<h2>Bài 1: Nhầm lẫn khái niệm "Hiến pháp"</h2>
<em><strong>Trong bài "<a href="http://www.procontra.asia/?p=1623">Bao
nhiêu ý dân thì đủ?</a>", tác giả Phạm Thị Hoài đã sử
dụng nhầm lẫn hai khái niệm Verfassung (Hiến pháp) khác với
Grundgesetz (Luật cơ bản) vốn có quan hệ nội hàm "cành,
nhánh" hay "mẹ, con".</strong></em>
Để phủ định quyền dân phúc quyết hiến pháp, tác giả
Phạm Thị Hoài viện dẫn thực tế quá trình lập hiến Đức
(trích): <em>Nhân dân CHLB Đức chưa bao giờ được trưng cầu ý
kiến về văn bản tối thượng mang tên Grundgesetz (Luật Cơ
bản) của mình. Nó được soạn thảo bởi 65 vị trong
Parlamentarischer Rat (Hội đồng Nghị viện), dưới sự ủy
nhiệm và kèm cặp của chính quyền quân quản Anh, Pháp và Mỹ
sau Thế chiến II. Sau khi được thông qua với 53 phiếu thuận
và 12 phiếu chống trong Hội đồng Nghị viện, nó được trình
cho ba chính quyền Đồng minh nêu trên xét duyệt. Sau khi được
các Thống đốc Quân sự Anh, Pháp, Mỹ chấp nhận, nó được
gửi đến các nghị viện tiểu bang để phê chuẩn. Sau khi
được phê chuẩn, ngày 23-5-1949 nó được Hội đồng Nghị
viện chính thức tuyên bố là văn bản lập quốc. Nước Cộng
hòa Liên bang Đức (Tây Đức cũ) ra đời với bản Hiến pháp
ấy. Bản hiến pháp được coi là hoàn hảo nhất trong lịch
sử nước Đức ấy không do ý nguyện dân chủ từ dưới lên
sinh ra, mà do ý chí chính trị từ trên xuống, thậm chí với
áp đặt từ các thế lực ngoại bang.</em>
<em>Năm 1990, trong quy trình thốnng nhất nước Đức, nghị viện
của các tiểu bang thuộc Đông Đức cũ cũng phê chuẩn và gia
nhập Hiến pháp này mà nhân dân Đức ở cả bên Đông lẫn
bên Tây đều không được trực tiếp biểu quyết. Trong 64 năm
từ khi ra đời, Hiến pháp Đức có 59 bổ sung, sửa đổi, lần
cuối cùng vào giữa năm ngoái. Không một lần nào có trưng
cầu ý dân. Song điều đó không cản trở nước Đức … thành
một trong những nền dân chủ trưởng thành và ổn định nhất
trên thế giới",</em> (Hết trích).
Tác giả đã sử dụng nhầm lẫn hai khái niệm Verfassung (Hiến
pháp) khác với Grundgesetz (Luật cơ bản) vốn có quan hệ nội
hàm "cành, nhánh" hay "mẹ, con". Từ năm 1949 tới nay,
nước Đức chỉ có Luật Cơ bản năm 1949 và sửa toàn diện
năm 1990, được coi như Hiến pháp chứ không phải Hiến pháp.
Nó được xuất bản với tờ bìa mang tên "Grundgesetz" và
gọi đúng tên đó trên các văn bản pháp lý trích nó. Luật,
bất cứ là luật gì cơ bản hay không, do nghị viện ban hành
đều không nhất thiết phải phúc quyết, bởi đó là quyền
lập pháp của họ, giải thích tại sao Luật Cơ bản Cộng hoà
Liên bang Đức chưa bao giờ phúc quyết. Còn đã gọi là
"Hiến pháp" thì phải do người dân phúc quyết, vốn chỉ
họ mới có quyền lập hiến, xuất phát từ nguyên lý: Hiến
pháp của dân phải do dân quyết, giống như chính quyền của
dân thì phải do dân bầu. Đó là dấu hiệu khác nhau giữa nội
hàm khái niệm "Luật cơ bản" và nội hàm "Hiến pháp".
Điểm giống nhau là chúng cùng quy định: a- thiết chế nhà
nước và b- khẳng định quyền con người và quyền công dân
mà nhà nước có trách nhiệm phải thực hiện không được xâm
phạm – tức quyền cơ bản. Nếu chỉ dừng lại ở đó, thông
qua nghị viện, rồi ký lệnh ban hành, thì được gọi là
"Luật Cơ bản", còn thực hiện thêm công đoạn tiếp theo
"Phúc quyết" thì được gọi là hiến pháp. Lý do tại sao
Luật Cơ bản CHLB Đức năm 1949 lại không trưng cầu dân ý,
tác giả Phạm Thị Hoài đã lý giải đúng sự kiện. Còn lý do
tại sao tới lần sửa đổi toàn diện năm 1990 vẫn không phúc
quyết, bởi chỉ đơn giản do CHDC Đức gia nhập CHLB Đức,
nghĩa là phải chấp nhận Luật Cơ bản của họ, giống như
Việt Nam sau 1975, chứ không phải hai bên thống nhất thành lập
một quốc gia để ban hành một Hiến pháp mới cho mình.
Điều đó cũng giải thích tại sao Hiến pháp mới thông
thường gắn liền với các hệ quả đổ vỡ một thiết chế,
cách mạng xã hội, tranh chấp bạo lực, chiến tranh (đã trình
bày ở bài Hiến pháp sao phải sửa?). Ngoại lệ có thể tìm
thấy trong trường hợp Nam Phi hay Miến Điện. Khi đó Hiến
pháp không còn là mục đích trực tiếp của đổ vỡ, cách
mạng, bạo lực, chiến tranh, mà trở thành phương tiện hoà
bình để vượt qua nó.
Với nội hàm khái niệm Hiến pháp nêu trên, các nước có thể
mặc định, tức tự hiểu đã là Hiến pháp tất phải phúc
quyết (lẽ tự nhiên như quyền ăn uống hít thở, không nhất
thiết phải đưa vào hiến pháp) hoặc hiến định như Hiến
pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946: Điều 21, "Nhân dân
có quyền phúc quyết về Hiến pháp".
Tới Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần này, người
chấp bút đã không tuân thủ nguyên lý logic học, cũng sử
dụng nhầm lẫn giữa 2 khái niệm Hiến pháp và Luật Cơ bản
như trường hợp Phạm Thị Hoài, khi viết Điều 123: "Hiến
pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam".
Hệ lụy, một khi đã gọi là hiến pháp thì đương nhiên
trước hết phải là luật cơ bản, vì vậy Điều 123 nhắc
lại là thừa. Mặt khác, đưa ra 1 câu mang tính tiền đề như
Điều 123, làm người đọc dễ ngộ nhận, nhầm tưởng khái
niệm hiến pháp nằm trong khái niệm luật cơ bản, trong khi
luật cơ bản chỉ là một phần nội hàm của khái niệm Hiến
pháp
Hệ trọng hơn, về nội dung, Điều 74 hiến định Quốc hội
thực hiện quyền lập hiến vốn thuộc của dân, tới Điều 75
diễn giải tiếp, Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn "Làm
Hiến pháp" hiểu theo nghĩa dự thảo là đương nhiên. Nhưng
đến Điều 124, hiến định vai trò thụ động của người
dân, "Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội
quyết định"; tất dẫn tới hệ lụy chưa thể xác định sau
khi Quốc hội thông qua, Việt Nam sẽ có Luật Cơ bản như Đức
bởi hoàn cảnh lịch sử đưa đẩy (nếu không trưng cầu dân
ý), hay là một bản Hiến pháp đúng khái niệm của nó (trong
trường hợp được trưng cầu dân ý).
Hiến pháp là hình ảnh thể chế của một quốc gia trong con
mắt thế giới, chứ không phải văn bản lưu hành nội bộ
chỉ riêng trong quốc gia đó, vì vậy để có một bản Hiến
pháp được họ nhìn nhận ưu việt tiến bộ "sánh vai các
cường quốc năm châu" như ta mong muốn, điều kiện cần
đầu tiên là kỹ thuật lập hiến phải tuân thủ đúng các
khái niệm khoa học pháp lý phổ quát, trước và trên hết
chính khái niệm "hiến pháp".
<h2>Bài 2: Nhầm lẫn quyền con người với quyền cơ bản</h2>
Hiến pháp chỉ hiến định một số trong vô vàn quyền con
người, chứ không phải toàn bộ, bởi trước hết, do hiến
pháp đóng vai trò luật cơ bản, mà đã là luật thì nó chỉ
điều chỉnh những quyền con người liên quan tới pháp luật,
tức nhà nước, chứ không phải mọi quyền con người như ăn
ngủ hít thở, yêu ghét, chẳng hạn.
Bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (DTHP), chương II
"quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân"
đưa ra 38 điều; so với Hiến pháp năm 1992, lời văn, cấu trúc
được sửa lại và bổ sung thêm chín quyền trong chín điều.
Mục đích sửa đổi trên được Ủy ban Dự thảo sửa đổi
Hiến pháp năm 1992 lý giải trong "Báo cáo Thuyết minh":
"Để khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con
người, quyền công dân trong Hiến pháp". Từ mục đích đó,
DTHP có nhiệm vụ "làm rõ nội dung quyền con người, quyền
công dân…".
Đã là quyền con người thì do "tạo hoá" sinh ra nằm trong
chính mỗi con người. Nếu xét theo hành vi, tổng hợp hết từ
chừng 7 tỷ người khác nhau trên quả đất hiện nay, thì
quyền con người sẽ vô cùng tận, từ sinh lý, ăn, uống, hít
thở, khóc cười, nhìn, nghe, sờ mó… đến hành vi tình cảm,
yêu, ghét, hiến, tặng…, tới tâm linh thờ phụng, tín
ngưỡng, hay kinh tế, mua bán, cho mượn, đổi chác, hoặc chính
trị tham gia đảng phái, bộ máy nhà nước, góp ý chính
sách…, không một hiến pháp nào trên thế giới này dù muốn
cũng không thể liệt kê nổi, chứ chưa nói khẳng định giá
trị, làm rõ nội dung. Vì vậy, nếu lấy nội dung quyền con
người làm đối tượng hiến định, thì DTHP nước ta đã
không đạt mục đích đề ra. Và cứ theo quan điểm đó, thì
hiến pháp nước nào đưa ra càng nhiều quyền con người càng
dân chủ tiến bộ ưu việt.
Nhưng thực tế không phải vậy. Nga, Hiến pháp năm 1993 có tới
48 điều về "quyền và tự do của con người và của công
dân", chỉ số dân chủ năm 2007 xếp thứ hạng 102; Trung
Quốc, Hiến pháp năm 1982 có 33 điều xếp thứ hạng dân chủ
138; Đức chỉ có 19 điều ở thứ hạng 13; Đan Mạch có 15
điều, đứng thứ 5; Mỹ, chỉ liên quan tới 10 điều tu chính,
xếp thứ 17.
Lý do, Hiến pháp chỉ hiến định một số trong vô vàn quyền
con người, chứ không phải toàn bộ, bởi trước hết, do hiến
pháp đóng vai trò luật cơ bản, mà đã là luật thì nó chỉ
điều chỉnh những quyền con người liên quan tới pháp luật,
tức nhà nước, chứ không phải mọi quyền con người như ăn
ngủ hít thở, yêu ghét, chẳng hạn. Chức năng của nó là chế
tài, không có chức năng thay thế sách giáo khoa, hay tài liệu
khoa học, để lý giải đưa ra kết luận về giá trị, vai trò
quan trọng, nội dung của quyền con người, mà chỉ dựa trên
cơ sở khoa học đó để hiến định quyền con người. Tiếp
theo, quyền con người mặc dù do tạo hoá sinh ra, "lẽ phải
không ai chối cãi được", nhưng một khi quyền lực nhà
nước vốn của dân đã được trao vào tay bộ máy nhà nước
thực thi, thì quyền tạo hoá đó của họ trên thực tế rất
có thể: 1- Bị quyền lực nhà nước xâm phạm, mà người dân
thấp cổ bé họng không làm gì được. Có thể thấu hiểu rõ
nhất điều đó ở những nước thuộc điạ, như khi thực dân
Pháp "mang lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái" đến nước ta
tuyên bố "khai hoá văn minh", nhưng thực tế lại "cướp
đất nước ta, áp bức đồng bào ta (Tuyên ngôn độc lập)"
hay trường hợp các nước Ả Rập vừa qua, cách mạng xã hội
bùng nổ do quyền làm người bị tước mất, được châm ngòi
bởi Mohamed Bouazizi phải tự thiêu, thà chết còn hơn. 2- Không
thể thực hiện, bởi bộ máy nhà nước ăn lương có bổn
phận đảm bảo quyền tạo hóa của dân, nhưng đã không cung
cấp cho họ điều kiện vật chất, hành lang pháp lý thực
hiện quyền đó.
Nguyên tắc hiến định quyền con người, vì vậy, chỉ nhắm
vào những quyền pháp lý có nguy cơ bị nhà nước xâm phạm
hoặc phải được nhà nước bảo đảm tiền đề vật chất
cho nó thực hiện. Những quyền đó, khoa học hiến pháp gọi
là quyền cơ bản, không hiểu theo nội hàm "hạt cơ bản"
trong vật lý, mà theo nghĩa nhà nước bị chế tài trách nhiệm
bảo đảm cho quyền đó được thực hiện. Nói cách khác,
quyền cơ bản là quyền con người được ghi vào hiến pháp,
khi nó thoả mãn đồng thời 3 yếu tố: 1- chắc chắn, 2- liên
tục, 3- được viện tới toà án chống lại nhà nước, nếu
họ bị thiếu những điều kiện bảo đảm quyền đó được
thực hiện.
Có thể hiểu qua ví dụ về "quyền được bảo đảm an sinh
xã hội", ghi trong Ðiều 35 DTHP, được Điều §75 Hiến pháp
Đan Mạch quy định tại điểm (1): "Ai không thể tự nuôi
sống mình, và không còn nguồn thu nhập nào khác, nhà nước có
trách nhiệm trợ cấp đủ". Ở Đức, xuất phát từ Điều 1,
Luật Cơ bản, "nhân phẩm con người không thể xâm phạm. Chú
ý và bảo vệ nó là trách nhiệm mọi cơ quan quyền lực nhà
nước", Bộ Luật Xã hội Đức quy định nhà nước phải
cấp cho bất kỳ người dân nào không có thu nhập, kể cả
người nước ngoài sinh sống ở Đức, 374 Euro/tháng/người
(năm 2013) cộng tiền thuê nhà, điện, nước. Cách tháng
trước, một hộ gia đình bị cấp thiếu 15 Cent do cơ quan cấp
làm tròn số lẻ, khiếu nại không được liền kiện ra toà,
được toà xử thắng và phạt cơ quan cấp phải trả án phí
600 Euro. Cũng viện dẫn Điều 1 trên, trong 1 vụ kiện, Toà án
Hiến pháp Đức đã bác bỏ điều khoản Bộ luật Xã hội
Đức ấn định mức trợ cấp cho người nước ngoài chờ xét
tỵ nạn thấp hơn tiêu chuẩn trợ cấp cho người Đức, với
lập luận, trợ cấp là mức tối thiểu để bảo đảm nhân
phẩm con người vốn không thể phân biệt đã được hiến
định.
Xuất phát từ bản chất quyền cơ bản nêu trên, ở họ hiến
định quyền cơ bản thực chất là hiến định trách nhiệm
nhà nước phải bảo đảm quyền đó được thực hiện, bằng
những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự có thể đong đo
đếm được. Và chỉ khi đó, người dân mới có cơ sở hiến
định để tự bảo vệ quyền của mình, bằng cách viện đến
toà án được coi là cán cân công lý; các cơ quan quyền lực
nhà nước mới bị ràng buộc bởi các cơ sở pháp lý, phải
thực thi nếu không sẽ bị chế tài. Đó cũng chính là bản
chất của nhà nước pháp quyền do pháp luật định đoạt,
khác với nhà nước độc tài do kẻ cầm quyền quyết định.
Còn DTHP ở ta, do hiểu mục đích hiến định nhằm "khẳng
định giá trị, vai trò", "nội dung quyền con người", nên
Điều 35 DTHP nêu trên chỉ ghi vắn tắt đúng 11 chữ "Công
dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội", không hề quy
định các chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự để chế tài
trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm cho quyền đó thực thi,
như trường hợp Đức, Đan Mạch chế tài nhà nước phải trợ
cấp cho bất cứ ai không có thu nhập đủ bảo đảm cuộc
sống bình thường.
Chính do nhầm lẫn giữa quyền con người và quyền cơ bản,
nên DTHP đã đưa ra nhiều quyền, thậm chí nhiều góp ý còn
đòi bổ sung thêm bao quyền ước mong nữa. Trong số đó có
những quyền, nhiều nước hiện đại chưa dám đề cập, như
Điều 38 DTHP: "Công dân có quyền làm việc", họ không thể
hiến định bởi thất nghiệp là bản chất của kinh tế thị
trường, chỉ có thể hạn chế chứ không thể chấm dứt.
Điều 40 "trẻ em có quyền… được chăm sóc giáo dục",
họ chỉ có thể bảo đảm được một phần chứ không phải
tất cả, và đó còn là trách nhiệm gia đình. Tương tự,
Điều 41 "có quyền được bảo vệ sức khoẻ" (nghĩa là
trách nhiệm nhà nước chữa bệnh cho dân miễn phí?); Điều 44
"quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá" (nhà nước miễn
phí tham quan du lịch, biểu diễn nghệ thuật, hội hè?); Điều
46 "quyền được sống trong môi trường trong lành" (trách
nhiệm nhà nước bồi thường khi dân ngộ độc thực phẩm?),
Điều 42, "công dân có quyền và nghĩa vụ học tập" (nhà
nước miễn học phí và cấp học bổng?). Chưa nói DTHP hiến
định cả những quyền tình cảm không thuộc đối tượng
điều chỉnh của pháp luật, như Điều 39 "Nam nữ có quyền
kết hôn và ly hôn" (chẳng nhẽ ai ế, nhà nước phải có
trách nhiệm mai mối cho họ kết hôn?); hay điều chỉnh cả
công dân nước khác, khi Điều 19 hiến định Việt kiều với
quá nửa đã thôi quốc tịch Việt Nam "là một bộ phận
không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam" và
chỉ thuộc phạm trù tình cảm cội nguồn không thể chế tài.
Hệ luỵ nguy hại ở chỗ, do không chứa đựng đầy đủ ba
thuộc tính cần có của khái niệm quyền cơ bản, nên quyền
con người dù có ghi vào hiến pháp vẫn không hề thay đổi
bản chất, tức thiếu tính pháp lý khả thi, làm mất thuộc
tính tối thượng vốn có của hiến pháp, trở thành một bản
tuyên ngôn, mất giá trị sử dụng khi ban hành! Có thể tham
khảo trường hợp EU hiện cũng đang soạn thảo bổ sung Hiến
pháp quyền cơ bản "có tài khoản ngân hàng", dự kiến
thông qua tháng 6.2013. Để bổ sung điều khoản đó, họ phải
dựa trên kết quả điều tra thực tế, hiện có 30 triệu công
dân EU không có tài khoản do thiếu tiền trả lệ phí, phải
chịu thiệt thòi không tiếp cận được Internet, ký hợp đồng
điện thoại, hay thuê nhà, tất cả đều đòi điều kiện
phải có số tài khoản; từ đó dự toán sẵn quỹ tài chính
để miễn lệ phí tài khoản, bảo đảm quyền có tài khoản
một khi đã hiến định là được thực thi.
Hiến định quyền cơ bản, vì vậy, khâu đầu tiên hoàn toàn
không nằm ở câu chữ mà ở chỗ: 1- phải xác định được
chính xác ý nguyện thực tế của người dân, 2- dự liệu
được tiền đề để chế tài trách nhiệm thực thi của bộ
máy nhà nước vốn đóng vai trò công bộc chứ không phải cai
trị – hai yếu tố quyết định cả sức sống trường tồn
lẫn vai trò tối thượng của hiến pháp.
N.S.P.
[*] Trên đây là một phản hồi của TS Nguyễn Sĩ Phương, trong
bài "Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì?" của
GSTS Nguyễn Đăng Dung, chúng tôi xin đăng lên thành một bài và
đặt tựa theo tinh thần bài viết.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130317/nguyen-sy-phuong-nham-lan-khai-niem-hien-phap-va-quyen-con-nguoi-voi-quyen-co-ban),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét