Dương Kế Thằng – Nền chính trị hại dân của Mao trong thời kì Đại Nhảy vọt ở Trung Quốc: Lời nói đầu cho cuốn “Bia mộ” (2)

Sau khi giành được chính quyền, Đảng Cộng sản Trung Quốc
bưng bít hết mọi nguồn thông tin từ nước ngoài, đồng thời
phủ nhận toàn bộ những chuẩn mực đạo đức truyền thống
của Trung Quốc. Chính phủ nắm độc quyền thông tin nên cũng
nắm độc quyền về chân lí. Là trung tâm quyền lực, Trung
ương Đảng cũng là trung tâm chân lí và thông tin. Tất cả các
cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội cúc cung tận tụy xác nhận
tính chính đáng của chế độ cộng sản; mọi đoàn văn công
nỗ lực hết mình ca tụng Đảng Cộng sản Trung Quốc; tất
cả các cơ quan truyền thông đưa tin đăng bài chứng minh sự
sáng suốt và sức mạnh của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ
nhà trẻ đến đại học, sứ mệnh chính là cấy thế giới
quan cộng sản vào tâm trí của học sinh, sinh viên các cấp.
Các viện nghiên cứu khoa học xã hội, đoàn văn công, cơ quan
truyền thông và trường học tất thảy đều trở thành công
cụ cho sự độc quyền của Đảng về tư tưởng, tinh thần và
quan điểm, và tất cả các cơ quan này liên tục tham gia nhào
nặn tâm hồn của thế hệ trẻ Trung Quốc. Những người làm
công việc này hãnh diện được gọi là 'kĩ sư tâm hồn'.

Trong hoàn cảnh suy nghĩ và thông tin bị bưng bít như vậy,
chính quyền trung ương dùng bộ máy độc quyền của mình cho
công tác lâu dài là làm cho mọi người thấm nhuần các giá
trị cộng sản đồng thời phê phán và bài trừ bất cứ giá
trị nào khác. Bằng cách này, tâm trí của giới trẻ hình
thành những cảm xúc rõ rệt và sâu sắc về đúng/sai và
yêu/ghét, và những cảm xúc đó hóa thành niềm khao khát mãnh
liệt muốn biến các lí tưởng cộng sản thành hiện thực.
Lúc đó, bất cứ lời nói hay hành động nào phản đối hay đi
chệch khỏi những lí tưởng này sẽ bị toàn thể mọi người
nhất loạt đả kích.

Trong công tác tuyên truyền cho thấm nhuần các giá trị [cộng
sản], cơ cấu tổ chức của Đảng thậm chí còn hữu hiệu
hơn cả các viện nghiên cứu khoa học xã hội, cơ quan truyền
thông, đoàn văn công và trường học. Mỗi cấp ủy Đảng có
một bộ phận nòng cốt được hậu thuẫn của những đảng
viên tích cực, cấp trên quản lí cấp dưới, cấp dưới trung
thành với cấp trên. Những phong trào chính trị liên tiếp,
hàng trăm hàng ngàn cuộc họp lớn nhỏ, những buổi lễ tuyên
dương và các buổi đấu tố, các phần thưởng và hình phạt,
tất thảy đều dùng để lôi kéo giới trẻ vào một quỹ
đạo duy nhất. Tất cả những quan điểm khác với các quan
điểm của Đảng đều bị tiêu diệt từ trong trứng nước.

Lúc đó tôi thật lòng tin rằng một nước Trung Quốc yếu kém
và nghèo đói, từng bị bọn đế quốc áp bức trong gần 100
năm, có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường "Ba
ngọn cờ hồng" và tiếp tục thực hiện lí tưởng cao nhất
của nhân loại – đó là chủ nghĩa cộng sản. So với lí
tưởng cao cả này, những khó khăn cỏn con tôi gặp phải thì
nghĩa lí gì?

Tôi tin tưởng chủ trương "Ba ngọn cờ hồng" không chỉ vì
u mê ngu dốt, mà còn vì áp lực chính trị kinh khủng đè nặng
lên toàn xã hội, cái kiểu áp lực không cho ai nghi ngờ. Bản
thân tôi chứng kiến nhiều biến cố đau lòng. Vạn Thượng
Quân (萬尚君), học cùng trường nhưng trên tôi một lớp, mất
cơ hội thi đại học vì anh ấy ca ngợi một bài diễn văn
của Tito phê phán 'phe xã hội chủ nghĩa'. Anh ấy từng đỗ
đầu trong kì thi vào trường cấp hai của huyện trước tôi
một năm, nên tôi biết rõ về anh. Anh là học sinh xuất sắc
và chín chắn nhưng lại mất hết triển vọng cho tương lai ở
tuổi mười bảy vì anh suy nghĩ quá độc lập. Trong một vụ
khác xảy ra vào mùa Xuân năm 1959, có người phát hiện dòng
chữ 'Đả đảo Mao' viết nguệch ngoạc trên vách ngăn cầu
tiêu, và hoảng hốt đi báo lãnh đạo nhà trường. Trường
vội vã báo lên Sở Công an, và Sở nhanh chóng phá án. Hóa ra
một anh học trên tôi một lớp, đói quá hóa rồ, trong cơn
tức giận đã viết dòng chữ đó. Tôi tận mắt thấy anh bị
cùm tay và tống vào tù.

Những đợt phê bình không ngừng nghỉ của quần chúng cách
mạng và những hình phạt khắc nghiệt mà ta chứng kiến dần
dần tiêm vào ta cảm giác kinh hoàng. Nỗi kinh hoàng đó không
phải là cảm giác khiếp sợ chợt đến khi ta thấy rắn độc
hay thú dữ, mà là nỗi ghê sợ ăn dần thấm dà vào thần kinh
ta, vào máu ta, để rồi trở thành một phần trong bản năng
sinh tồn của một con người. Người dân biết cách tránh hiểm
họa chính trị như thể thấy cháy nhà thì ráng chạy thoát
thân.

Ở một đất nước vốn từ xa xưa đã có tâm lí tôn vua kính
chúa, ngay từ đầu người dân đã xem chính quyền trung ương
là tiếng nói quyền uy, và Đảng dùng 'sức mạnh diệu kỳ'
của chính quyền trung ương để khiến toàn dân thấm nhuần
các giá trị thống nhất. Giới trẻ ít kinh nghiệm thật lòng
tin tưởng những giáo điều này, còn cha mẹ của chúng tuy có
nhiều kinh nghiệm hơn chút ít nhưng vì lòng tin mù quáng vào
'sức mạnh diệu kỳ' hoặc vì sợ chế độ nên cố gắng
hết sức để ngăn không cho con cái bộc lộ bất cứ luồng tư
tưởng nào khác với tư tưởng của chính quyền, buộc con cái
phải phục tùng và vâng lời.

Năm 1960 tôi thi đỗ vào Viện Đại học Thanh Hoa. Ngay sau khi
nhập học, tôi tham quan triển lãm "chống hữu phái" của
trường và bắt đầu dấn thân vào con đường giáo dục lòng
trung thành của tôi. Tiếp đến là hơn năm mươi ngày làm việc
cực nhọc ở nông thôn để được giáo dục qua lao động và
tập tranh luận biện hộ cho "Ba ngọn cờ hồng". Dù bụng
đói sôi sùng sục, chúng tôi cũng chưa bao giờ hoài nghi về
"Ba ngọn cờ hồng".

Trường đại học này từng nổi tiếng về tính cởi mở của
giới trí thức, nhưng hóa ra lại hết sức hẹp hòi. Viện
đại học Thanh Hoa từng có nhiều giáo sư lừng danh, nhưng tôi
chỉ biết đến Văn Nhất Đa (聞一多) và Chu Tự Thanh
(朱自清) từ những trước tác của Mao Trạch Đông, và chưa
hề nghe đến Trần Dần Khác (陳寅恪) hay Ngô Mật (吳宓)[i].
Thư viện của trường có sách nhiều đáng nể, nhưng những
cuốn duy nhất tôi có thể mượn được, ngoài những cuốn về
khoa học kĩ thuật, đều liên quan đến chủ nghĩa cộng sản.
Hai cựu sinh viên của trường, Dương Chấn Ninh (楊振宁) và Lý
Chính Đạo (李政道), đã giành giải Nobel vật lí năm 1957,[ii]
nhưng trường lại giữ kín chuyện này. Trong những buổi họp
cán bộ Đoàn Thanh niên, trường thậm chí còn cảnh báo rằng
hai người này là phần tử trí thức phản động, và chúng tôi
không nên đi theo con đường 'tinh hoa chủ nghĩa' của họ.

Thời đại học, tôi vẫn rất ngoan ngoãn phục tùng, suốt
thời gian đó tôi làm bí thư chi đoàn, rồi vào Đảng Cộng
sản tháng 5 năm 1964. Thời đó, những thanh niên như tôi được
xem là rất ngây thơ và chân chất, và quả đúng như vậy;
đầu óc chúng tôi chỉ toàn những niềm tin do bộ máy tuyên
truyền tiêm vào, ngoài ra chẳng có gì cả. Bằng cách này
Đảng uốn nắn thế hệ đang lớn lên dưới chế độ mới
thành những tông đồ trung thành. Nếu không có những sự kiện
lớn xảy ra trong những thập niên đó, và nếu chế độ đó
vẫn vững vàng tại vị, thế hệ chúng tôi có lẽ vẫn giữ
những niềm tin đó trong suốt cuộc đời mình.

Điều dẫn đến thay đổi đầu tiên trong suy nghĩ của tôi là
Cách mạng Văn hóa. Lúc khởi đầu Cách mạng Văn hóa, tôi rất
ngạc nhiên khi thấy ở Viện Đại học Thanh Hoa xuất hiện
hàng ngàn "Đại tự báo" tố cáo cuộc sống hủ bại và
tinh thần đê hèn của những nhà cách mạng lão thành mà tôi
kính nể từ lâu. Từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1966, tôi và
nhiều bạn cùng lớp đi đến hơn 20 thành phố để 'thiết
lập quan hệ', và ở những nơi đó chúng tôi cũng thấy
nhiều "Đại tự báo" tiết lộ sự tham nhũng và đặc
quyền của những cán bộ cấp cao. Tôi bắt đầu mất niềm tin
vào hệ thống công quyền, và tôi chẳng còn tin những gì mình
đọc trên báo. Tôi bắt đầu nghi ngờ những huyền thoại mà
Đảng đã khắc ghi trong tâm trí tôi suốt những năm qua. Giống
như hầu hết những người dân thường, tôi tham gia vào Cách
mạng Văn hóa chỉ vì phản đối đặc quyền của các quan
chức. Và chính trong thời kì Cách mạng Văn hóa, Trương Thể
Học (張體學), Chủ tịch tỉnh Hồ Bắc, đã nói một điều
làm tôi sửng sốt: trong ba năm khốn khó ở tỉnh Hồ Bắc,
khoảng 300.000 người đã chết đói! Chỉ khi ấy tôi mới nhận
ra rằng bi kịch của gia đình tôi không phải là đơn nhất.

Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi được phân công làm việc
tại Tân Hoa Xã. Các phóng viên Tân Hoa được gặp gỡ mọi
tầng lớp xã hội mà những người khác chẳng bao giờ có thể
tiếp xúc. Tôi không chỉ biết nhiều sự thật mâu thuẫn với
những điều đã viết trong sách sử của Đảng, mà còn quan
sát cuộc sống vất vả của giới công nhân thành thị. Là
phóng viên Tân Hoa, tôi biết 'tin tức' đăng trên báo chí
đã được chế tác ra sao, và tôi cũng biết các cơ quan truyền
thông đã thành cái loa của nhà cầm quyền như thế nào.

Chủ trương cải cách và mở cửa đã nới lỏng đáng kể
những ràng buộc trước đây bóp nghẹt giới trí thức của
Trung Quốc, và một số sự thật lịch sử bắt đầu hé lộ.
Trong quá khứ, Đảng đã dạy chúng tôi rằng trong cuộc kháng
chiến chống Nhật, chỉ có người cộng sản đánh Nhật, còn
Quốc dân Đảng hoàn toàn đầu hàng và cộng tác với địch.
Giờ đây chúng tôi biết rằng khoảng hai trăm tướng lĩnh
Quốc dân Đảng đã hi sinh tính mạng để duy trì công cuộc
kháng chiến. Trước kia, Đảng đã dạy chúng tôi rằng thiên
tai đã gây ra nạn đói ở một số ít vùng trên toàn quốc.
Giờ đây chúng tôi biết rằng đó hoàn toàn là nhân họa
khiến hàng chục triệu người đói đến chết. Tôi bắt đầu
hiểu rằng lịch sử Đảng, và lịch sử một trăm năm gần
đây của Trung Quốc, đã bị xuyên tạc và biên tập cho phù
hợp với nhu cầu của Đảng.

Nhờ nhận ra mình đã bị lừa dối trong suốt thời gian dài
như vậy, tôi bỗng có sức mạnh ghê gớm để rũ bỏ sự dối
trá này. Chính quyền càng che giấu sự thật, tôi càng quyết
tâm theo đuổi sự thật. Tôi bắt đầu đọc hàng tập tư
liệu mới xuất bản, và trong công việc tường thuật tin tức
tôi cố gắng tìm hiểu sự thật của quá khứ. Kinh nghiệm cá
nhân của tôi về cuộc biến động ở Bắc Kinh năm 1989 (sự
kiện Thiên An Môn – 天安門事件) đã thức tỉnh tôi đáng
kể: máu của những sinh viên trẻ tuổi đó đã rửa sạch
đầu óc của tôi, gột sạch tất cả những điều dối trá mà
đầu óc tôi đã chấp nhận trong mấy chục năm trước. Trong
vai trò nhà báo, tôi phấn đấu tường thuật và bàn luận
đúng sự thật. Trong vai trò học giả, tôi cảm thấy có trách
nhiệm phục hồi lịch sử trở lại với đúng bản chất của
nó, và kể sự thật lịch sử cho những người đã từng bị
lừa dối nghe.

<div class="boxleft300"><img
src="http://www.procontra.asia/wp-content/uploads/2012/08/N%C3%B4ng-d%C3%A2n-Trung-Qu%E1%BB%91c-s%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-th%C3%A9p-trong-%C4%90%E1%BA%A1i-Nh%E1%BA%A3y-v%E1%BB%8Dt.-%E1%BA%A2nh-Internet.jpg"
/></div>
Trong nỗ lực phá bỏ sự lừa dối và theo đuổi sự thật,
tôi dần dần hiểu được bối cảnh xã hội lúc cha tôi mất.
Dù mấy chục năm đã trôi qua, những hồi tưởng của tôi về
nguyên nhân khiến cha tôi chết và những điều tôi suy nghĩ về
ông ngày càng thấm thía. Đến thập niên 1980, dân làng ở quê
tôi bắt đầu có xu hướng dựng bia mộ cho những người đã
khuất. Những người làm cán bộ cao cấp ở nơi khác dựng bia
mộ rất hoành tráng. Bạn bè và bà con họ hàng động viên tôi
dựng bia mộ cho cha tôi. Tôi nghĩ dù mình chẳng phải là cán
bộ cao cấp gì cho cam, tôi cũng sẽ dựng bia mộ cho cha còn
hoành tráng hơn bất cứ bia mộ nào khác. Nhưng tôi nhớ đến
số phận những bia mộ ở làng tôi vào năm 1958. Có bia mộ đã
bị phá dỡ để dùng trong các công trình thủy lợi lớn,
hoặc dùng làm nền cho các lò luyện kim trong chiến dịch sản
xuất thép thời kì Đại Nhảy vọt; có bia mộ bị dùng để
lót đường cho hàng ngàn người đi qua. Bia mộ càng uy nghi thì
càng có khả năng bị phá bỏ. Bia mộ của cha tôi phải được
dựng, nhưng không phải trên đất, mà là dựng trong tim. Bia mộ
trong tim chẳng bao giờ bị phá dỡ hay bị thiên hạ giày xéo
lên.

Tôi quả thực đã dựng bia mộ cho cha trong tim tôi. Cuốn sách
này viết nên từ những chữ tôi khắc lên bia mộ đó. Ngay cả
sau khi tôi nhắm mắt xuôi tay, cảm xúc chân thành được thể
hiện bằng những từ ngữ này sẽ vẫn lưu lại trong các thư
viện trên khắp thế giới.

<h2>II.</h2>

Tấn bi kịch xảy ra trong gia đình tôi cũng đồng thời ập
xuống hơn mười triệu gia đình trên khắp đất nước Trung
Quốc.

Trong những chương nói về tổn thất dân số, người đọc sẽ
thấy tôi tham khảo nhiều loại tài liệu từ Trung Quốc và từ
nước ngoài để khẳng định rằng khoảng 36 triệu người đã
chết vì đói ở Trung Quốc từ năm 1958 đến năm 1962. Vì nạn
đói cũng làm giảm tỉ lệ sinh, trong những năm đó số trẻ ra
đời ước tính thấp hơn 40 triệu so với con số lẽ ra đã có
trong hoàn cảnh bình thường. Tính chung có tổng cộng 76 triệu
mạng sống bị mất đi do nạn đói trong bốn năm đó.

Ở các vùng Tín Dương (信陽, tỉnh Hà Nam), Thông Vị (通渭,
tỉnh Cam Túc), Phụng Dương (鳳陽, tỉnh An Huy), Hào Châu
(亳州, tỉnh An Huy), La Định (羅定, tỉnh Quảng Đông), Vô Vi
(無為, tỉnh An Huy), Quán Đào (館陶, tỉnh Hà Bắc), Tế Ninh
(濟宁, tỉnh Sơn Đông) và nhiều vùng thuộc tỉnh Tứ Xuyên,
gần như gia đình nào cũng có ít nhất một người chết vì
đói, và không ít gia đình bị xóa sổ hoàn toàn. Trong một số
trường hợp, cả làng không còn một người nào. Cảnh tượng
này giống như Mao Trạch Đông tả trong một bài thơ của ông:
'Ngàn làng mạc mênh mông cỏ dại, người muôn người chết
dần chết dà; Vạn ngôi nhà chỉ còn bóng ma lởn vởn hát
ca'.[iii]

Hãy khoan nói đến 40 triệu người chưa bao giờ ra đời, làm
sao ta có thể hình dung nổi 36 triệu người đang sống lại bị
bỏ đói đến chết? Con số này tương đương 450 lần số
người chết vì bom nguyên tử thả xuống Nagasaki vào ngày 9
tháng 8 năm 1945.[iv] Như thể có kẻ cho thả 450 quả bom nguyên
tử xuống các làng mạc Trung Quốc. Con số này gấp 150 lần
số người chết trong trận động đất Đường Sơn (唐山,
tỉnh Hà Bắc) vào ngày 28 tháng 7 năm 1976.[v] Con số này lớn
hơn số người chết trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất.
Khoảng 10 triệu người chết trong Chiến tranh Thế giới thứ
nhất, hay trung bình hai triệu người mỗi năm từ năm 1914 đến
1918. Chỉ trong năm 1960, 15 triệu người chết đói ở Trung
Quốc. Mức độ tàn khốc của nạn đói này ở Trung Quốc
thậm chí vượt xa cảnh khốc liệt của Chiến tranh Thế giới
thứ hai với 40-50 triệu người thiệt mạng.[vi] Những ca tử
vong trong Chiến tranh Thế giới thứ hai trải ra trên khắp Châu
Âu, Châu Á và Châu Phi trong thời gian bảy hay tám năm; còn 36
triệu nạn nhân của nạn đói ở Trung Quốc chết trong thời
gian chỉ ba hay bốn năm, và ở đa số vùng, số tử vong tập
trung chỉ trong vòng sáu tháng.

Nạn đói thời kì 1958-1961 khiến tất cả những nạn đói khác
trong lịch sử Trung Quốc trở nên mờ nhạt. Nạn đói trầm
trọng nhất trước kia được ghi lại trong sử Trung Quốc diễn
ra trong những năm 1928–1930, trong thời gian đó một thiên tai
đã ảnh hưởng đến 22 tỉnh. Nạn đói đó phá vỡ mọi kỉ
lục có trước, nhưng tổng cộng chỉ có 10 triệu người
chết. Trong 17 năm từ 1920 đến 1936, nạn đói do mất mùa
cướp đi sinh mạng của 18,36 triệu người.[vii] Lý Văn Hải
(李文海) và những đồng tác giả khác, trong các cuốn Những
nạn đói gần đây ở Trung Quốc và 10 nạn đói lớn nhất
gần đây của Trung Quốc,[viii] thực sự tin rằng con số đó
bị phóng đại, và số người chết trong nạn đói trầm trọng
nhất thời kì 1928–1930 không vượt quá 6 triệu, trong khi
140.000 người chết do những trận lụt sông Dương Tử năm 1931.
Số người chết đói từ năm 1958 đến 1962 gấp nhiều lần so
với số người chết trong bất kì thảm họa nào trước kia ở
Trung Quốc.

Không một tiếng kêu khóc thống thiết khẩn cầu trời đất,
không còn đám tang tẩm liệm đàng hoàng, không có tiếng pháo
đì đùng và tiền âm phủ để tiễn người quá cố đến nơi
an nghỉ cuối cùng, không còn ai để thương cảm và đau buồn,
không một giọt nước mắt, cũng chẳng còn sửng sốt hay
hoảng loạn. Hàng chục triệu người rời bỏ trần gian trong
một không khí hờ hững câm lặng.

Một số làng dùng xe tải chở xác đi chôn trong những nấm mồ
tập thể ở ngoại vi. Ở những làng mà người sống không
đủ sức mai táng người chết cho đàng hoàng, chân tay của
người chết trồi lên mặt đất. Ở một số nơi, người
chết nằm ven đường khi họ gục xuống trong lúc đang vô vọng
đi tìm thức ăn. Không ít người bị bỏ lại tại nhà, để
rồi lũ chuột gặm nhấm mũi và tai họ.

Mùa Thu năm 1999, tôi đến Cao Du phường (高油坊) ở làng Phòng
Hồ (防胡鄉) thuộc huyện Hoài Tân, thành phố Tín Dương, để
tìm hiểu thêm về tình hình ở đây. Một ông lão trong làng,
Dư Văn Hải (餘文海), tuổi trạc thất tuần, dẫn tôi ra một
đồng lúa ở rìa làng. Cụ vừa chỉ đám cây mọc trên đồng
vừa nói, 'Chỗ mấy cái cây kia từng là hố chôn ít nhất 100
xác người'. Nếu cụ Dư với tư cách là nhân chứng của
những sự kiện đó không nhắc chuyện này, có lẽ đã chẳng
ai biết đến bi kịch kinh khủng chôn vùi dưới đám mạ xanh
mơn mởn và những cái cây dáng vẻ oai nghiêm kia.

Cơn đói dằn vặt con người trước khi chết còn tàn khốc hơn
chính cái chết. Lúa gạo ngũ cốc không còn một hạt, cỏ cây
dại đã ăn sạch, thậm chí vỏ cây cũng tước ra ăn, rồi
chuột, phân chim, và cả bông nhồi trong chăn, tất thảy đều
cho vào mồm hòng nhét đầy bao tử. Trên những đồng đất sét
cao lĩnh,[ix] những người đói quay quắt vừa đào đất sét
vừa nhai trệu trạo. Xác của những người chết, của những
nạn nhân từ các làng khác đến lánh nạn đói, và thậm chí
của chính người thân trong gia đình, trở thành thức ăn cho
những kẻ đang tuyệt vọng.

Chuyện ăn thịt người không còn là cá biệt. Sách sử xưa
thuật lại nhiều trường hợp các gia đình đổi con cho nhau
để ăn trong những nạn đói trầm trọng, còn trong thời kì
Nạn đói 1958-1961 này, một số gia đình chỉ còn biết ăn con
của chính mình. Ở một số huyện ở Tín Dương, ở Thông Vị,
tỉnh Cam Túc, và ở tỉnh Tứ Xuyên, người sống sót kể lại
nhiều chuyện ăn thịt người kinh hoàng. Tôi đích thân gặp
nhiều người từng ăn thịt người và nghe họ mô tả mùi vị
của nó.

Qua phân tích những bằng chứng đáng tin cậy mà tôi thu thập
được, có thể thấy có hàng ngàn vụ

ăn thịt người trên khắp Trung Quốc trong thời gian đó.[x] Tôi
đã nêu chi tiết những trường hợp bi thảm này trong các
chương liên quan đến từng tỉnh cụ thể.

Đây là thảm kịch vô tiền khoáng hậu trong lịch sử loài
người. Trong một thời kì có khí hậu bình thường, không có
chiến tranh hay dịch bệnh mà lại có đến hàng chục triệu
người bị đói đến chết và thậm chí phải ăn cả thịt
người, thì quả là chưa từng có trong lịch sử thế giới.

Trong thời kì ấy và nhiều thập niên sau đó, sách báo và các
văn bản chính thức soạn ở Trung Quốc tích cực tránh né và
che giấu thảm kịch khủng khiếp này. Cán bộ ở mọi cấp
chính quyền đều không hé môi về chủ đề người dân đói
dần đến chết. Cán bộ ở mọi cấp chính quyền giả mạo
số liệu thống kê về số người chết và cắt giảm số
liệu bằng mọi phương tiện có trong tầm tay. Để vĩnh viễn
che giấu chuyện này, chính quyền đã ra lệnh hủy toàn bộ dữ
liệu ở tất cả những tỉnh báo cáo dân số giảm đi hàng
chục triệu người.

Những người tị nạn lánh được sang Hương Cảng và thân
nhân của Hoa kiều đã xoay xở loan truyền được chút ít tin
tức về thảm họa này, và dựa trên thông tin này, một số cơ
quan truyền thông phương Tây đã đưa tin về nạn đói ở Trung
Quốc. Những bản tin này tủn mủn, vụn vặt, nhưng chính phủ
Trung Quốc đã nhất quyết gọi đó là 'những trò công kích
ác ý' và 'những tin đồn vu khống'.

Nhằm đảo ngược dư luận quốc tế, chính phủ Trung Quốc đã
mời một số 'người bạn của Trung Quốc' đến thăm và
tận mắt chứng kiến, với hi vọng họ sẽ viết bài 'làm
sáng tỏ các dữ kiện và sự thật'. Chính phủ Trung Quốc
đã chuẩn bị hết sức thấu đáo cho mỗi chuyến viếng thăm
này, tỉ mỉ dàn xếp từng chặng trong lộ trình của khách
mời, bao gồm những nơi họ sẽ đến thăm, những người họ
có thể tiếp xúc, và những điều sẽ nói khi tiếp khách. Trong
những cuộc viếng thăm này, các vị khách nước ngoài bị tách
biệt hẳn với dân thường, và một số nơi thậm chí còn
trưng ra những người được ăn uống đầy đủ và áo quần
chỉnh tề.

Phương Thực (方實), lúc đó là Phó trưởng ban đối nội của
Tân Hoa Xã, có lần được giao nhiệm vụ tháp tùng các vị
khách nước ngoài trong chuyến tham quan tỉnh An Huy. Về già, ở
tuổi 85, ông kể với tôi cách Tỉnh ủy An Huy lừa dối khách
nước ngoài như thế nào (được mô tả ở phần sau trong cuốn
sách này). Những vị khách bị lừa gạt này lúc về nước
đăng những bài báo dựa trên 'những điều mắt thấy tai
nghe' của họ, ca ngợi 'những thành tựu vĩ đại' của
Trung Quốc, cho rằng Trung Quốc lúc đó không bị nạn đói và
người dân Trung Quốc đủ ăn đủ mặc.

Nhà báo Anh Felix Greene, trong tác phẩm nổi tiếng của ông về
Trung Quốc in năm 1965, Tấm màn ngu tối (A Curtain of Ignorance),
viết rằng trong năm 1960 ông đã đi khắp Trung Quốc trong thời
kì mà ngũ cốc được chia khẩu phần rất eo hẹp, nhưng chẳng
hề thấy dấu hiệu nào của nạn đói đại trà. Nhà báo Mỹ
Edgar Snow (tên ông đã trở nên quen thuộc ở Trung Quốc) là
một trong những người bị Trung Quốc lừa gạt rồi truyền bá
sự dối trá đó sang người khác. Tân Hoa Xã dịch tất cả
những bài báo nước ngoài này sang tiếng Trung như "hàng xuất
khẩu bán ở thị trường nội địa' để phổ biến trong Tin
tức tham khảo (參考消息) và Tư liệu tham khảo (参考資料)
nhằm làm công cụ thống nhất dư luận và đàn áp những quan
điểm khác trong nước.

Khoảng 20 năm sau những sự kiện này, một số học giả nước
ngoài và người Hoa sống bên ngoài đại lục bắt đầu nghiên
cứu và báo cáo về thảm họa vô tiền khoáng hậu này. Những
nghiên cứu này có giá trị cao, nhưng vì các tác giả không ở
trong nước, họ không tiếp cận được những tư liệu nội
bộ trong các văn khố lưu trữ chính thức của Trung Quốc, nên
kết quả nghiên cứu của họ chưa đầy đủ.

Từ đầu thập niên 1990, tôi tận dụng những chuyến công tác
của mình để tham khảo những tư liệu liên quan trên khắp
đất nước và phỏng vấn những người đã sống sót qua nạn
đói đó. Tôi đi từ miền Tây Bắc xuống Tây Nam, từ Hoa Bắc
sang Hoa Đông, từ vùng Đông Bắc xuống Hoa Nam, tham khảo văn
khố lưu trữ ở hơn chục tỉnh và phỏng vấn hơn một trăm
nhân chứng. Sau mười năm nỗ lực, tôi đã tích lũy văn bản
tổng cộng hàng triệu từ và mười cuốn sổ ghi chép các
cuộc phỏng vấn. Bằng cách này tôi có được hiểu biết toàn
diện và sâu sắc về những hoàn cảnh thực sự của Nạn đói
1958-1961.

Đối mặt với những hậu quả trầm trọng của Nạn đói
1958-1961, Lưu Thiếu Kỳ có lần nói với Mao Trạch Đông,
'Lịch sử sẽ ghi lại vai trò của đồng chí và tôi trong
chuyện quá nhiều người dân bị đói, và nạn ăn thịt người
cũng sẽ được khắc ghi!'.[xi] Mùa Xuân năm 1962, trong một
lần nói chuyện với Đặng Lực Quần (鄧力群), Lưu Thiếu Kỳ
một lần nữa lại nhắc rằng 'những cái chết vì đói sẽ
được ghi lại trong sử sách'. Tuy nhiên, sau hơn bốn mươi
năm, không có cuốn sách nào như vậy về Nạn đói 1958-1961
được xuất bản ở Trung Hoa đại lục. Điều đó không chỉ
đáng tiếc từ góc độ lịch sử mà còn xúc phạm đến kí
ức về hàng chục triệu nạn nhân vô tội. Tôi đã dành nhiều
năm trời để hoàn tất cuốn sách này. Cuốn sách này có thể
xem như bia mộ dành cho hàng chục triệu linh hồn đói khát đó,
và tôi hi vọng nó sẽ phần nào an ủi cho họ.

Lưu Thiếu Kỳ cũng từng nói rằng thảm họa này nên được
khắc bia tưởng niệm làm di tích 'truyền lại cho con cháu
chúng ta để một lỗi lầm như vậy sẽ không bao giờ tái
diễn'. Phải, nên dựng một đài tưởng niệm lớn cho một
sự kiện lịch sử trọng đại như vậy như một lời cảnh
báo cho các thế hệ tương lai. Tôi tin rằng chỉ một cuốn
sách của tôi sẽ không đủ để khắc ghi sâu trong tâm trí bài
học lịch sử này. Đã có những đài tưởng niệm cho nạn
nhân trận động đất Đường Sơn, cho Hiroshima và Nagasaki, và
cho các nạn nhân của Chiến tranh Thế giới thứ hai trên khắp
châu Âu. Trung Quốc cũng nên dựng những đài tưởng niệm các
nạn nhân của Nạn đói 1958-1961 ở những nơi tập trung số
người chết nhiều nhất, ví dụ như Tín Dương, Thông Vị, La
Định, Hào Châu, Phụng Dương, Tuân Nghĩa (遵義, tỉnh Quý
Châu), Kim Sa (金沙, tỉnh Quý Châu), huyện Bì (郫縣, Thành Đô,
tỉnh Tứ Xuyên), huyện Vinh (榮縣, tỉnh Tứ Xuyên), Phong Đô
(豐都, Trùng Khánh, Tứ Xuyên), Đại Ấp (大邑, Thành Đô,
tỉnh Tứ Xuyên), Quán Đào, Tế Ninh, v.v… và ở tỉnh lị của
những tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất, đó là Tứ Xuyên,
An Huy, Quý Châu, Hà Nam, Sơn Đông, Cam Túc và Thanh Hải, cũng
như ở quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh. Những đài
tưởng niệm này sẽ không chỉ tưởng nhớ người chết mà
còn để nhắc nhở đến tai họa này, từ đó có thể rút ra
bài học để ngăn chặn sự tái diễn của một thảm kịch như
vậy trong tương lai.

III.

Dù đất canh tác giảm đi và dân số gia tăng 200 triệu trong
thập niên 1980 và 1990, nguồn cung cấp ngũ cốc của Trung Quốc
nay dồi dào hơn bao giờ hết; giới trẻ không biết đói là
gì, và nông dân thậm chí khó bán hết thu hoạch vụ mùa của
mình. Tất thảy những thành quả này đều nhờ những thay
đổi về hệ thống nông nghiệp của Trung Quốc kể từ khi
Công xã Nhân dân được thay thế bằng hệ thống trả công
gắn với sản lượng, và điều đó chứng tỏ ảnh hưởng quan
trọng của một hệ thống đối với nạn đói.

Amartya Sen, người đoạt giải Nobel [Kinh tế] năm 1998 nhờ
những nghiên cứu của ông về nạn đói, đã viết:

<div class="special_quote"><em>Trong lịch sử khủng khiếp của
những nạn đói trên thế giới, chưa có một nạn đói lớn
nào từng xảy ra ở một nước độc lập và dân chủ với
nền báo chí tương đối tự do. Bất kể tìm ở đâu, chúng ta
không tìm được ngoại lệ cho quy tắc này: những nạn đói
gần đây ở Ethiopia, Somalia, hay những chế độ độc tài khác;
những nạn đói ở Liên Xô trong thập niên 1930; nạn đói
1958-1961 của Trung Quốc với thất bại của "Đại nhảy
vọt"; hay thậm chí xưa hơn nữa, những nạn đói ở Ái Nhĩ
Lan hay Ấn Độ dưới ách đô hộ của ngoại bang. Dù kinh tế
về nhiều mặt khá hơn Ấn Độ, Trung Quốc (khác với Ấn
Độ) vẫn để xảy ra nạn đói, thực ra là nạn đói lớn
nhất được ghi nhận trong lịch sử thế giới: gần 30 triệu
người chết trong nạn đói thời kì 1958–1961, trong khi những
chính sách sai lầm của chính phủ vẫn không được sửa đổi
trong suốt ba năm đó. Những chính sách này không bị chỉ trích
vì không có đảng đối lập trong quốc hội, không có nền báo
chí tự do, và không có bầu cử đa đảng. Quả thực chính
tình trạng thiếu phản biện đã để cho những chính sách hết
sức sai lầm này tiếp diễn mặc dù chúng giết chết hàng
triệu người mỗi năm.</em>[xii]</div>

Thực vậy, nguyên nhân cơ bản khiến hàng chục triệu người
ở Trung Quốc chết đói là chế độ cực quyền (totalitarianism
– cũng còn gọi là chế độ toàn trị). Dĩ nhiên tôi không
nói rằng chế độ cực quyền tất yếu sẽ dẫn đến những
tai họa trên quy mô lớn như vậy, nhưng trong chế độ cực
quyền những chính sách vô cùng khiếm khuyết sẽ dễ xuất
hiện hơn, và sau này muốn sửa đổi những chính sách đó sẽ
khó hơn. Một điều quan trọng hơn nữa là trong hệ thống này,
chính phủ độc quyền thâu tóm mọi sản phẩm và nguồn duy
trì sự sống, để rồi một khi thảm họa ập đến, người
dân thường không có phương tiện tự cứu mình và chỉ còn
ngồi chờ chết.

Trong lĩnh vực chính trị và tư tưởng, Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa áp dụng chế độ chuyên chính vô sản toàn diện, đàn áp
không thương tiếc bất cứ người bất đồng chính kiến nào.
Về mặt kinh tế, nước này thực hiện một nền kinh tế kế
hoạch tập trung hóa cao độ trong đó chính phủ nắm độc
quyền với tất cả mọi nguồn lực kinh tế. Về mặt ý thức
hệ, nước này thực hiện độc quyền nghiêm ngặt về thảo
luận và suy nghĩ, và không cho phép bày tỏ những quan điểm
khác biệt. Bản thân Mao Trạch Đông mô tả đặc trưng của
hệ thống chính trị này là 'Marx cộng với Tần Thủy
Hoàng'. Hệ thống này kết hợp kiểu chuyên quyền tập trung
cao độ của Liên Xô với kiểu chuyên chế mà hoàng đế đầu
tiên của Trung Quốc đã áp đặt hơn 2.000 năm trước, và đã
dần dần trở nên chặt chẽ hơn qua những triều đại kế
tiếp. Kết quả là sự lạm dụng quyền lực hành pháp trầm
trọng hơn sự lạm dụng của Liên Xô, hay của bất cứ hoàng
đế nào của Trung Quốc. Đó là một hệ thống chuyên chính
đúng nghĩa.

Chế độ chuyên chế Trung Quốc bắt đầu từ khi Tần Thủy
Hoàng thống nhất Trung Quốc vào năm 221 trước Công nguyên, và
đã lưu lại nhiều dấu tích lịch sử trong quá trình hơn hai
nghìn năm. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã kế thừa hệ thống
này một cách hiệu quả, và mặc dù sự cai trị của Đảng
chỉ là đoạn kết của chế độ chuyên chế phong kiến Trung
Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc có được vũ khí, phương
tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc và những phương
pháp tổ chức hiện đại, nên Đảng càng nắm quyền kiểm
soát vừa rộng vừa sâu đối với xã hội, hệ thống công
quyền, và người dân với mức độ chặt chẽ hơn và chi li
hơn mà chế độ chuyên quyền phong kiến trước kia chưa hề
đạt đến. Cái thòng lọng này thắt chặt mọi cơ chế hoạt
động chính trị, kinh tế, văn hóa và ý thức hệ của xã hội
và mọi khía cạnh đời sống thường nhật. Quyền lực cưỡng
bức của chế độ độc tài thâm nhập vào mọi ngóc ngách
của thậm chí những làng mạc hẻo lánh nhất, chạm đến
từng thành viên trong từng gia đình, và len lỏi vào tâm can
của từng người. Gọi chế độ này là 'cực quyền' nghĩa
là nói đến sự bành trướng của quyền lực hành pháp đến
mức cùng cực.

(Còn 1 kì)

<strong>Nguồn:</strong> Tạp chí "Trung Hoa đương đại" (2010),
số 19 (66), tháng 9, trang 755-776). <a
href="http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/10670564.2010.485408#preview">Bản
tiếng Anh</a>.

Bản tiếng Việt © 2012 pro&contra; © 2012 Bùi Xuân Bách, Phạm
Nguyên Trường, Phạm Vũ Lửa Hạ

___________________________

<strong>Lời cảm tạ:</strong> Chúng tôi, những người dịch, xin
chân thành cám ơn những người bạn thân đã cổ vũ và giúp
đỡ rất nhiều, chẳng hạn như tìm giúp cho bản tiếng Hán,
bớt thời gian quý báu của mình đọc trước bản dịch và
đóng góp nhiều ý kiến xác đáng.

<strong>Lưu ý về chú thích:</strong>

- Chú thích của tác giả sẽ viết tắt là TG.

- Chú thích của người dịch bản tiếng Anh sẽ viết tắt là
TA.

- Chú thích của người dịch bản tiếng Việt sẽ viết tắt
TV.

- Tên riêng nào (chỉ còn có hai cái) chúng tôi chưa tra được
nguyên văn tiếng Hán, đành phỏng đoán sát nhất và đánh dấu
hoa thị (*).

___________________________

[i] TA: Văn Nhất Đa (1899–1946), người phê phán chính phủ
Quốc dân Đảng, đã chết dưới tay Quốc dân Đảng. Chu Tự
Thanh (1898–1948), một người chống đế quốc, đã chết vì
đói sau khi từ chối thực phẩm viện trợ của Mỹ. Ngược
lại, cả Trần Dần Khác (1890–1969) và Ngô Mật (1894–1978),
là những học giả văn hóa cổ truyền được đào tạo ở
nước ngoài và cố giữ khoảng cách với Đảng Cộng sản. Họ
Ngô bị tra tấn trong Cách mạng Văn hóa.

[ii] TA: Dương Chấn Ninh và Lý Chính Đạo là học giả ở Mỹ
khi họ trở thành những người gốc Hoa đầu tiên giành giải
Nobel.

[iii] TA: Trích từ bài thơ 'Tống tiễn ôn thần' (Tống ôn
thần, 送瘟神) của Mao Trạch Đông. Mao viết bài thơ này vào
ngày 1 tháng 7 năm 1958, khi biết tin về thành công trong công tác
chống bệnh kí sinh ở Dư Giang (餘江), tỉnh Giang Tây.

[iv] TG: Vào ngày 6 tháng 8 năm 1945, máy bay quân sự Mỹ thả bom
nguyên tử xuống thành phố Hiroshima, Nhật, giết chết 71.000
người. Ngày 9 tháng 8, Mỹ thả một quả bom khác xuống
Nagasaki, giết chết 80.000 người.

[v] TG: Ước tính có 240.000 người chết trong trận động đất
Đường Sơn (28 tháng 7 năm 1976). TV: Một vài nguồn vẫn cho
rằng con số người thiệt mạng lên tới khoảng 700.000 người.
(Xem Wikipedia)

[vi] TG: Henri Michel, Chiến tranh Thế giới thứ hai, ấn bản
tiếng Trung, tập 2 (Thương Vụ ấn thư quán, 1981), trang 427. (TA:
Ấn bản tiếng Anh do nhà Praeger xuất bản năm 1975.)

[vii] TG: Đặng Vân Đặc [鄧云特], Lịch sử cứu trợ nạn
đói ở Trung Quốc [Trung Quốc cứu hoang sử, 中國救荒史]
(Bắc Kinh: Thương Vụ ấn thư quán, 1993), trang 142–143.

[viii] TA: Trích dẫn toàn văn các tác phẩm của Lý Văn Hải
(李文海), giáo sư Viện Đại học Nhân dân, và các tác giả
khác có thể truy cập ở
http://qss.ruc.edu.cn/en/100964/101137/20249.html.

[ix] TA: Đất sét cao lĩnh (高嶺), còn gọi là 'đất sét Quan
Âm' vì nó là thành phần chính làm tượng sứ Quan Âm. Trong
nạn đói này, nhiều nông dân đã ăn để chống đói. Vì không
tiêu được, đất sét này sẽ làm nghẽn ruột, thường dẫn
đến cái chết. TV: Ta thường gọi là cao lanh (Kaolin). Được
sử dụng trong các lĩnh vực sau: công nghiệp dược, mĩ phẩm;
công nghiệp giấy; sản xuất gạch ceramic; công nghiệp gốm
sứ, vật liệu chịu lửa; sứ cách điện; công nghiệp luyện
kim; chất tẩy trắng dầu mỡ; tổng hợp Zeolit; v.v…

[x] TG: Trong bảy lần in đầu tiên của cuốn sách này ấn bản
tiếng Trung, tôi đã dùng số liệu của Lý Nhuệ (李銳) ước
tính có hơn 1.000 vụ ăn thịt người trên toàn Trung Quốc.
Tháng 7 năm 2009, Ân Thụ Sinh*, nguyên phó giám đốc Sở Công an
tỉnh An Huy, cung cấp cho tôi thông tin sau: năm 1961, Sở Công an
tỉnh An Huy báo cáo với Tỉnh ủy là đã có 1.289 vụ ăn thịt
người ở tỉnh này. Có hơn 300 vụ ăn thịt người được báo
cáo ở huyện Hoàng Trung (湟中縣), thành phố Tây Ninh (西宁市)
thuộc tỉnh Thanh Hải. Cộng thêm những số liệu báo cáo ở
Tứ Xuyên, Sơn Đông, Hà Nam và những nơi khác ở Trung Quốc,
con số ước tính mấy ngàn không phải là phóng đại.

[xi] TA: Vương Quang Mỹ, Lưu Nguyên và các tác giả khác, Lưu
Thiếu Kỳ – những chuyện chưa biết [你所不知道的劉少奇]
(Trịnh Châu: Hà Nam Nhân dân Xuất bản xã, 2000), trang 90.

[xii] TA: Amartya Sen, "Dân chủ như một giá trị phổ quát",
['Democracy as a universal value'], Journal of Democracy 10(3), (1999),
trang 3–17, có ở địa chỉ:
http://hdr.undp.org/docs/training/oxford/readings/2006/Sen%20Democracy%201999.pdf.
Tác giả trích dẫn bản dịch tiểu luận của Sen sang tiếng
Hán của Trình Hiểu Nông (程曉農) đăng trong tạp chí Nghiên
cứu Trung Quốc đương đại (當代中國研究) 69(2), (2000).

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/14260), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét