Đôi điều về Dân Luận

Dân Luận theo đuổi một nền báo chí công dân, nơi mỗi độc giả chính là một nhà báo.

Mục tiêu của Dân Luận là cung cấp cái nhìn đa chiều về các vấn đề kinh tế - xã hội - văn hóa của Việt Nam và thế giới, với mong mỏi độc giả sẽ tự xây dựng cho mình phương pháp tư duy độc lập và khoa học.

Trang blog này là cầu nối giữa Dân Luận với độc giả trong nước, trong trường hợp bạn không truy cập được vào địa chỉ chính thức www.danluan.org.

Chúng tôi được biết Dân Luận đã bắt đầu bị chặn bởi tường lửa ở Việt Nam. Vì thế, xin mời bạn tham khảo cách vượt tường lửa để tiếp tục truy cập Dân Luận. Trong trường hợp gặp trục trặc, bạn có thể liên lạc với tqvn2004 tại huannc@gmail.com được hướng dẫn cụ thể.
(c) Dân Luận 2009. Cung cấp bởi Blogger.

Tổng số lần đọc

Google+ Followers

<center><img src="http://danluan.org/files/u23/danluan_b0137.jpg" width="550"
alt="danluan_b0137.jpg" /></center>

<em>...không dựa trên cơ chế "xin-cho", không khoán trắng
tương lai đất nước cho bất kỳ một cá nhân hay một lực
lượng chính trị nào cả.</em>

Hạ tuần tháng 1 năm 2013, trước Tết Nguyên đán, đã xảy ra
một sự kiện gây chấn động dư luận. Đó là việc 72 vị
nhân sĩ, trí thức đã cùng nhau ký một bản kiến nghị có tên
là <em>"Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992"</em> (đề
ngày 19-1-2013). Điều đáng chú ý là trong danh sách những
người khởi xướng, có ít nhất một nửa là đảng viên cộng
sản, trong đó có những người đã từng giữ chức vụ cao
hoặc đã từng làm cố vấn cho các nhà lãnh đạo cao cấp trong
hệ thống chính trị hiện hành. Lướt qua nội dung của kiến
nghị cũng như bản dự thảo Hiến pháp đính kèm (được coi
như một tài liệu để tham khảo và thảo luận), chúng ta dễ
dàng nhận thấy những người ký kiến nghị đã bày tỏ một
quan điểm về hiến pháp chẳng những vượt ra khỏi khuôn khổ
của hiến pháp hiện hành (tức Hiến pháp 1992 - bản sửa đổi
năm 2001) mà còn vượt xa bản hiến pháp đầu tiên do Đảng
Cộng sản soạn thảo dưới danh nghĩa của tổ chức Việt Minh
(tức Hiến pháp 1946).

Được công bố trên trang mạng Bauxite Vietnam đầy uy tín, chỉ
tính cho đến ngày 28-2-2013, tức là chưa đầy một tháng rưỡi
kể từ ngày công bố, đã có hơn 6 ngàn chữ ký được thu
thập để ủng hộ bản kiến nghị này. Đây là một kết quả
không thể xem thường, nhất là trong hoàn cảnh của một chế
độ toàn trị nổi tiếng là khắt khe bậc nhất trên thế
giới. Không thể giữ im lặng trước sự kiện này, vào hạ
tuần tháng 2 năm 2013, trong một chuyến thăm và làm việc tại
tỉnh Vĩnh Phú, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu
như sau:

<blockquote>"… Vừa rồi đã có các luồng ý kiến thì cũng có
thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống chứ gì nữa … Xem ai có tư tưởng là muốn
bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của
đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn "tam quyền
phân lập" không? Hả? Muốn "phi chính trị hóa quân đội"
không? Người ta đang có những quan điểm đấy!… Đưa cả lên
phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy
thoái chứ còn gì nữa! Chỉ ở đâu nữa nào? … Tham gia đi
khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể … thì nó là cái
gì?! … Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái
này."</blockquote>

Qua phát biểu của người đứng đầu đảng cầm quyền, chúng
ta có thể thấy rõ <em>sự khác biệt về quan điểm trong nội
bộ những người cộng sản</em>, một khoảng cách chênh lệch
rất xa giữa một bên là quan điểm thủ cựu của Bộ chính
trị Đảng Cộng sản – bộ máy quyền lực cao nhất của
Đảng, và phía bên kia là quan điểm của những đảng viên
cộng sản có tư tưởng cởi mở, tiến bộ - phản ánh phần
nào ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Nhưng một sự kiện khác xảy ra sau đó lại làm nổi bật mâu
thuẫn trầm trọng hơn giữa <em>ý chí của Đảng và nguyện
vọng của nhân dân</em>: ngay sau khi kênh truyền hình trung ương
VTV1 phát đoạn video này trong chương trình thời sự 19h ngày
25-2-2013, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên làm việc tại báo Gia Đình
& Xã Hội đã phản ứng bằng một bài viết đăng trên blog
của anh, qua đó anh công khai phản đối ý kiến của ông Tổng
bí thư và tuyên bố ủng hộ đa nguyên, đa đảng. Trong vòng
chưa đầy 24 giờ, anh bị tòa báo đuổi việc.

Điều đáng chú ý là trong bài viết của mình, nhà báo Nguyễn
Đắc Kiên đã đưa ra lời tuyên bố gồm 5 điểm trong đó
điểm đầu tiên thể hiện một lập trường hết sức dứt
khoát về vấn đề hiến pháp: <em>"Tôi không chỉ muốn bỏ
Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành, mà tôi muốn tổ chức một
Hội nghị lập hiến, lập một Hiến pháp mới để Hiến pháp
đó thực sự thể hiện ý chí của toàn dân Việt Nam, không
phải là ý chí của đảng cộng sản như Hiến pháp hiện
hành."</em>

Đây không phải chỉ là ý kiến riêng của nhà báo trẻ Nguyễn
Đức Kiên mà còn là ý kiến của rất nhiều người Việt yêu
nước, yêu dân chủ. Chính vì thế, chỉ vài ngày sau đó, vào
ngày 28-3-2013, lời tuyên bố của công dân Nguyễn Đắc Kiên
đã trở thành <a
href="https://danluan.org/tin-tuc/20130228/loi-tuyen-bo-cua-cac-cong-dan-tu-do#comment-80619">Lời
tuyên bố của các công dân tự do</a> với 5 điểm có nội dung
tương tự, chỉ khác nhau một điểm căn bản: thay cho đại từ
"tôi" là đại từ "chúng tôi". Kết thúc bản tuyên bố
là một lời mời gọi: <em>"Xin hãy chung tay để cho LỜI TUYÊN
BỐ CÔNG DÂN TỰ DO này trở thành sợi dây bền vững kết nối
hàng triệu triệu trái tim Việt Nam"</em>. Cùng với bản kiến
nghị do 72 nhân sĩ, trí thức đề xướng, lời tuyên bố này
– xuất phát từ sáng kiến của các blogger trẻ, càng thể
hiện rõ nguyện vọng thật sự của toàn thể nhân dân Việt
Nam trong vấn đề hiến pháp.

Bài viết này được viết với mục đích cung cấp thêm những
nền tảng lý luận và cơ sở thực tế của vấn đề sử
dụng quyền lập hiến, một mặt cốt để làm rõ vấn đề
"sửa đổi hiến pháp hay viết lại hiến pháp", và đó cũng
là cách góp phần tìm kiếm một giải pháp, một lộ trình phù
hợp với hoàn cảnh của đất nước ta trong giai đoạn đặc
biệt quan trọng hiện nay.

<h2>Phần I: SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP HAY VIẾT LẠI HIẾN PHÁP?</h2>

Trước tiên, để có thể hiểu rõ sự xung đột về quan điểm
xung quanh vấn đề hiến pháp, chúng ta cần tìm hiểu đôi chút
về khái niệm "quyền lập hiến". Mặc dù ngành luật học
ở nhiều quốc gia trên thế giới đều có bộ môn Luật hiến
pháp (droit constitutionel, constitutional law), nhưng không phải ở
đâu giới luật học cũng quan tâm đến vấn đề "quyền lập
hiến". Trong bài này, tôi sẽ dựa vào những nghiên cứu luật
học của nước Pháp, một quốc gia tuy là cái nôi của cuộc
cách mạng vĩ đại làm rung chuyển toàn bộ thế giới, nhưng
lại là một trong những quốc gia phải trải qua rất nhiều
truân chuyên trên con đường ổn định hệ thống chính trị
dân chủ (tính từ cuối thế kỷ 18 đến nay, nước Pháp đã
có tổng cộng 17 bản hiến pháp).

<strong>Hai loại quyền lập hiến:</strong>

Emmanuel-Joseph Sieyès (một lý thuyết gia của cuộc Cách mạng
Pháp) là người đầu tiên nêu ra khái niệm <em>"quyền lập
hiến"</em>. Trong tác phẩm nổi tiếng <em>Đẳng cấp thứ ba
là gì?</em> (Qu'est-ce que le Tiers-État?) công bố năm 1789, ông
viết: <em>"Trong mỗi bộ phận, hiến pháp không phải là kết
quả của quyền hiến định, mà là kết quả của quyền lập
hiến".</em>

Sự khác biệt là ở chỗ: <em>quyền lập hiến (pouvoir
constituant)</em> là <em>"quyền làm ra hiến pháp"</em>, trong khi
quyền hiến định (pouvoir constitué) là <em>"quyền lực được
tạo ra bởi hiến pháp"</em>. Như chúng ta đã biết, do ảnh
hưởng chủ yếu của Montesquieu, người ta thường chia quyền
lực Nhà nước thành ba nhánh chính: quyền lập pháp, quyền
hành pháp và quyền tư pháp. Ba quyền lực đó là quyền lực
hiến định, chúng được tổ chức và vận hành dựa theo hiến
pháp, trong khuôn khổ của hiến pháp. Quyền lập hiến là
nguồn gốc của các quyền hiến định, đương nhiên phải cao
hơn các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Tuy nhiên, quyền lập hiến không phải lúc nào cũng thể hiện
giống nhau. Nếu quan sát kỹ lịch sử của các quốc gia trên
thế giới, chúng ta thấy có khi quyền lập hiến được sử
dụng để <em>"làm ra một hiến pháp mới"</em>, có khi chỉ
được sử dụng để "<em>sửa đổi, bổ sung một hiến pháp
đã có sẵn". </em>

Việc phân biệt hai loại quyền lập hiến này là thành quả
nghiên cứu của thế kỷ 20, và người đầu tiên khám phá ra
sự khác biệt này là Raymond Carré de Malberg (1861-1935) – nhà
luật học và hiến pháp học nổi tiếng đã khởi xướng
trường phái thực nghiệm trong luật học (positivisme juridique)
tại Pháp. Trong tác phẩm <em>Góp phần vào lý thuyết tổng quát
về Nhà nước (Contribution à la théorie générale de l'Etat)</em>
xuất bản năm 1922, Carré de Malberg phân biệt giữa <em>"quyền
lập hiến trong việc thiết lập hiến pháp đầu tiên của Nhà
nước"</em> và <em>"quyền lập hiến trong một Nhà nước đã
hình thành"</em>. Theo ông, vấn đề quyền lập hiến trong
việc thiết lập hiến pháp đầu tiên của Nhà nước không
phải là vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý: <em>"việc hình
thành đầu tiên của một Nhà nước, cũng như tổ chức đầu
tiên của nó, chỉ có thể được xem như một sự kiện thuần
túy – không thể xếp vào bất kỳ phạm trù pháp lý nào, vì
sự kiện đó không bị chi phối bởi những nguyên tắc của
luật học"</em>.

<em>"Quyền lập hiến trong việc thiết lập hiến pháp đầu
tiên của Nhà nước"</em> về sau được đặt tên là
<em>quyền lập hiến nguyên thủy (pouvoir constituant originaire)</em>
và <em>"quyền lập hiến trong một Nhà nước đã hình
thành"</em> được gọi tên là <em>quyền lập hiến phái sinh
(pouvoir constituant dérivé)</em>. Nói một cách dễ hiểu hơn,
quyền lập hiến nguyên thủy là quyền làm ra một bản hiến
pháp mới, còn quyền lập hiến phái sinh là quyền sửa đổi
một bản hiến pháp đang có hiệu lực.

Nhiều nhà luật học sau đó (như Georges Burdeau, Roger Bonnard, Guy
Héraud, Georges Vedel) đã góp phần làm rõ các đặc điểm của
hai loại quyền lập hiến này:

Quyền lập hiến nguyên thủy là một quyền lực không có giới
hạn, bởi vì khi làm ra một hiến pháp mới, nó không bị hạn
chế bởi bất cứ bản hiến pháp nào có trước nó, không bị
lệ thuộc vào bất cứ quy định pháp lý nào có trước nó. Nó
sinh ra từ một khoảng trống pháp lý (vide juridique), do chỗ
không có một hiến pháp hoặc hiến pháp đã bị hủy bỏ. Còn
quyền lập hiến phái sinh là một quyền lực bị hạn chế,
bởi lẽ nó là một quyền lực sinh ra từ quyền lập hiến
nguyên thủy, có được thẩm quyền pháp lý là nhờ vào trật
tự pháp lý hiện hành – trước hết là dựa vào một bản
hiến pháp có trước. Những điều kiện để sửa đổi hiến
pháp (vd: ai được quyền sửa đổi hiến pháp, sửa đổi hiến
pháp phải dựa theo thủ tục nào, v.v…) thường đã được quy
định bởi chính bản hiến pháp sẵn có.

Các nhà luật học người Pháp phân biệt hai loại khoảng
trống pháp lý:

- Loại thứ nhất được gọi là <em>khoảng trống pháp lý đã
hiện hữu (vide juridique déjà existant)</em> xuất hiện trong
những hoàn cảnh nảy sinh một Nhà nước mới, một quốc gia
mới. Trong tình hình như thế, quyền lập hiến nguyên thủy
lấp đầy khoảng trống pháp lý bằng cách làm ra một hiến
pháp mới, thiết lập một nhà nước mới. Nhà nước mà nó
thành lập là một Nhà nước hoàn toàn mới không tồn tại
trước đó; hiến pháp mà nó thiết lập cũng là hiến pháp
đầu tiên của Nhà nước. Một khoảng trống pháp lý như thế
có thể xảy ra trong các hoàn cảnh như: chiến tranh, giải trừ
chủ nghĩa thực dân, chiến tranh giành độc lập, sự hợp
nhất giữa các quốc gia độc lập thành một liên bang, sự
giải thể của một Nhà nước, v.v…

- Loại khoảng trống pháp lý thứ hai được gọi là <em>khoảng
trống pháp lý được tạo ra (vide juridique créé</em>), xuất
hiện trong hoàn cảnh thay đổi chế độ trong một Nhà nước
đã tồn tại. Trong trường hợp này, đã có sẵn một trật
tự pháp lý hiện hành. Quyền lập hiến nguyên thủy trước
hết phải hủy bỏ một hiến pháp đã tồn tại, tạo ra một
khoảng trống pháp lý và sau đó, lấp đầy khoảng trống ấy
bằng cách làm ra một hiến pháp mới. Nói cách khác, quyền
lập hiến nguyên thủy trước hết làm động tác <em>phá
hủy</em>, sau đó mới làm động tác <em>tái xây dựng</em>.
Hiểu theo nghĩa đó, người ta có thể nói quyền lập hiến
nguyên thủy có hai mặt: một có tính phủ định (hủy bỏ
hiến pháp) và một có tính xây dựng (thiết lập hiến pháp).
Guy Héraud gọi phương diện phủ định của quyền lập hiến
nguyên thủy là <em>quyền giải trừ hiến pháp (pouvoir
déconstituant)</em>. Trong giả thuyết này, người ta không tạo ra
một Nhà nước mới mà chỉ làm mới lại nền tảng của Nhà
nước hay nói cách khác, thay đổi chế độ trong một Nhà
nước đã tồn tại. Các nhà luật học ghi nhận rằng một
khoảng trống pháp lý như thế có thể xảy ra sau một cuộc
cách mạng, một cuộc đảo chính hay một cuộc chiến tranh đã
lật đổ chế độ chính trị hiện hành.

Điều cần nhấn mạnh là trong khi quyền lập hiến phái sinh
rút thẩm quyền pháp lý từ quyền lập hiến nguyên thủy, từ
trật tự pháp lý hiện hành, từ một bản hiến pháp đã có
hiệu lực, thì quyền lập hiến nguyên thủy không cần dựa
vào bất cứ cái gì khác ngoài bản thân nó. Mặt khác, trong khi
quyền lập hiến phái sinh (tức là quyền sửa đổi hiến pháp)
là một đối tượng nghiên cứu của luật học thì quyền lập
hiến nguyên thủy (tức là quyền làm ra một bản hiến pháp
hoàn toàn mới) lại là một sự kiện nằm ngoài phạm vi của
luật học.

<strong>Sửa đổi hiến pháp hay viết lại hiến pháp
mới?</strong>

Vận dụng quan niệm về hai loại quyền lập hiến vào hoàn
cảnh hiện nay của nước ta, chúng ta thấy điều gì?

Trước hết, cuộc <em>"sửa đổi Hiến pháp 1992"</em> mà
Đảng Cộng sản Việt Nam đang tiến hành hiện nay chỉ gói
gọn trong phạm vi <em><em>"sửa đổi Hiến pháp"</em></em>,
tức là phạm vi của quyền lập hiến phái sinh.

Trong <em>"Thông báo Hội nghị lần thứ 5 BCHTW Đảng khoá
XI"</em> (tháng 5 năm 2012), Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã
nói rõ: "… sau 20 năm thi hành Hiến pháp năm 1992 (có bổ sung,
sửa đổi năm 2001), Đại hội XI của Đảng đã thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), có nhiều
vấn đề mới được đặt ra, một số quy định của Hiến
pháp năm 1992 đã bị thực tiễn vượt qua, không còn phù hợp.
Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 là yêu cầu khách
quan, cần thiết để thể chế hoá Cương lĩnh của Đảng và
là công việc đặc biệt quan trọng, nhạy cảm phải có quan
điểm toàn diện, biện chứng, lịch sử cụ thể và thực
tiễn.

Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận, phân tích toàn diện
và nhấn mạnh việc nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp phải căn
cứ vào Cương lĩnh, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, tình
hình của đất nước; trên cơ sở tổng kết thực tiễn 20 năm
thi hành Hiến pháp năm 1992 và kế thừa những quy định còn
phù hợp của các bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992)."

Ông nhấn mạnh: <em>"Chỉ sửa đổi những vấn đề đã rõ,
được thực tế chứng minh là đúng, đã đủ cơ sở và tạo
được sự thống nhất cao."</em>

Điều đó cho thấy việc sửa đổi Hiến pháp 1992 có một số
đặc điểm như sau:

- Vẫn dựa vào quan niệm truyền thống của tất cả các đảng
cộng sản xưa nay (Hiến pháp chỉ là cụ thể hóa, thể chế
hóa Cương lĩnh của Đảng Cộng sản cầm quyền);

- Vẫn dựa vào truyền thống lập hiến của Đảng Cộng sản
Việt Nam từ trước đến nay (các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980
và 1992);

- Thủ tục sửa đổi vẫn căn cứ bản hiến pháp hiện hành
(Hiến pháp 1992, phiên bản sửa đổi năm 2001). Điều 147 của
bản hiến pháp này ghi rõ: <em><em>"Chỉ Quốc hội mới có
quyền sửa đổi Hiến pháp. Việc sửa đổi Hiến pháp phải
được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội
biểu quyết tán thành." </em></em>

Ngược lại, xét về yêu cầu khách quan của sự phát triển
của đất nước và nguyện vọng chung của nhân dân thì việc
sửa đổi Hiến pháp theo tinh thần như trên là hoàn toàn bất
cập. Tất cả những ý kiến trên các trang mạng phi-chính
thống hiện nay đã cho thấy rõ điều đó. Và hàng ngàn chữ
ký ủng hộ <em>Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992</em> của
các nhân sĩ, trí thức cũng như sự xuất hiện <em>Lời tuyên
bố của công dân ngày 28-2-2013</em> càng cho thấy rõ điều đó.

Cách đây hai năm, trong một bài phỏng vấn của đài VOA, tôi
đã nêu nhận định: <em>"Hiến pháp phải được sửa đổi
một cách căn bản chứ không thể chỉ sửa đổi một cách
lặt vặt hay chỉ dừng lại ở một số chi tiết nhỏ
nhặt."</em> Căn cứ vào diễn biến của quá trình sửa đổi
hiến pháp do Đảng Cộng sản tiến hành trong thời gian vừa
qua, căn cứ vào lý thuyết lập hiến của các luật gia nổi
tiếng của nước Pháp vừa được trình bày tóm lược trên
đây, và nhất là căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân thể
hiện qua các ý kiến cực kỳ phong phú được thể hiện trên
mạng Internet, tôi nghĩ rằng cần phải diễn đạt lại ý kiến
nói trên một cách rõ ràng và phù hợp với khoa học hơn:

<strong><em>"Đã đến lúc cần phải viết lại một Hiến pháp
mới thay vì sửa đổi Hiến pháp cũ"</em>. </strong>

Có một số lý do khiến cho nước ta cần phải viết một bản
Hiến pháp mới:

- Tất cả các bản hiến pháp do Đảng Cộng sản Việt Nam
soạn thảo và ban hành từ trước đến nay đều phạm phải
những khuyết điểm nghiêm trọng. Ngay cả những nhân vật cao
cấp nhất như ông Nguyễn Văn An (nguyên ủy viên Bộ chính
trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội) cũng phải thừa nhận: các
bản hiến pháp về sau như các Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đều
kém hơn so với Hiến pháp 1946. Mà ngay cả bản hiến pháp đầu
tiên (Hiến pháp 1946) thì cũng đã phạm phải những khuyết
điểm nghiêm trọng, như tôi đã phân tích trong bài viết <a
href="http://danluan.org/tin-tuc/20120714/mai-thai-linh-nhung-khuyet-diem-nghiem-trong-cua-hien-phap-1946">"Những
khuyết điểm nghiêm trọng của Hiến pháp 1946"</a> công bố
cách đây nửa năm.

- Tất cả các bản hiến pháp nói trên đều không mở đường
cho sự hình thành một chế độ pháp trị hiện đại (rule of
law). Bất cứ trong giai đoạn nào (kể cả giai đoạn 1946-1954)
cũng đều có những cá nhân hay tổ chức đứng trên luật
pháp, định đoạt luật pháp. Có thể lấy ngay bản Hiến pháp
1946 làm ví dụ. Luật cải cách ruộng đất năm 1953 là do sự
đề xuất của Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh (chức vụ
Chủ tịch Chính phủ thực chất là Chủ tịch Nước kiêm Thủ
tướng), bản dự thảo luật là do Phó Thủ tướng Phạm Văn
Đồng chịu trách nhiệm. Thế nhưng, vào năm 1956, khi tiến hành
kiểm điểm về những sai lầm trong công tác cải cách ruộng
đất, người ta chỉ thấy kiểm điểm về phía Đảng chứ
không thấy kiểm điểm nghiêm túc nào về phía Chính phủ. Vào
ngày 30-10-1956, tại cuộc họp của Mặt trận Tổ Quốc Hà
Nội, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã đề nghị thành lập
<em>"một ủy ban điều tra gồm các vị đại biểu Quốc hội,
Mặt trận, Đảng Lao động với sự cộng tác của các vị
thẩm phán cao cấp, giàu kinh nghiệm để lập một hồ sơ theo
phương pháp pháp lý để nhận định, trên quá trình đi từ
lãnh đạo qua chỉ đạo đến chỗ thực hiện chính sách, trách
nhiệm ở chỗ nào và do những ai phải chịu."</em> Đề nghị
hợp lý này đã hoàn toàn bị bỏ qua. Việc kiểm điểm và thi
hành kỷ luật cũng chỉ làm cho chiếu lệ, không đúng với
nguyên tắc của một Nhà nước tự nhận là <em>"dân chủ
cộng hòa".</em>

Kể từ bản Hiến pháp 1959 trở về sau, tình trạng Đảng
đứng trên pháp luật ngày càng lộ liễu, thậm chí còn được
hợp pháp hóa bằng điều 4 của các Hiến pháp 1980 và 1992,
một điều khoản công khai bác bỏ nguyên tắc <em>"thượng
tôn pháp luật"</em> (la primauté du droit) – nguyên tắc căn
bản của mọi chế độ pháp trị hiện đại.

- Nhìn chung, tất cả các bản hiến pháp trong quá khứ đều
bị vô hiệu hóa ở một mức độ nào đó, vì Hiến pháp không
phải là văn bản pháp lý cao nhất ở nước ta. Trong thực tế,
<em><strong>bên trên Hiến pháp còn có một văn bản pháp lý cao
hơn nữa: đó là Cương lĩnh của Đảng</strong></em>. Mỗi lần
Đảng thay đổi cương lĩnh (tức là một chương trình hành
động trong một thời gian dài), Đảng lại chỉ đạo sửa
đổi hiến pháp, nghĩa là viết lại hiến pháp để phục vụ
cho một <em>"giai đoạn cách mạng mới"</em>. Hiến pháp 1946
ra đời nhằm phục vụ cho một giai đoạn trong đó Đảng Cộng
sản khoác chiếc áo <em>"dân tộc"</em> để giành quyền lãnh
đạo cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Sau khi đã
nắm quyền trên một nửa nước, cảm thấy chiếc áo <em>"dân
tộc"</em> không đủ ấm, Đảng đã tiến hành thay thế hiến
pháp cũ bằng một bản hiến pháp mới nhằm thiết lập chế
độ tập trung dân chủ trên toàn miền Bắc, khoác thêm chiếc
áo "chủ nghĩa xã hội" để công khai nhận viện trợ của
Liên Xô, Trung Quốc nhằm tiếp tục cuộc chiến tranh chiếm
trọn quyền lực trong cả nước - dưới danh nghĩa <em>"chống
Mỹ, cứu nước"</em>. Năm 1980, sau khi giành được chính
quyền trong cả nước, Đảng công khai mặc chiếc áo <em>"chủ
nghĩa xã hội"</em> cho cả nước bằng bản Hiến pháp 1980 –
trong đó có điều 4 hợp pháp hóa vai trò độc quyền lãnh
đạo của Đảng. Khi tình trạng kinh tế ngày càng suy thoái,
hệ thống cộng sản sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới,
Đảng đành phải quay trở lại với con đường phục hồi kinh
tế thị trường, từng bước hội nhập vào nền kinh tế toàn
cầu để hòng cứu vãn <em>"sự lãnh đạo của Đảng"</em>;
đó chính là lý do ra đời của bản Hiến pháp 1992.

Điều đáng nói là trong khi cởi mở về kinh tế để thu nhặt
từng đồng đô-la, Đảng vẫn quyết tâm siết chặt trong lĩnh
vực chính trị cũng như trong lĩnh vực văn hóa – tư tưởng.
Đó chính là nguyên nhân sâu xa khiến cho nền giáo dục ngày
càng suy đồi, luân lý đạo đức xuống cấp trầm trọng, nạn
tham nhũng có cơ hội phát triển tràn lan.

Có thể nói những hạn chế của bản Hiến pháp 1992 cũng như
của bản Dự thảo sửa đổi do Quốc hội hiện hành soạn
thảo đều bắt nguồn từ chỗ: Cương lĩnh của Đảng quyết
định Hiến pháp của quốc gia. Một khi cương lĩnh của Đảng
chưa thay đổi thì Hiến pháp cũng không bao giờ có thể thay
đổi. Đó chính là hậu quả của chế độ <em>"đảng
trị"</em> – một chế độ mà Đảng đứng trên Nhà nước,
Cương lĩnh của Đảng đứng trên Hiến pháp, kỷ cương của
Đảng đứng trên pháp luật.

Chính vì thế, để có một bản hiến pháp đáp ứng được
các yêu cầu khách quan của sự phát triển của đất nước,
vừa đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân vừa phù hợp
với các yêu cầu của thời đại, không thể dừng lại ở
việc sửa đổi Hiến pháp mà phải viết lại hoàn toàn một
bản Hiến pháp mới. Và để viết một bản Hiến pháp mới,
không thể sử dụng quyền lập hiến phái sinh (tức quyền sửa
đổi hiến pháp) mà phải sử dụng quyền lập hiến nguyên
thủy – tức là quyền viết một bản hiến pháp mới, không
lệ thuộc vào bất cứ bản hiến pháp nào có trước.

Như trên đã nói, quyền lập hiến nguyên thủy chỉ được
thực hiện trong hoàn cảnh có sự thay đổi về tương quan lực
lượng chính trị trong thực tế, ví như sau một cuộc đảo
chính (tức chuyển đổi quyền lực từ bên trên) hay một cuộc
cách mạng (tức là chuyển đổi quyền lực từ bên dưới).
Nhưng ở nước ta, cho đến nay, vẫn chưa xảy ra một cuộc
cách mạng hay một cuộc đảo chính nào cả. Vậy làm thế nào
để có thể thực hiện quyền lập hiến nguyên thủy mà không
diễn ra những xáo trộn không cần thiết, những đổ vỡ không
đáng có nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện quyền lập
hiến nguyên thủy, thiết lập một bản hiến pháp mới?

Để trả lời câu hỏi đó, cần vạch ra một lộ trình phù
hợp với tình hình hiện tại, một lộ trình khả thi nhưng
phải bảo đảm được quyền làm chủ của nhân dân, không
dựa trên cơ chế <em>"xin-cho"</em>, không khoán trắng tương
lai đất nước cho bất kỳ một cá nhân hay một lực lượng
chính trị nào cả. Chúng ta sẽ bàn đến lộ trình ấy trong
phần sau của bài viết.

Đà Lạt ngày 2 tháng 3 năm 2013

<strong>Mai Thái Lĩnh</strong>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130302/mai-thai-linh-lo-trinh-xay-dung-mot-hien-phap-dan-chu-phan-i),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

0 phản hồi:

Đăng nhận xét

Các bài viết có liên quan của vụ án Cù Huy Hà Vũ được Dân Luận tập hợp tại đây: Hồ Sơ Cù Huy Hà Vũ, hoặc theo từ khóa "Cù Huy Hà Vũ".

Độc giả có thể truy cập Dân Luận an toàn hơn qua cổng HTTPS (HTTP có mã hóa bảo mật), bằng cách thêm https:// vào đằng trước địa chỉ danluan.org, hoặc bấm vào đây!
Bấm vào đây để đọc chuyên mục Góp ý sửa đổi Hiến Pháp 1992
Bấm vào đây để đọc cuốn Trần Huỳnh Duy Thức - Con Đường Nào Cho Việt Nam

Quỹ Dân Luận


Bấm nút Donate để ủng hộ tài chính cho Dân Luận qua Paypal. Thu chi quỹ Dân Luận: xem ở đây!

Hỗ trợ dân chủ

Bạn có thể chia sẻ tấm lòng của mình với các nhà hoạt động dân chủ trong nước và gia đình của họ, ngay cả khi bạn đang ở trong nước. Bạn chỉ cần ra bưu điện, hỏi về dịch vụ "chuyển tiền nhanh". Người ta sẽ cấp cho bạn một phiếu, trong đó có phần thông tin người gửi và người nhận. Phần người nhận bạn cần điền chi tiết và chính xác. Còn phần người gửi, bạn không cần điền chính xác. Phí chuyển tiền không đắt, hãy làm gì đó chứng tỏ xã hội đứng phía sau những công dân này!

Danh sách các nhà hoạt động dân chủ trong nước và địa chỉ của họ có thể được tìm thấy ở đây!

Dân Luận kêu gọi bài vở theo chủ đề: Nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh bất bạo động và xây dựng phong trào của Tổ chức Otpor (Phản Kháng) của Serbia. Đây là kinh nghiệm là các lực lượng đối kháng tại Tunisia và Ai Cập đã vận dụng để lật đổ độc tài tại các quốc gia này...

Bài mới trên Dân Luận

Archives