã khôn ngoan đứng ngoài cuộc chiến tranh trong
Iraq. Nhưng không đứng ngoài ở Afghanistan, cái đè nặng lên
chính sách chính trị của Đức cho tới ngày hôm nay. Đa số
người dân không tán thành cuộc chiến tranh này. Mặc dù vậy,
nó vẫn được tiếp tục, chắc chắn là còn nhiều năm nữa.
Điều đấy có liên quan đến trách nhiệm trong liên minh và
với việc có những người lính đã chết ở đấy và đã
đầu tư những khoản tiền khổng lồ. Một chính phủ mà thừa
nhận rằng đã hy sinh tính mạng con người và tài nguyên một
cách vô nghĩa sẽ không được bầu lại. Nhiều hơn thế, nó
đặt ra câu hỏi về hệ thống. Bị đe dọa ở đây chính là
sự đồng thuận về cơ bản của chính trị Phương Tây, tức
là đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền, hay nói cách
đi: hướng đến các giá trị. Tất nhiên là ai cũng biết, nếu
như người đấy muốn biết, rằng chính trị theo đuổi trước
hết là lợi ích. Tuy vậy, sự thống trị, cả một sự thống
trị được hợp pháp hóa một cách dân chủ, cũng cần đến
một vẻ ngoài tốt đẹp, cần đến những từ ngữ to lớn,
những lý tưởng đáng kính trọng. Với sự ích kỷ được phô
trương ra ngoài một cách công khai thì không thể điều hành
nhà nước về lâu dài được.

<h2>Ngừng lại!</h2>

Cuộc Cách mạng Ả Rập là một sự khiêu khích. Nó làm lung lay
những điều được cho là chắc chắn. Một khi người Ả Rập
thành công trong việc tự mình lật đổ các nhà độc tài –
thì tại sao lại có những cuộc chiến tranh trong Afghanistan và
nhất là trong Iraq? Tại sao phải dùng bạo lực thô bạo để
phá cánh cửa khi những người dân tại chỗ có chiếc chìa
khóa? Những người biện giải cố chấp của Chiến tranh Iraq
lý luận ngược hẳn lại. Họ khẳng định rằng chính là nhờ
chính sách của Goerge W. Bush mà nói chung là các tiền đề cho
những cuộc cách mạng bây giờ mới được tạo ra. Hay là họ
có tìm cách chứng minh rằng cuộc Cách mạng Ả Rập hoàn toàn
không phải là một cuộc cách mạng. Đúng hơn, đấy là một
cuộc nổi dậy của những kẻ nghèo hèn đang kéo đến những
cái nồi thịt. Tất cả những điều đấy đều chẳng có liên
quan gì đến dân chủ hay dân chủ hóa cả. Hưởng lợi tất
nhiên là những người Hồi giáo, cái thể hiện một mối đe
dọa thật sự, trước hết là cho Israel. (Nshư John B. Judis, Stop
Calling It Egypt's Revolution, trong The New Republic, 16/02/2011.)

Khi người Ai Cập nhiều ngày và nhiều tuần liền cùng nhau tìm
đến những cuộc biểu tình lớn nhất đã từng có trong lịch
sử của thế giới Ả Rập và trong lịch sử ít ra thì cũng là
7000 năm của đất nước này, và là một cách hòa bình, thì
Tổng thư ký NATO Anders Fogh Rasmussen, người là Thủ tướng Đan
Mạch thuộc vào trong số những người tán thành cuộc Chiến
tranh Iraq, tuyên bố trên Hội nghị An ninh München rằng những
vụ lật đổ ở Tunesia và Ai Cập sẽ đặt ra cho khối NATO
thêm những nhiệm vụ mới nữa. Một phán xét đáng ngạc
nhiên: Hàng triệu người Ả Rập đòi hỏi tự do và một một
cuộc sống tốt đẹp hơn và vị Tổng thư ký của khối NATO
nhìn đấy trước hết là một vấn đề an ninh? Thách thức
thật sự cho khối NATO là một thách thức hoàn toàn khác. Chúng
ta cứ hãy cho rằng các quốc gia Ả Rập thật sự phát triển
theo hướng dân chủ và nhà nước pháp quyền, việc khiến cho
các khuynh hướng quá khích trong Hồi giáo mất đi ảnh hưởng.
Thế là NATO nhất định sẽ bị mất hình ảnh của một địch
thủ. Cuộc đấu tranh chống Al-Quada, chống Taliban, những kẻ
khủng bố Hồi giáo chung, khống chế Iran – đó chính là cơ
cở hoạt động của chính sách phòng thủ Phương Tây từ 9/11,
không còn bàn cãi trong người Âu và người Mỹ. Đó không
phải là "câu hỏi về giá trị", mà là một câu hỏi thực
tế về chính trị-kinh tế. Đấy đặc biệt là một "phức
hợp quân sự-công nghiệp" – một khái niệm mà Tổng thống
Mỹ Dwight D. Eisenhower, cũng chính là một cựu tướng lĩnh, đã
phổ biến trong bài diễn văn từ giã của ông ấy vào ngày 17
tháng 1 năm 1961. Cuộc tái kết cấu quân đội [Đức] từ một
quân đội của những người thi hành nghĩ vụ quân sự thành
một quân đội chuyên nghiệp chủ yếu là nhờ vào nhận thức,
rằng nước Đức không còn cần một quân đội để bảo vệ
biên giới đất nước của mình nữa. Nhưng hẳn là cần một
đội quân mạnh, có chuyên môn hóa cao, "bảo vệ tự do của
chúng ta tại Hindi Kush", như nguyên Bộ trưởng Bộ quốc phòng
Peter Struck tin là như thế. Điều đấy có hậu quả cho những
hệ thống vũ khí đang được sử dụng, cho sự trang bị khí
tài của quân đội, cho những đơn đặt hàng tương ứng
được đưa sang cho công nghiệp vũ khí. Điều đấy mang lại
lợi ích, ở 28 quốc gia thuộc NATO.

Nhưng không chỉ các nhu cầu của ngành công nghiệp vũ khí
đóng một vai trò trong mối liên quan này. Cũng như thế là sự
thèm khát vô lường về dầu mỏ và khoáng sản của các quốc
gia công nghiệp và bản hạch toán của các ngân hàng lớn,
những ngân hàng mà từ nhiều thập niên nay sẵn sàng cũng như
kín đáo đầu tư và quản lý những khoản tiền bạc tỉ đánh
cắp từ những dân tộc Ả Rập (và không chỉ riêng họ). Sự
đối nghịch giữa sự nhiệt tình và lòng can đảm đáng khâm
phục của người Ả Rập về một mặt và sự dè dặt giống
như đang hôn mê, nhạo báng của các chính khách Phương Tây ở
mặt kia thật là không thể nào rõ rệt hơn được nữa. Trong
khi người Ả Rập viết nên lịch sử thì người Mỹ và
người Âu lo lắng bảo đảm các lợi ích kinh tế và sự phát
triển của giá dầu. Thay vì đưa tay ra cho người láng giềng
ở phương Nam, cùng vui mừng với họ và giúp đỡ họ, nỗi lo
sợ về những dòng người tỵ nạn không thể kiểm soát
được từ Bắc Phi lại thống trị trước hết trong giới
chính trị và truyền thông. Sau cuộc Cách mạng, tròn 20.000
người tỵ nạn từ Tunisia đã vượt thành công con đường nguy
hiểm qua Địa Trung Hải đến Ý. Rom và Paris không nghĩ ra
được gì nhiều hơn là tạm thời đình chỉ Hiệp ước
Schengen và qua đó mang rìu bổ vào những hiệp định châu Âu.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đức biểu hiện sự đồng cảm, Đan
Mạch còn tiến thêm một bước nữa và lại thực hiện kiểm
soát biên giới rộng khắp. Để so sánh: Tunesia đã thu nhận
tròn 300.000 người tỵ nạn từ Libya và phần lớn người dân
đều thể hiện tình đoàn kết với các nạn nhân của Ghaddafi.

<h2>Những hình ảnh ở trong đầu</h2>

Những thèm muốn về kinh tế và địa chính trị trộn lẫn
với một sự phân biệt chủng tộc tiềm ẩn, cái chấp nhận
sự toàn quyền của các nhà độc tài mà không phê phán và đã
không muốn hiểu, hay vẫn không muốn hiểu, rằng sự câm lặng
kéo dài của các dân tộc là hậu quả của sự đàn áp chứ
không phải là một thực tế văn hóa. Người Ả Rập phải
cần một bàn tay cứng rắn. Anh ấy trước sau gì thì cũng
chẳng hiểu gì về dân chủ cả, về tinh thần thì anh ấy chỉ
biết Kinh Coran và khăn trùm đầu.

Những nhà cai trị người Ả Rập đã chấp nhận phần lớn
các luật chơi do Phương Tây đặt ra. Chấp nhận càng rõ ràng
thì tình hữu nghị ở hai bên bờ Địa Trung Hải lại càng sâu
đậm. Và vẫn còn như thế ngay cả khi cuộc Cách mạng đã
diễn ra, như ở ví dụ của Nữ Bộ trưởng đã từ chức của
Bộ Ngoại giao Pháp. Các phản ứng dè dặt về lần nổi dậy
lịch sử tiếp tục kéo dài sự đồng lõa lâu năm của các
chính trị gia Phương Tây với đồng nghiệp Ả Rập của họ.
Với sự khước từ hiện thực hầu như không còn có thể tăng
thêm được nữa, nguyên Tổng Thống Pháp Jacques Chirac đã tuyên
bố trong một chuyến viếng thăm chính thức ở Tunis năm 2003:
"Quyền quan trọng nhất của con người là quyền có lương
thực, được chăm sóc y tế, giáo dục và nhà ở … Nhìn như
thế thì Tunisia rất tiến bộ khi so với những nước khác."
Sau khi chính phủ Liên bang [Đức] ký kết một hiệp định dẫn
độ với Tunisia năm 2003, cái đơn giản hóa việc trục xuất
những người Tunisia xin tỵ nạn đã bị từ chối, nguyên Bộ
trưởng Bộ Nội vụ [Đức] Otto Schily đã ca ngợi "các
truyền thống tự do và pháp quyền" trong đất nước của Ben
Ali.

Cuộc Cách mạng Ả Rập dịch chuyển những hình ảnh mà chúng
ta có trong đầu về Phương Đông. Điều đấy tạo nên bất an
và lo sợ. Từ phương diện cân nhắc sao cho có lợi, cái thống
trị trong các nền văn hóa Phương Tây, một cuộc cách mạng có
một cái gì đó gây xáo trộn sâu sắc. Con người ở đấy tự
đổi mới mình về chính trị, liều mạng sống của họ, trong
khi chúng ta ở đây trước hết là muốn bảo quản sở hữu
của chúng ta. Hay đi tìm ý nghĩa của cuộc sống, kết hợp
với wellness. Những người dựa sự nhận dạng của mình trên
việc phân cách mình với người khác, tin chắc rằng mình
thuộc một dân tộc, một cộng đồng có những giá trị chung,
một nền văn hóa, một nền văn minh có ưu thế hơn, tốt hơn,
có giá trị cao hơn những cái khác – người đấy bây giờ
phải đối diện với những nhận thức đau đớn.

Một thành ngữ Trung Hoa nói rằng: khi ngọn gió biến đổi
thổi lên thì có người xây tường và người khác xây quạt
gió.

<h2>Đạo Hồi và dân chủ</h2>

Trong các xã hội Phương Tây, sự chạm trán với đạo Hồi,
với lịch sử và văn hóa của nó, với những gương mặt và
hình dạng xuất hiện của nó, thường mắc phải một cảm
nhận bị chiếu ảnh. Hiện thực bị che chắn mất, nhường
chỗ cho một hình ảnh Hồi giáo được cấu thành từ sợ hãi,
định kiến, khước từ, cái nhiều lần đã dẫn đến sự
khước từ công khai tất cả những gì thuộc Hồi giáo. Nhìn
bề ngoài, đấy là một phản ứng trước khủng bố và bạo
lực, những cái do người Hồi giáo tiến hành và gây nguy hại
cho các xã hội tự do của chúng ta. Từ cách nhìn này, chậm
nhất là từ 11 tháng 9 năm 2001, Hồi giáo là một tôn giáo
bước ra để chiếm lĩnh thế giới. Tương ứng với điều
đấy, những ai cố gắng mang lại một hình ảnh khác biệt
đều hưởng tiếng xấu của một người xem thường, biện hộ
cho tôn giáo, "hiểu đạo Hồi". Ở châu Âu cũng như trong Hoa
Kỳ, nỗi lo sợ đạo Hồi hiện giờ là mẫu số chung nhỏ
nhất của các xã hội đang đánh mất các niềm tin về thế
giới quan và đánh mất sự bảo đảm về kinh tế của chúng
trong diễn tiến của toàn cầu hóa. Nó đã trở thành một yếu
tố chính trị, từ rìa phải cho tới trung tâm bình dân.

Có thể cãi nhau vô tận về đạo Hồi, nếu như không làm rõ
ngay từ đầu các mẫu hình cảm nhận là nền tảng. Những
người có quan điểm từ chối hay thù địch với đạo Hồi
nói chung, những người cho rằng người Hồi giáo là người
Neandertal của thời Hiện đại, những người chưa báo giờ
học cách tự chất vấn về góc nhìn của mình, ai có cảm giác
dễ chịu trong thế giới của những điều mình tin tưởng,
cũng sẽ phán xét cuộc Cách mạng Ả Rập khác với một
người – chúng ta hãy gọi là: công dân thế giới. Một
người bạn của những cái cối xay gió trong thời của biến
đổi. Một người đã học cách xem quan điểm của mình là
một trong nhiều quan điểm có thể. Không lầm lẫn sự thật
với những lời nói dối của quyền lực và không nhất định
phải theo ý kiến của số đông.

Câu hỏi, liệu Hồi giáo và dân chủ có phù hợp được với
nhau hay không, đã được nhắc đến. Về cơ bản là nó vô lý.
Thể hiện một tư cách mà trong đó cái được cho là sự hiểu
biết, một cảm giác thắng thế rõ rệt, sự rập khuôn và
đơn giản là lười suy nghĩ đã gặp nhau. Tại sao người theo
đạo Hồi lại không có khả năng đi đến dân chủ nếu như
họ có được cơ hội để thực hiện việc đấy? Việc một
người nào đó thuộc một tín ngưỡng nào đó nói lên được
điều gì về khả năng hay không có khả năng dân chủ của
người đấy? Nguyên nhân cho sự quá độ đã bị chặn lại
của thế giới Ả Rập-Hồi giáo, từ một xã hội phong kiến
sang một xã hội công nghiệp, có nằm trong tôn giáo hay không?
Nếu có thì chính xác ở đâu? Sách Khải Huyền có chịu trách
nhiệm cho việc này không? Hay là những tục lệ và tập quán
được thực hiện hàng ngày của một tín hữu bình thường?
Người Sunni có lỗi hay không, khuynh hướng đa số trong Hồi
giáo, hay người Shia? Các nhà Khai Sáng và Cải Cách trong Hồi
giáo? Các nhà thần học bảo thủ? Những người thần bí,
Chính Thống giáo? Cấu trúc thị tộc và bộ tộc có được
viết ra trong Kinh Coran hay không? Việc phụ nữ là thứ yếu
trong xã hội Hồi giáo có được các nhà tiên tri mong muốn
không, hay đấy là biểu hiện của một đạo đức cổ xưa đã
xơ cứng lại?

Thuộc trong số những niềm tin cơ bản của giới chính khách
Phương Tây lúc trước cuộc Cách Mạng là việc các nhà độc
tài sẽ bảo đảm an ninh và ổn định. Khi niềm tin này lộ ra
là một sự sai lầm thì không phải sự tự phê phán đi tiếp
theo sau đấy, mà là cái nhìn sợ hãi và lo lắng về phía
trước: Điều gì sẽ xảy ra khi bây giờ các Huynh Đệ Hồi
Giáo sẽ nhận lấy quyền lực ở Ai Cập? Rồi họ có cùng
Hamas, Hisbollah và Iran đe dọa Israel hay không, bãi bỏ Hiệp
ước Hòa bình, mang tư thế chống Phương Tây?

Về Hamas: Những người Hồi giáo Palestine (xuất phát từ Huynh
Đệ Hồi Giáo!) đã chiếm đa số phiếu trong cuộc bầu cử
tự do và bí mật năm 2006, do Liên minh châu Âu giám sát. Nếu
như người ta đi theo logic đang thống trị ở Phương Tây thì
đấy là bằng chứng cho việc rằng người Hồi giáo, vừa mới
được phép đi bầu, không nghĩ ra được điều gì tốt hơn là
bỏ phiếu cho kẻ thù của những giá trị chúng ta và/hay kẻ
thù của Israel. Việc thêm lần nữa đặt ra câu hỏi, liệu
Hồi giáo và dân chủ có thật đi cùng với nhau hay không? Vì
tất nhiên là chúng ta đấu tranh cho tự do và dân chủ ở khắp
nơi trên thế giới – cho tới chừng nào mà kết quả bầu cử
phù hợp với chúng ta. Nếu không được như thế, chúng ta cũng
không phản đối một cuộc đảo chính quân đội như năm 1992
ở Algeria, để ngăn chận "Mặt trận Cứu rỗi Hồi giáo"
thắng cử. Cũng không chống lại sự phong tỏa dải Gaza, để
trừng phạt người dân ở đấy vì thái độ bầu cử của
họ, bao gồm cả cuộc chiến chống Hamas vào lúc giao niên
2008/09. Dân chủ hay tự do – tất cả đều có ranh giới của
nó. Câu hỏi tại sao lại có những kết quả bầu cử như thế
không hề được đặt ra –hay được trả lời nhờ vào những
giáo điều vững chắc. Vì Hồi giáo có khuynh hướng bạo lực
và cuồng tín. Người ta nói Hồi giáo và có ý chỉ những
người theo đạo Hồi. Điều đấy nghe có vẻ vô hại và đúng
đắn về mặt chính trị.

Sự sợ hãi Hồi giáo không chỉ phá hỏng sự chung sống của
những người có tiểu sử khác nhau trong một xã hội toàn cầu
hóa. Nó cũng ngăn chận, trong chính trị đối nội cũng như
đối ngoại, một tranh luận khách quan về những vấn đề đang
tồn tại và dịch chuyển những mâu thuẫn lợi ích lên bình
diện của một "cuộc đấu tranh của các nền văn hóa", cái
biết cách phân biệt tốt xấu rõ ràng. Vì thế mà cũng có gì
đáng ngạc nhiên khi đạo Hồi và Trào lưu Chính thống Hồi
giáo, cũng được gọi lả Chủ nghĩa Hồi giáo hay Hồi giáo
chính trị, trong cảm nhận ở đây được đánh đồng với
nhau. Các khái niệm này mô tả một phát triển đặc biệt
thời sau này của tín ngưỡng Hồi giáo, chưa được 100 năm
tuổi, cái có mục đích là chiếm giữ quyền lực và thực
hiện nó trên cơ sở của (cái được gọi là) những giá trị
Hồi giáo, thường trong hình thức của Luật Hồi giáo, Sharia.
Trong đó, nội dung tín ngưỡng được công cụ hóa cho chính
trị và được dùng để tác động đến quần chúng. Trào lưu
Chính thống không chỉ là một hiện tượng riêng của đạo
Hồi, nó có trong tất cả các tôn giáo. Những người theo Trào
lưu Chính thống đấu tranh cho các lý tưởng khác của cách
sống và của các nguyên tắc trật tự xã hội khác với ví
dụ như những người hiện đại. Họ trước hết là bảo vệ
cho một quyền lực xưa cũ được xem là đang bị đe dọa, trong
kinh tế, chính trị và nhất là trong gia đình. Những câu hỏi
về phụ nữ và đạo đức theo đó không phải là những đề
tài thay thế cho các lý do "thật sự", mà đúng là đứng
trong trung tâm của cuộc đấu tranh.

<h2>Những người của Trào lưu Chính thống Hồi giáo muốn
gì?</h2>

Cần phải phân biệt Trào lưu Chính thống Hồi giáo với Chính
thống giáo, như được thể hiện trước hết là ở Đại học
Al Azhar trong Cairo, quyền lực tối cao trong Hồi giáo Sunni. Nó
cũng cần phải được phân biệt với Hồi giáo nhân dân, với
những huyền bí tín ngưỡng của nó (đạo Sufi) và tôn thờ
thánh thần, với những người tiên tri rày đây mai đó và
những người bói toán của nó. Nhưng trước hết là cần phải
phân biệt nó với Hồi giáo cổ truyền mà đại đa số những
người Hồi giáo đều theo nó. Tức là với Hồi giáo mà đã
được thực hành bởi những người tin vào nó từ thời xưa,
được các nhà thần học và học giả về luật lệ, được
các triết gia và khoa học gia, được các nghệ sĩ và thi sĩ
làm gương và diễn giải. Luật lệ và văn hóa, cấu trúc xã
hội, sự cảm nhận các giá trị nói chung là chịu ảnh hưởng
sâu đậm của quan niệm tôn giáo truyền thống này. Các ranh
giới giữa những thế giới khác nhau của Hồi giáo cũng không
rạch ròi.

Chủ nghĩa Hồi giáo là một sự phản khán về xã hội cũng
như chính trị. Thông thường, nó không đưa ra được một mô
hình để vượt qua được những vấn đề đang tồn tại, hơn
thế, nó là một triệu chứng của sự khủng hoảng. Một mô
hình tư tưởng và mang lại sự nhận diện cá nhân trước hết
là cho những người bị mất địa vị trong xã hội. Tuy vậy,
cũng không được quên một thiểu số quan trọng từ những
người "tự yêu mình và đã bị tổn thương" từ giới
thượng lưu và trung lưu, những người đối diện với sự
biến đổi xã hội quá nhanh chóng, như trong các quốc gia vùng
Vịnh, thường mơ về một "tổ ấm". Họ thường khâm phục
và đồng thời cũng khinh miệt Phương Tây, trước hết là các
cách thức sống phóng khoáng của nó và tự hỏi rằng tại sao
họ lại không tự mình đặt dấu ấn lên thế giới, như tổ
tiên của họ trong đầu thời Trung cổ, kỷ nguyên vàng son của
Hồi giáo. Trên bình diện lãnh đạo, có nhiều người đã tốt
nghiệp đại học, những người mà không tìm thấy một cơ
hội cho sự nghiệp nào ở những nơi khác. Xuất phát từ sự
băn khoăn về hiện đại, ngoại trừ những thành tựu về kỹ
thuật như Internet, những người của Trào lưu Chính thống Hồi
giáo thích chạy trốn vào trong một quá khứ đã được lý
tưởng hóa, thời đầu của Hồi giáo mà được xem như là
toàn hảo: khi nhà tiên tri Mohammed cùng với chỉ một vài
người khởi hành để lập dựng một đế chế.

Một giáo viên tiểu học trẻ tuổi đã làm sống lại những hy
vọng không thành về một tầm vóc to lớn cho Hồi giáo. Hassan
al-Banna (1906-1949) được xem là nhà tư tưởng nổi tiếng đầu
tiên của Trào lưu Chính thống Hồi giáo. Năm 1928, ông thành
lập Huynh Đệ Hồi Giáo ở Ai Cập, hình thức nguyên thủy của
tất cả các phong trào Hồi giáo và cho đến ngày nay vẫn còn
hoạt động tích cực trong nhiều quốc gia Ả Rập. Hassan
al-Banna tin rằng đạo Hồi chính là một trật tự sống rộng
lớn, duy nhất và không thể so sánh được, vì đã được
chính Thượng Đế bộc lộ ra. Những người thuộc Trào lưu
Chính thống Hồi giáo thường hay từ chối việc diễn giải
những bản văn kinh điển, vì điều đó có nghĩa là giải
thích lời của Thượng Đế. Phái Chính thống giáo của đạo
Hồi chính là địch thủ không khoan nhượng của họ, vì quan
điểm đấy đặt dấu hỏi lên quyền diễn giải tối thượng
của họ và qua đó là yêu cầu về quyền lực của họ. Cả
một thời gian dài, người Hồi giáo dù theo định hướng nào
cũng thống nhất với nhau trong hai mục đích: đấu tranh chống
những kẻ cầm quyền bất tài và tham nhũng của họ, và giải
phóng thế giới Ả Rập-Hồi giáo khỏi Phương Tây và ảnh
hưởng của nó. Thời đấy, vấn đề ở Ai Cập là cuộc đấu
tranh chống những ông chủ thuộc địa Anh, ngày nay, Mỹ là kẻ
thù lớn của Hồi giáo: Hoa Kỳ và đồng minh Israel ở Cận
Đông của nó.

Thế nhưng Huynh Đệ Hồi giáo không dừng lại ở ý thức hệ.
Từ những ngày đầu tiên, họ đã có những dịch vụ xã hội
không mất tiền, nhưng bữa ăn cho người nghèo hay chăm sóc về
y tế. Điều đấy giải thích cho sự ủng hộ to lớn trong
quần chúng, những người không trông mong được nhà nước
giúp đỡ. Tại tất cả các nhóm Hồi giáo, "truyền đạo"
và giúp đỡ nhau bao giờ cũng đi tay trong tay, cả ở Hamas và
Hisbollah (người Shia).

Kế tiếp theo sau Hassan al-Banna, người có lẽ đã là nạn nhân
của một cuộc tập kích của mật vụ Anh, là nhà xuất bản
và hoạt động xã hội Sayyid Qutb (1906-1966), người cũng như
al-Banna có quê quán ở Thượng Ai Cập. Năm 1950, sau một thời
gian ở Hoa Kỳ, ông ấy tham gia Huynh Đệ Hồi Giáo. Ông ấy
nhìn sự chia cắt giữa tôn giáo và cuộc sống xã hội, như
đã diễn ra ở Phương Tây, là nguyên nhân cho những căng thẳng
xã hội, cho phân biệt chủng tộc và thiếu tình đoàn kết.
Đồng thời, ông ấy phản đối sự Phương Tây hóa về văn
hóa đang bắt đầu trong thế giới Ả Rập. Sau một cuộc ám
sát Nasser bất thành được cho là của Huynh Đệ Hồi Giáo, ông
với nhiều người khác phải vào tù. Ở đấy, ông viết quyển
sách với tựa đề "Những cột mốc". Luận điểm chính
của ông: chỉ với sự giúp đỡ của cách mạng, những bất
công bằng xã hội mới biến mất. Ông hiểu cách mạng là
việc đạo Hồi, như một cách sống bao quát, chiếm ưu thế
trong tất cả các lĩnh vực của xã hội. Từ cách nhìn của
ông ấy, nhà nước Hồi giáo không cần tổng thống mà cũng
không cần vua, hơn thế, Thượng Đế chính là người cai trị
và Sharia chính là đạo luật duy nhất. Sau khi "Những cột
mốc" được xuất bản, Sayyid Qutb, lúc này đã được trả
tự do, lại bị bắt giam và cuối cùng bị xử tử. Song song
với đó, Huynh Đệ Hồi Giáo bị cấm. Họ đi vào bí mật, cán
bộ và nhiều thành viên phải chạy trốn sang Ả Rập Saudi, nơi
họ được nhanh chóng tiếp nhận. Quốc gia ở sa mạc, nước
sở hữu tài nguyên dầu mỏ lớn nhất thế giới, đang đứng
trước ngưỡng của một cuộc bùng nổ kinh tế không tiền
khoáng hậu.

<h2>Quyền lực và tôn giáo</h2>

Mãi đến năm 1932, Ả Rập Saudi mới thành hình, nhưng lịch sử
hiện đại của đất nước này đã bắt đầu ngay từ thế
kỷ 18 với sự liên minh giữa người lãnh tụ bộ tộc Mohammed
Ibn Al Saud và nhà truyền giáo Mohammed Ibn Abd al-Wahhab (1703-1791).
Học thuyết do ông thành lập, Thuyết Wahhab, cho tới ngày nay là
giáo điều nhà nước trong Ả Rập Saudi và cuối cùng cũng là
một biến thể thời đầu của Trào lưu Chính thống Hồi giáo,
chỉ dựa trên những quy tắc luật lệ và mô hình dân túy từ
thế kỷ thứ bảy, thời của nhà tiên tri Mohammed và những
người đầu tiên tiếp bước theo ông ấy. Đấy là một liên
minh mà hai bên cùng có lợi. Thuyết Wahhab bây giờ tìm được
sự hỗ trợ bởi một vương triều mạnh, và ngược lại, dòng
họ Al Saud có thể hợp thức hóa về mặt tôn giáo lần chinh
phục các bộ tộc Ả Rập còn lại, được bắt đầu chẳng
bao lâu sau đấy, cho tới lần nhận lấy quyền lực trong vương
quốc được gọi theo họ của họ, Ả Rập Saudi. Cho tới ngày
nay, các nhà thần học và học giả về thuyết Wahhab vẫn còn
là trụ cột cho triều đại Saud. Sự quay về quá khứ của họ
giải thích, chỉ kể ra như một ví dụ, tại sao ở đấy phụ
nữ không được phép lái ô tô.

Nếu không có sự liên kết với thị tộc Al Saud thì có lẽ
Thuyết Wahhab vẫn còn là một phong trào không quan trọng và
chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn như một giáo phái,
một lời chú giải của lịch sử. Thế nhưng nhờ sự giàu có
qua dầu mỏ mà từ những năm 1960 nó phát triển trở thành
người chi tiền quan trọng nhất cho các phong trào Chính thống
Hồi giáo trên thế giới, kể cả Taliban. Với thông điệp đơn
giản của nó, với niềm tin vào sứ mệnh của nó và với
đạo đức nghiêm ngặt của nó, Thuyết Wahhab, trong liên kết
với tài nguyên tài chính bất tận của nó, đã xâm nhập đến
tận những ngóc ngách xa xôi nhất của thế giới Hồi giáo và
cũng tài trợ cho nhiều công trình xây dựng nhà thờ Hồi giáo
trong châu Âu. Đối diện với một quyền lực có tác động
mạnh như thế, những phiên bản tự do và sáng tỏ của Hồi
giáo lại càng khó bắt rễ trong xã hội của những người
Hồi giáo.

Như đã nhắc đến, lần thảm bại của giới Ả Rập trước
Israel trong Chiến tranh Sáu Ngày năm 1967 đánh dấu một bước
ngoặc kỷ nguyên. Kỷ nguyên của Chủ nghĩa Dân tộc Ả Rập,
được thể hiện trước hết là qua Gamal Abdel Nasser, chấm dứt
một cách đột ngột, thay vào đấy, đạo Hồi chính trị vươn
lên trở thành một hệ tư tưởng có khả năng huy động quần
chúng. Bước đường chiến thắng của nó không được Phương
Tây quan tâm nhiều cho lắm vào lúc ban đầu. Cuối cùng, cuộc
Cách mạng của người Shia và lần tiếp nhận quyền lực của
Ajatollah Khomeini năm 1979 ở Iran đã khiến cho Chủ nghĩa Hồi
giáo trở thành một yếu tố quyền lực cùa chính trị quốc
tế – cũng như lần giết chết Sadat trong Ai Cập năm 1981. Tuy
mô hình cách mạng của người Shia không thể xuất khẩu sang
các quốc gia của người Sunni, nhưng lực thu hút của Khomeini
có tác động rộng khắp trong thế giới Ả Rập.

Như một sự phản ứng lại các sự kiện ở Iran, vương triều
Saudi, vương triều tự nhận lấy cho mình quyền lãnh đạo trong
thế giới Hồi giáo, kêu gọi cuộc Chiến tranh Thần thánh,
để giải phóng Afghanistan khỏi sự chiếm đóng của Xô viết
(1979–1989) đã xảy ra trong năm của cuộc Cách mạng Iran. Một
công cụ cho sự tự hợp thức hóa của dòng họ Saudi và của
chính sách quyền lực Mỹ trong cuộc cạnh tranh với Khomeini và
với Moscow. Người Hồi giáo quá khích từ Algeria cho tới
Pakistan, trong số đó là Osama bin Laden, đổ về Afghanistan hàng
nghìn, được tài trợ bởi Riad, được trang bị vũ khí bởi
Washington, và chiến đấu chống cái xấu ở Hindi Kush.

Thế nhưng sau cuộc Chiến tranh vùng Vịnh 1990/91 để giải
phóng Kuwait bị Iraq chiếm đóng, chức năng là van xả của Jihah
quay lại nhằm vào những người tạo ra nó. Các "Chiến binh
Thần thánh", phần lớn đã trở về quê hương, bây giờ lại
xem cường quốc thế giới USA đã thêm mạnh và triều Saudi như
là những kẻ thù chính của đạo Hồi. Họ một phần đi vào
bí mật và dùng bạo lực khủng bố để đấu tranh chống lại
các chính phủ theo Phương Tây trong nước họ: ở Algeria, Ai
Cập, Ả Rập Saudi, ở Jemen, ở Pakistan. Năm 1993, World Trade
Center ở New York lần đầu tiên trở thành mục tiêu của một
vụ khủng bố.

Tuy vậy, vào lúc ban đầu, bạo lực của những người Hồi
giáo hầu như chỉ hướng đến các chính quyền Ả Rập bị
căm ghét hay chống lại lực lượng chiếm đóng Israel (Hamas,
Hisbollah). Những cuộc tấn công khủng bố các cơ sở của Mỹ
và Phương Tây, trừ những trường hợp ngoại lệ, chỉ được
ghi nhận trong nửa sau của những năm 1990 và trải qua đĩnh cao
của nó vào ngày 11 tháng 9 năm 2001.

Vào lúc ban đầu, những người của Trào lưu Chính thống Hồi
giáo nhận được sự ủng hộ trong các tầng lớp ở phía
dưới của xã hội cũng như trong giới trung lưu. Họ được
lòng người dân không phải vì sự ao ước có một quốc gia
thần quyền mà là vì tình cảnh xã hội và chính trị không
thể chịu đựng được. Nhà thờ Hồi giáo là nơi công cộng
duy nhất không hoàn toàn đứng dưới sự kiểm soát của nhà
nước. Trong nhiều nước Ả Rập, không gian thuộc đạo giáo
đã trở thành nơi trốn tránh cho sự phản đối. Trước hết
thảy là trong Algeria, nơi mà lần thắng cử chắc chắn của
"Mặt trận Cứu rỗi Hồi giáo" năm 1992 đã được ngăn
chận bởi một cuộc đảo chính quân sự đẫm máu. Đối với
người đi bầu, những người để râu đó là sự lựa chọn
khác duy nhất trong một hệ thống chính trị giao đặc quyền
vô hạn về cho một giới tinh hoa nhỏ, trong khi đa số người
dân sống trong nghèo khổ tuy là đất nước này giàu về dầu
mỏ và khí đốt. Giới tinh hoa cầm quyền của Algeria chủ yếu
xuất phát từ giới của những người kháng chiến thuộc FLN
[Front de Libération Nationale – Mặt trận Giải phóng Quốc gia],
những người mà sau khi Algeria độc lập với Pháp năm 1962
không hề có ý định gì tốt đẹp hơn là chia chác nhau quốc
gia và tài nguyên của nó. Tiếp theo sau đấy, các đặc quyền
của họ được các người con của họ thừa hưởng. Người
Algeria không còn có thể chịu đựng được nhóm mafia của mình
nữa và muốn bầu cử để truất phế họ trong lần bầu cử
tương đối tự do đầu tiên và – như sau này có thể thấy
được – cũng là lần cuối cùng.

Sau lần đảo chính là một cuộc nội chiến đáng sợ, được
cả hai bên, quân đội và người Hồi giáo, tiến hành với sự
tàn nhẫn không khoan nhượng và bất chấp tổn thất. Có ít
nhất là 200.000 người đã chết trong những năm sau đó. Không
chỉ trong Algeria mà cả trong toàn thế giới Ả Rập, bạo lực
và khủng bố của những người Hồi giáo đã khiến cho hình
ảnh của họ xấu đi nhanh chóng. Giới trung lưu rời xa những
nhóm sẵn sàng dùng bạo lực, giới hạ lưu thì ít hơn. Họ lo
sợ một cuộc "Taliban hóa" đất nước của họ. Thay vì
vậy, họ cố gắng tạo ảnh hưởng đến sự phát triển chính
trị qua bầu cử. Không thành công, nhưng giới trung lưu thành
thị cũng không muốn có nội chiến và vô chính phủ. Những
người Hồi giáo trung hòa, ví như Huynh Đệ Hồi Giáo ở Ai
Cập, những người đã từ bỏ bạo lực ngay dưới thời Sadat,
hay "Mặt trận Hành động Hồi giáo" ở Jordan về phía mình
lại tìm cách dàn xếp với quyền lực. Vào khoảng bước sang
thiên niên kỷ mới, Chủ nghĩa Hồi giáo sẵn sàng dùng bạo
lực đã trên đường rút lui, chính trị cũng như "quân
sự". Trừ một vài ngoại lệ, trong số đó là Al-Qaida.

Chúng ta hãy ghi nhận: Trào lưu Chính thống Hồi giáo khởi
thủy là một phong trào chống đối có định hướng chống
lại chính quyền của mình cũng như chống lại sự bá chủ
của Phương Tây. Chủ nghĩa Hồi giáo không phải đồng nghĩa
với khủng bố, người đạo Hồi hoàn toàn không có xu hướng
bạo lực về cơ bản. Nhiều đảng điều hành nhà nước đã
xuất phát từ hàng ngũ của họ. Đặc biệt là "Đảng Công
bằng và Phát triển", AK-Partisi, đang cầm quyền hết sức
thành công tại Thổ Nhĩ Kỳ.

<h2>Một đạo Hồi gần gũi</h2>

Song song với đó có một sự phát triển mới từ lúc chuyển
đổi thiên niên kỷ, sự phát triển mà một vài nhà quan sát
Phương Tây gọi là "Trào lưu Chính thống Mới". Sau khi cuộc
nổi dậy chống những kẻ đang thống trị thất bại, một
"phong trào" mới thành hình. Những người Hồi giáo ngoan
đạo, đặc biệt là từ giới trung lưu, chấp nhận ý nghĩ
rằng không thể chiếm lĩnh quyền lực qua chính trị. Thay vào
đó, họ dựa trên ý tưởng nhờ vào những lời kêu gọi về
đạo đức để làm trong sạch xã hội nói chung. Những lời
phê phán kẻ cầm quyền câm lặng đi. Thay vào đấy là lời
kêu gọi thức tỉnh hướng đến tất cả mọi người, kể cả
những người đang câm quyền, rằng hãy đối xử theo như đạo
Hồi, "làm cái tốt và tránh cái xấu". Quốc gia thần quyền
không phải là mục đích mà là một cộng đồng Hồi giáo từ
anh em và chị em, những người đưa tay cho nhau. "Trào lưu
Chính thống Mới" không phải là một nhóm đồng nhất. Trong
hàng ngũ của họ có những người Hồi giáo cũ cũng như những
người theo truyền thống hay những người Hồi giáo bảo thủ.

Các nhà truyền giáo xuất hiện trên truyền hình, nhanh chóng
đến được với hàng triệu khán giả, đặc biệt là nhờ vào
các đài truyền hình vệ tinh mới. Thông điệp đơn giản cũng
như vui mừng của họ là: Thượng Đế yêu ngươi. Một trong
số những người thành công nhất của giới này là người Ai
Cập Amr Khaled, một người giống như người con rể có sức thu
hút, làm đầy các sân vận động mà chẳng tốn nhiều công
sức và cũng được những kẻ đầy quyền lực thích nghe, vì
ông ấy không làm cho ai đau: hãy chấp nhận số phận của
mình, trước sau gì thì nó cũng làm những gì mà nó muốn. Cái
chính là bạn hãy hạnh phúc và hãy nghĩ đến Thượng Đế.
Chủ nghĩa đạo Hồi dễ chịu và gần gũi này được giới
trẻ ưa thích và đã góp phần quyết định trong việc phi chính
trị hóa các không gian tín ngưỡng. Đối với thế hệ Facebook,
đạo Hồi là hệ tư tưởng thì ít, phần nào còn chẳng là
tín ngưỡng thường ngày nữa, mà nhiều hơn là một cách
sống. Người ta ăn Halal-Food (được chế biến theo đúng đạo
giáo hơn), mang khăn trùm đầu từ thời trang cho tới sexy, uống
Zam-Zam Cola (được gọi theo nguồn của Mekka), tìm bạn của
mình qua Dating-Portal Hồi giáo, quan tâm đến ngân hàng Hồi giáo
với việc cấm lấy tiền lãi, ăn kiên trong tháng Ramadan vì
thấy điều đấy hay, và thích Amr Khaled vì tất cả mọi
người đều thích ông ấy.

Các nhà xã hội học Ả Rập không dùng khái niệm "Trào lưu
Chính thống Mới". Thay vì vậy, họ nói về một Phong trào
Salafi và còn có ý bao hàm rộng hơn nữa. Trong đó là từ Ả
Rập cho tổ tông và tiền bối. Trong thế kỷ 19, người Salafi
là các nhà tư tưởng đầu tiên muốn hòa giải Hồi giáo với
hiện đại. Họ tuyên truyền cho một "bước ngoặc tư tưởng
và đạo đức", cho một cách đọc hiện đại Kinh Coran và
yêu cầu các tín đồ hãy rút ngắn khoảng cách tri thức giữa
xã hội Hồi giáo và Phương Tây. Ngày nay, khái niệm này đã
bị đảo ngược lại. Theo người Hồi giáo gọi, "người
Salafi" là những người không quan tâm đến một đạo Hồi
gần gũi mà đến giáo điều và đến sự thực hiện một cách
nghiêm ngặt luật Hồi giáo như họ hiểu nó. Đàn ông để
râu, phụ nữ trùm kín và chỉ ra khỏi nhà ra có lý do chính
đáng. Phong trào Salafi chủ yếu là một hiện tượng của tầng
lớp dưới của xã hội và đứng gần với Thuyết Wahhab Ả
Rập Saudi, thuyết ra sức giúp đỡ nó về mặt tư tưởng cũng
như tài chính.

Điều đấy là một nghịch lý, khi hàng triệu người Ả Rập
đã sống như công nhân ngoại quốc trong Ả Rập Saudi và đã
không thích thú phong cách sống khắc khe ở đấy nhiều lắm,
đi cùng với sự ra vẻ mộ đạo và đạo đức giả. Cả
nước Cộng hòa Hồi giáo (Sunni) Iran cũng ít được người Ả
Rập cho rằng đấy là một mô hình thành công đáng được noi
theo. Các trải nghiệm với Hồi giáo chính trị trong phần lớn
các trường hợp đều khiến cho người ta thất vọng. Cả Chủ
nghĩa Dân tộc Ả Rập lẫn tôn giáo đều không chỉ ra được
cho người dân con đường đi đến một tương lai tốt đẹp
hơn. Bây giờ phải tìm những giải pháp thực dụng cho các
vấn đề cụ thể. Bắt đầu với việc đuổi cổ các nhà
độc tài.

Điều đấy không có nghĩa là con người phải từ bỏ niềm tin
của họ, còn ngược lại nữa. Trước đây 20 năm, 90% phụ nữ
Ai Cập đều không che mặt. Ngày nay là không hơn 10%. Sự phát
triển này có nhiều nguyên nhân, thường có liên quan đến sự
phản kháng, với sự phân định ranh giới, với sự tìm kiếm
một nhận dạng riêng cho mình. Sẽ là một sai lầm nếu lầm
lẫn sự ngoan đạo của nhiều người Ai Cập, và nói chung là
người Ả Rập, với chính trị hóa. Cuộc tranh luận về khăn
trùm đầu ở chúng ta [Đức], quay quanh sự đàn áp phụ nữ và
tính không thích hợp với dân chủ, ít có liên quan hay không
hề có liên quan gì đến hiện thực cuộc sống của phụ nữ
Ả Rập.

Tóm lại: Hồi giáo chính trị nằm trong một quá trình biến
đổi liên tục, nó không tồn tại ở bên ngoài những điều
kiện khung xã hội, những cái về mặt mình lại tồn tại ngày
càng ngắn ngủi hơn trong khung cảnh toàn cầu hóa. Thời vàng
son của các hệ tư tưởng Hồi giáo đã qua rồi. Những người
Hồi giáo sẵn sàng dùng bạo lực hoạt động trước hết là
trong những quốc gia có nhiều người vô chính phủ như Somalia,
Iraq, Jemen, Pakistan, Afghanistan mà Al-Qaida cũng đã tìm thấy
được nơi nương náu ở đấy. Cuộc đấu tranh của Hames và
Hisbollah chống lại sự chiếm đóng của Israel là một trường
hợp đặc biệt. Những kẻ khủng bố theo đạo Hồi có khả
năng tập kích ở khắp nơi trên thế giới. Nhưng họ không là
phần của một phong trào xã hội. Tuy vậy, họ lại đặt dấu
ấn nhiều nhất lên hình ảnh của Hồi giáo như là một tín
ngưỡng cuồng tín, sẵn sàng dùng bạo lực. Cảm giác đấy sai
lầm. Cũng như ý tưởng rằng những nhà độc tài Ả Rập sẽ
bảo vệ nhà nước và xã hội trước sự cuồng tín tôn giáo.
Chưa từng bao giờ như vậy. Ngược lại, họ còn cho những
người Hồi giáo được toàn quyền hành động, cho tới chừng
nào mà bạo lực của họ hướng đến những người ngoài
đạo phê phán chính quyền, đến các nhà cải cách Hồi giáo
và giới trí thức không được ưa thích. Cho đến giết người
vì chính trị. Nói cách khác, Hồi giáo chính là sự thể hiện
của một khởi đầu mang tính lịch sử. Nó tìm, cả bằng bạo
lực, một con đường bền vững để đi vào hiện đại.

Châu Âu cũng đã trải qua những khởi đầu tương tự như thế
trong hai thế kỷ vừa rồi. Và đã để lại những dấu vết
đẫm máu hơn nhiều khi so với sự khủng bố tồi tệ nhất
từ Hồi giáo. Chỉ cần nhớ lại những người đã chết trong
Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến.

Michael Lüders
Nhà xuất bản C. H. Beck
Phan Ba dịch

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/node/18955), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét