Có thể nói, những năm đầu của thập niên tám mươi (của
thế kỷ trước) cả nước đói. Nhà nhà làm thêm, người
người chạy chợ. Cái đói đã đẩy con người đến gần hơn
với hè phố và những con đường, góc chợ. Câu thành ngữ
"đầu đường xó chợ" chỉ giành riêng cho kẻ nào đó, bây
giờ nghĩa thực, đôi khi là cả nghĩa bóng của nó vận tất
tần tật vào mọi tầng lớp, từ ông giáo sư đến bà quét
rác. Tôi là người đầu tiên trong dòng họ bỏ việc, đi buôn
bán máy khâu, máy vắt sổ. Mẹ tôi gào lên: Làm thầy không
muốn, mày lại thích người ta gọi là thằng hả, thằng kia!
Dù mấy chục năm qua mẹ đã nuôi tôi chủ yếu từ những chén
trà hè phố.
Nhà tôi ở đầu Ô Chợ Dừa, gần Nhạc Viện và trường Mỹ
Thuật Công Nghiệp. Buổi sáng mấy ông nghệ sỹ rách việc hay
vào hàng nước mẹ tôi, tào lao, hút thuốc lào vặt. Thấy họa
sỹ Hệ chuyên về tranh sơn mài, hay ngắm những đường hoa văn
máy khâu, khi tôi ngồi lau chùi sửa chữa ở góc nhà. Buột
miệng, tôi hỏi, anh có thể vẽ nối được những đoạn hoa
văn bị đứt trên đầu máy khâu không? Anh bảo, vẽ không khó,
nhưng nét vẽ mới, làm cũ đi giống như hoa văn (original) nguyên
thủy, phải thử. Chở mấy cái đầu máy may đến nhà cho anh
thử, tuần sau anh báo, đã làm được, rất đẹp. Cũng từ đó
họa sỹ Hệ trở thành thợ vẽ không chỉ cho riêng tôi, mà cho
cả ổ buôn lậu máy khâu, vắt sổ Hà Nội. Từ các bác ở
thông tấn xã Việt Nam, xưởng Duy Nhất Bông Thợ Nhuộm, đến
cả mấy ông bà nghệ sỹ ở nhà hát kịch…
Đến lấy máy, nhiều khi hoa văn chưa kịp khô, chúng tôi phải
kéo nhau ra hàng nước gần nhà thợ vẽ Hệ ngồi chờ. Lúc
đầu tôi cũng không để ý nhiều đến người đàn ông cụt
chân, ngồi bán nước, giọng Nghệ pha Bắc vui nhộn, chuyện
nổ như ngô rang. Bản Cò (dốc Thọ Lão) phóng viên thông tấn
xã VN, rỉ tai tôi: Hoàng Cát, nhà thơ dính vào vụ Cây Táo Ông
Lành đấy. Lúc này nhìn Hoàng Cát thấy phơi phới đầy tương
lai, những u uất thương đau hình như luẩn quất đâu đó, chứ
tuyệt nhiên không thấy trên khuôn mặt ông. Câu chuyện Cây Táo
Ông Lành và Hoàng Cát bị tẩm quất, tôi đã nghe nhiều, nhưng
cụ thể sự việc, hỏi ai cũng lắc đầu ngơ ngác. Nhiều lần
tôi định hỏi thẳng Hoàng Cát, nhưng nơi hàng quán thấy bất
tiện, hơn nữa lại sợ chạm vào nỗi đau trong ông. Sau đó
hàng (cáy) tầu biển Hải Phòng, Quảng Ninh về nhiều, chúng
tôi mua bán cả mớ (bán mua sỉ) nên không còn đến thợ vẽ
Hệ và ngồi hàng nước của ông nữa.
Gần đây công việc thảnh thơi hơn, tôi tìm đọc Hoàng Cát.
Phải nói thẳng thơ Hoàng Cát ít có bài thật hay, hoặc bất
chợt thăng hoa, vụt sáng lên như Nguyễn Trọng Tạo. Nhịp thơ
đều đều dàn trải trong mạch thơ về tình yêu và tự sự
về thân phận kiếp người, xuyên suốt cả quá trình sáng tác
của ông. Và có lẽ không ai có thể phủ nhận nghị lực
sống, tình yêu thơ ca mãnh liệt trong ông. Trong cái bi của
cuộc đời giữa một xã hội điên đảo, đâu đâu cũng có
những KẺ SIÊU HÌNH rình mò truy bức. Ấy vậy mà Hoàng Cát
vẫn vặn hết mình cho thi ca, quả thật ít có người làm
được.
"Cảm Ơn Cái Vỉa Hè" như một lời tri ân vắt ra từ trái
tim, không còn riêng của Hoàng Cát nữa, mà nó đã hóa thành
hàng triệu lời cảm ơn của nhiều thế hệ và những mảnh
đời lay lắt, bất hạnh:
"Ta cảm ơn cái vỉa hè bụi bặm
Đã nuôi ta những năm tháng cơ hàn
Ta cảm ơn những tháng ngày mưa nắng
Cho ta hiểu đời trong đục buồn thương…"
Thật vậy, cuộc đời bi đát của Hoàng cát là hình ảnh thu
nhỏ của xã hội đương thời. Mỗi lần nghĩ và đọc thơ
ông, bao nhiêu những kỷ niệm vui buồn của xã hội, gia đình,
bản thân lại hiện về:
"Trong im lặng, ta hiểu mình rõ nhất
Đã trải hết khổ đau, đói khát
Nào nhục, nào vinh
Nào tang tóc chiến tranh
Nào sợ hãi KẺ SIÊU HÌNH truy bức
Giờ ta buồn vui như
lữ khách độc hành…"
Thật là có lý, ai đó cho rằng, nếu như không có vụ án lửng
lơ Cây Táo Ông Lành, thì Hoàng Cát và thơ của ông, không
được nhiều người biết đến như vậy. Thật ra trong một
cái xã hội luật pháp chỉ là đồ trang sức, thì có rất
nhiều, rất nhiều những oan án khác nghiêm trọng hơn vụ Cây
Táo Ông Lành, cho đến nay vẫn còn chìm trong bóng tối.
Anh Chế, giảng viên trường đại học giao thông Hà Nội, con
trai của cô Đặng Thị Uẩn, (họ hàng bên mẹ tôi) em ruột
của tổng bí thư đảng Trường Chinh. Là giảng viên đại học
lâu năm, nên mức lương của anh đủ tiêu chuẩn khám chữa
bệnh ở hạng bét của bệnh viện Việt Xô. (Bệnh viện Việt
Xô giành cho những ông lớn, nhưng cũng phân chia ra làm nhiều
khu, cao thấp khác nhau, theo chức vụ. Cho đến nay, tôi đi và
sống ở khá nhiều nước tư bản thối nát và đang giãy chết,
nhưng không thấy đâu phân chia thứ bậc tiêu chuẩn từ thực
phẩm, hàng hóa cho đến chăm sóc y tế như ở Viêt Nam. Trong khi
chúng ta ra rả ngợi ca xã hội công bằng, bình đẳng văn minh).
Nửa đêm, anh Chế bị đau bụng, đạp xe đến bệnh viện
khám, xin thuốc. Không biết do mắt nhắm mắt mở khệnh khạng,
coi thường bệnh nhân hạng bét, hay dốt nát, bác sỹ Tịnh
chuẩn đoán sai, cho thuốc bậy, làm cho anh Chế chết ngay sau
đó. Được tin, gia đình và bạn bè, đồng nghiệp của anh
đều sửng sốt. Tôi thấy cô Uẩn và chị Phương vợ anh Chế
chỉ biết nén những uất hận, khi nghe ai đó ở trên bảo
không được làm to chuyện. Đồng nghĩa với việc miễn truy
cứu hình sự, cánh cửa về hưu sớm, hưu non đã mở cho kẻ
giết người (bác sỹ Tịnh). Nóng tính như chú đại tá Đặng
Xuân Phi em ruột cô Uẩn, im lặng. Anh Đặng Hồi Xuân là
người nhà, cũng là giám đốc Việt Xô vừa được đẩy lên
làm bộ trưởng y tế cũng lặng im. Một sự câm lặng đến
tàn nhẫn. Chịu không nổi, tôi đi tìm bác sỹ Tịnh định
tẩn cho một trận, nhưng anh Bộ con út của cô Uẩn, và ông anh
họ tôi Đặng Đình Phúc trưởng khoa tai mũi họng bệnh viện
Việt Xô ôm chặt can ngăn. Cái chết oan ức của anh Chế đến
nay đã gần ba mươi năm, vẫn chưa được minh bạch. Không
biết linh hồn anh đã được siêu thoát, hay còn vất vưởng
đâu đó. Việc này nhiều người biết hoặc đã chứng kiến
còn sống, và có lẽ trong đó có cả chị Đặng Việt Nga (con
gái cố TBT Trường Chinh) kiến trúc sư ở Đà Lạt không thể
quên.
Kể lại câu chuyện trên, để nói lại một điều, nhà thơ
Hoàng Cát còn tốt số hơn rất nhiều người vì ông còn
được sống và được giải oan. Và đây có lẽ cũng là lời
lý giải duy nhất, khi nhiều người cho rằng nhà thơ Xuân Diệu
đã làm ngơ, không cứu người em Hoàng Cát. Trong một cái xã
hội luôn rình mò, bới móc, ăn một miếng thịt cũng phải
giấu xương này, chỉ cần một kẻ siêu hình ngồi trên ho.
Một Xuân Diệu, chứ có cả trăm Xuân Diệu cũng không thể
cứu được Hoàng Cát.
Thân Con Kiến là một trong những bài thơ hay nói về thân phận
bọt bèo của một kiếp người. Từ ngữ đơn giản, với
những câu nói cửa miệng, mộc mạc hàng ngày, không cần gọt
dũa Hoàng Cát đã đưa vào thi ca. Nhưng đọc lên ta thấy rất
thơ, rất sinh động:
"Thân con kiến giữa mênh mông xa mạc
Nắng. Rồi mưa. Rồi bão. Lũ. Cuồng phong
Còn sống đến hôm nay- Là ta "lãi" vô cùng
Ta không chết đấy mới là chuyện lạ.."
Có ý kiến cho rằng, thơ Hoàng Cát là những lời tự sự, tự
ru mình, ru người. Không hẳn như vậy, ta hãy đọc tiếp bài
Thân Con Kiến, để thấy cái khao khát tự do, mà Hoàng Cát
suốt đời lang thang tìm kiếm, làm cho KẺ SIÊU HÌNH cũng phải
run sợ:
"…Ta là thân con kiến giữa mênh mông
Ai giẫm đạp, ai chầy chà cũng được
Nhưng ta biết có một loài thú gộc
Luôn chờn ta- Ấy là lũ voi rừng
Hễ nghi ngờ chúng đập ta nát bươm
Ta là con kiến lang thang…"
Còn mạnh hơn cả những khát khao và cả một đời tìm kiếm,
trong bài thơ Tặng Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Cát đã dùng ngòi
bút đâm thủng màn đêm đen ấy. Ông đã mượn sự tài hoa
của thi sỹ Nguyễn Trọng Tạo để bóc trần sự dốt nát,
nhưng đầy thủ đoạn, giả dối, lưu manh của những kẻ ăn
trên ngồi trốc:
"Tài hoa chi lắm Tạo ơi
Loài tò he chẳng cần người tài hoa
Chúng cần gọi dạ xin thưa
Chúng cần nô bộc làm lừa kéo xe
Qua rồi trăm núi ngàn khe
Chúng phăng teo suốt cả bè tài danh
Nghế trên vắt vẻo "rỗ rành"
Tài hoa liệu liệu-tan tành mi ơi"
Tuy chưa được đọc tuyển tập, hay những tập thơ đã ra lò
của Hoàng Cát, nhưng đọc tất cả các bài thơ trên
hoangcat.vnweblogs.com, tôi cảm phục tính nhẫn nại, dù ông đang
bị hành hạ khổ đau về cả thể xác lẫn tâm hồn./ Mười
bảy nghề tủi nhục nắng mưa/ Hăm ba tết đập tan tành quán
cóc/ Kẹo hất tung tôi ôm mặt khóc òa. Nhưng ông vẫn yêu thơ,
làm thơ. Thơ là chiếc lạng gỗ giúp ông lội qua những vũng
lầy của cuộc sống. Ông phó cối, hàng xóm nhà tôi, người
cũng đã trải qua chiến tranh đọc Hoàng Cát, rồi bảo: Nếu
như bắt Hoàng Cát đoạn tuyệt với thi ca để được sống,
thì dứt khoát ông này sẽ chọn cái chết để được làm thơ.
Quả thật, mỗi lần nghĩ, đọc Hoàng Cát, tôi lại nhớ đến
lời khuyên của giáo sư Vũ Tuyên Hoàng. Và cảm thấy mình vô
cùng yếu kém, có những ước mơ nhưng không đủ dũng khí đi
đến tận cùng.Vào khoảng năm 1987, 1988 tôi có đọc bài thơ
"Chiếc Ghế Của Cha" của giáo sư viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng,
viết về cái đau và sự trống vắng mỗi khi nhìn vào chiếc
ghế của cha anh, nhà văn Vũ Ngọc Phan vừa qua đời. Bài thơ
này, làm tâm hồn kẻ mổ heo chuyên nghiệp, sống nơi xứ
người như tôi xúc động mạnh, bật ra một bài dạng thơ con
cóc với cái tựa đề: Xuân Này Cha Viết Gì?
"Đêm nay cũng như bao đêm
Cha tôi lại ngồi viết
Hà Nội còn đông trời lạnh ngắt
Cha ngồi đó trầm tư bên bản thảo
Cha viết gì với cuộc sống hôm nay
Viết thực ư? Ngòi bút lạc dòng
Viết khác chăng? Lương tâm người cầm bút…
Ngoài cửa sổ giàn hoa thiên lý
Cha thường bế con lên để hái
Mùi hương thơm con cảm thấy ngọt ngào
Không phải con lớn, giàn hoa kia thấp xuống
Mà con người thay đổi theo qui luật của tự nhiên…
Cứ mỗi lần cha nhìn con
Cha cảm thấy mình là người có lỗi.
Con hiểu, điều đó không phải tại cha
Mà do người cầm lái
Đưa con tầu xuống vực thẳm thương đau.
Con biết cha trăn trở đã bao ngày
Với ngòi bút dường như không lối thoát
Nhưng con mong cha viết lên những sự thật
Dù sách của cha không được in như những ngày nào
Nhưng bản thảo của cha vẫn sống
Con yêu cha hơn hết thảy bao giờ"
Chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào, tôi dám đề tặng,
gửi bài này cho nhà thơ Vũ Tuyên Hoàng, hình như lúc đó anh
đang ở (viện) trường đại học nông nghiệp. Mấy tháng sau
tôi nhận được thư hồi âm của anh. Anh khen bài thơ con cóc
của tôi có hình ảnh, nhưng không thể đăng báo trong nước.
Anh khuyến khích tôi viết tiếp. Nhưng lúc đó áp lực công
việc và lo kiếm tiền giúp đỡ gia đình ở Việt Nam, rồi
những biến động chính trị ở Đức, nên tôi không còn hứng
thú với thơ phú. Nói vui, nếu như có một chút nghị lực,
một tí ti kiên trì, tình yêu thơ ca mãnh liệt của nghệ sỹ
Hoàng Cát, có lẽ đến nay tôi cũng đẻ được một vài tập
thơ chứ chẳng chơi.
Chiến tranh đã cướp đi một phần cơ thể, cho nên hơn ai hết
Hoàng Cát thấm được nỗi đau của sự mất mát, cái tàn
nhẫn của chiến tranh. Bài thơ Đừng Bao Giờ, như một tiếng
kêu thống khổ xé trong đêm của người thương binh tàn phế
từ mặt trận trở về. Cả bài thơ là một sự nguyện cầu,
không hề thấy một lời trách móc. Nhưng đọc lên ta thấy
nghèn nghẹn đắng cay. Đằng sau sự đắng cay khổ ải về
thân xác ấy, là cái phũ phàng không tình người sau chiến
tranh, còn cay nghiệt, buồn tủi gấp ngàn lần:
"Tiếng lọ kẹo va vào nhau lanh canh
Tiếng xe hàng nghiến xuống đường lộc cộc
Tiếng chân gỗ của tôi kót két bước cao, bước thấp
Tôi đẩy xe hàng đêm đêm đi kiếm ăn.
Đừng bao giờ trở lại nữa-chiến tranh
Đừng ai phải tật nguyền như tôi vất vưởng
Dằng dặc một ngày chạy lo cái sống
Dằng dặc một ngày tàn phế khổ đau
Bao nhiêu sợi tóc trên đầu
Bấy nhiêu buồn lo đọng lại
Bấy nhiêu nhọc nhằn
Bấy nhiêu buồn tủi
Đừng bao giờ trở lại nữa chiến tranh"
Có thể nói Hoàng Cát là một trong những nhà thơ viết về
thân phận con người hay nhất hiện nay. Những năm tháng cùng
khổ về vật chất, tù túng về tinh thần, tạo cho Hoàng Cát
có một tâm hồn nhạy cảm. Ông đau với cái đau đồng loại,
cảm thương trước những mảnh đời bất hạnh. Sự đồng
cảm ấy trong ông làm ấm lại tình người, qua những câu thơ
lời hát. Theo Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Cát là người cả nghĩ.
Vâng! Đúng như vậy, sự cả nghĩ, đa cảm đó là những chất
liệu làm nên tính cách và hồn thơ Hoàng Cát.
Sông Hồng Chiều Đông, theo tôi là bài thơ hay nhất của Hoàng
Cát viết về thân phận con người về cả hai khía cạnh, nội
dung và nghệ thuật. Thoạt tưởng bài thơ là một bức tranh
toàn bích của mùa đông về trên sông. Nhưng mặt sau bức tranh
này, người xem(đọc) sẽ cảm nhận được cái đói lạnh và
sự lam lũ, cô độc trong cái mênh mông sông nước của những
kiếp người. Bài thơ chia làm ba khổ, mỗi khổ bốn câu độc
lập, mang mang hoài cổ làm ta nghĩ đến những câu thơ đường.
"Dòng lạnh trôi, run rẩy chở gió mùa
Hoa cỏ dại bãi bờ hoang lẩy bẩy
Mây xám chiều đông. Cánh đồng trống trải
Ngô hái bắp rồi. Phơ phơ hoa khô.
Chiếc thuyền gỗ mong manh buông lưới gần bờ
Ngư phủ là một người đàn bà không tuổi
Có tiếng trẻ trong khoang che bằng lá chuối
Khiến sông nước mênh mang, lạnh đến tận chân trời…"
Đọc đến câu thơ"Cái gia đình lênh đênh kia chừng như
không để ý" tôi cứ thấy măng mắc, gờn gợn. Đây có lẽ
là một câu thơ dở, và gượng ép trong một bài thơ hay. Tôi
cho rằng nếu không có vết mực này, bức tranh Sông Hồng
Chiều Đông của Hoàng Cát hoàn bích hơn rất nhiều.
"…Ánh hoàng hôn đã sậm sậm xa rồi
Cái gia đình lênh đênh kia chừng như không để ý
Sương dần buông. Gió chiều đông tê tái.
Chiếc thuyền chài lầm lũi khuất trên sông"
Bước vào tuổi bảy mươi, cái tuổi con người thường dừng
lại để mà nghĩ suy, để mà chiêm nghiệm. Nhưng Hoàng Cát
vẫn hừng hực yêu, hừng hực viết. Vết chân tròn của ông
vẫn ghim sâu vào lòng cát. Từ trong lòng cát nóng bỏng ấy,
đã nẩy lên những nhánh hoa xương rồng, cháy vào hồn người.
"Ta là hạt cát của Miền Trung
Như hoa trên nhánh xương rồng ấy
Vẫn nở vì nhau đến cháy lòng"
Đỗ Trường
Leipzig, ngày 11-10-2012
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/tin-tuc/20121011/do-truong-hoang-cat-vet-chan-tron-van-cam-sau-vao-long-cat),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét