<h2>III. Xem xét dưới góc độ con người và thiên nhiên</h2>
Ngoài một xã hội biến dạng, một nền kinh tế tiêu điều,
và tài nguyên cạn kiệt, những người cộng sản còn để lại
những di sản gì? đó là đất đai nứt nẻ, những đầm lầy
hôi thối, một cộng đồng dân cư bị băng hoại, mà trong đó
những công dân lao động hăng say chăm chỉ gần như bị tuyệt
chủng. Bởi không như một chế độ độc tài thông thường,
chế độ toàn trị không chỉ đơn thuần là dùng khủng bố
để bám lấy quyền lực (tất nhiên điều này thì nó thường
làm rất tốt) mà còn tạo ra một công nghệ xã hội đạt
được bằng khủng bố. Tất cả mọi mặt trong cuộc sống,
tâm lý của xã hội đều phải tuân theo công nghệ xã hội
này. Chẳng phải vì chúng gây hại cho những kẻ cai trị, mà
vì chế độ toàn trị luôn mong muốn thay đổi đến từng tế
bào của xã hội. Đó là một kiểu "chọn lọc không tự
nhiên" ("unatural selection") với "sự tồn tại của những
phần tử không mạnh khoẻ ("survival of the unfittest" –
ngược với thuyết chọn lọc tự nhiên (natural selection) của
Darwin với sự tồn tại của những phần tử mạnh khoẻ biết
thích nghi (survival of the fittest) – ND). Nhiều kỹ năng và ngành
nghề bị biến mất, sự sợ hãi dường như đã ăn vào Gene.
Chúng ta không nên quên rằng ở Liên Xô đã có ba thế hệ sinh
ra và lớn lên trong chế độ hiện tại, họ được chứng
kiến sự huỷ hoại từ từ đất nước, nền văn hoá, và con
người (đối với các nước xã hội chủ nghĩa khác là khoảng
hai thế hệ). Không giống như ở Hungary hay Trung Quốc, ở Liên
Xô không có nông dân, chỉ có xã viên hợp tác xã trong ngành
nông nghiệp. Thế hệ những người nông dân biết cách tự canh
tác trên đất đai của mình đã chết hết. Đó chính là một
trong những lý do tại sao cuộc cải tổ và tháo dỡ xã hội
chủ nghĩa trong lĩnh vực nông nghiệp có thể thành công ở
Trung quốc, nhưng khó có thể ở Liên Xô.
Không ai có thể biết được chính xác con số những nạn nhân
bị sát hại của chế độ cộng sản ở Liên Xô kể từ cách
mạng tháng 10: 30, 50, thậm chí có thể là 60 triệu, nhưng chắc
chắn con số đủ lớn để gọi bằng từ "diệt chủng". Và
chúng ta cũng không nên quên một lượng khổng lồ những công
dân đã bị giam cầm trong các trại lao động khổ sai, mà ở
đó lao động là cưỡng bức, là theo luật, cho nên mọi lao
động ở đó đối với họ đều là sự trừng phạt. Ngay cả
các điều kiện lao động ở ngoài xã hội cũng không khác mấy
so với lao động cưỡng bức, nó tạo ra những thói quen tương
tự của người lao động.
Bên cạnh đó chính quyền Xô viết luôn tìm cách làm cho dân
chúng thấy rằng họ không thể chiến thắng được chính
quyền toàn trị, không có lối thoát nào ra khỏi cuộc sống
đau khổ hiện tại của họ cả về mặt thể xác lẫn tâm
hồn, không có phương cách cải thiện cuộc sống cho họ kể
cả việc chốn ra nước ngoài. Mọi cố gắng đều bị chế
độ toàn trị làm cho thành vô vọng. Điều này cũng tương tự
như hiện tượng "bất lực do huấn luyện" (learned
helplessness) trong tâm lý học thực hành. Trong đó khi một sinh
vật thí nghiệm bị ngăn cản và trừng trị mỗi khi nó tìm
cách chốn chạy, dẫn đến làm cho sinh vật này lâm vào tình
trạng tâm lý bất lực và không có khả năng tìm cách chốn
chạy ngay cả khi có cơ hội. Sự thật là đã ba thế hệ qua,
người dân Xô viết bị buộc phải nghe và chỉ nghe những
điều giả dối trên các phương tiện thông tin tuyên truyền.
Sự mẫu thuẫn trái nghịch thường xuyên giữa thực tế xã
hội và thông tin tuyên truyền trong quốc gia toàn trị, bản
thân nó, đã có thể tạo ra những cú âp tâm lý ghê gớm, chưa
nói đến những nỗi sợ hãi bất tận, sự nghi kỵ và nỗi
khổ đau.
Hiện trạng con người hiện nay ở Liên Xô (và đúng với tới
một mức độ nào đó với các nước toàn trị khác), không
phải chỉ là thờ ơ và lãnh cảm, mà là suy kiệt về mặt tâm
lý, một sự mệt mỏi thân xác đến tận cùng. Dấu hiệu của
nó được thể hiện ở tỷ lệ trẻ sơ sinh chết cao, tỷ lệ
sinh thấp (số âm ở một số nước công hoà và gần 0 ở Nga),
tuổi thọ trung bình là 60. Một tỷ lệ rất cao trẻ sơ sinh khi
sinh ra đã bị dị dạng cả về thể xác lẫn trí não (6-7% ở
cuối thập niên 70 và nếu ngoại suy đến cuối thập niên 90
con số này sẽ là 15%). Đó là hậu quả của sự ô nhiễm môi
trường và tệ nạn nghiện rượu. Một tài liệu mật bị
đánh cắp và đưa ra ngoài Liên Xô vào năm 1985 đã công bố con
số 40 triệu người được "cấp chứng nhận y tế vì nghiện
rượu", con số ngoại suy cho năm 2000 sẽ là 80 triệu.
Thậm chí ngay cả thiên nhiên cũng đã quá cạn kiệt sau 73 năm
cai trị của chính quyền cộng sản. Không giống như trong các
nước phương Tây, nơi mà ý kiến và phong trào của quần chúng
có thể ngăn không cho các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp gây
ô nhiễm môi trường một cách quá đáng, ở Liên Xô, không có
một lực lượng nào dám đứng ra để đấu tranh với chế
độ toàn trị để bảo vệ môi trường. Bởi vì mệnh đề
"con người bảo vệ thiên nhiên" là quá xa lạ đối với
triết lý của cách mạng. "Chúng ta đừng đợi thiên nhiên ưu
ái, mà hãy lấy sự ưu ái từ thiên nhiên thông qua việc biến
đổi nó" - đấy là một khẩu hiệu phổ biến trong chế độ
xã hội chủ nghĩa, mà ý nghĩa có nó được cho là, nếu điều
kiện cho phép, chúng ta có thể biến quá lê thành quả táo,
biến con gà trống thành ngài bộ trưởng. Sáu mươi năm sau,
cái triết lý đó đã để lại cho đất nước một thảm hoạ
môi trường.
Vào cuối những năm 70, ô nhiễm không khí đã lên cao đến
mức "rất nguy hiểm" ở hơn 1000 thành phố, "mức đe doạ
sức khoẻ" ở hơn 100 thành phố, cao hơn gấp 10 lần so với
mức "nguy hiểm" ở 10 thành phố. Sự tổn hại cho ô nhiễm
không khí và nguồn nước gây ra, theo con số chính thức của
chính quyền Xô viết, là 20 tỷ rúp, và con số này đến năm
1990 có thể là 120 tỷ. Những con sông của Liên Xô mang ra biển
Baltic lượng chất ô niễm cao hơn 20 lần so với sông Rhine (ở
Đức - ND) mang ra biển bắc. Do việc khai khẩn đất đai rất
tốn kém, nên chỉ có 8-12% diện tích đất đai bị phá huỷ do
khai thác hầm mỏ được khai hoang hàng năm. Vậy nên vào cuối
những năm 70 đã có 77,200 dặm vuông đất đai bị phá huỷ vì
khai khoáng mà không được khai khẩn trở lại, hàng năm con số
này được tăng lên 400 dặm vuông.
Lượng đất đai còn bị phá huỷ nhiều hơn nữa với việc
xuất hiện những biển, hồ nhân tạo nhằm phục vụ cho các
nhà máy thuỷ điện. Tổng số diện tích những hồ nhân tạo
kiểu này là 46,320 dặm vuông, kéo theo sự xói mòn đất đai
làm cho 243,180 dặm vuông những vùng đất phì nhiêu, những
đồng cỏ, trở nên gần như không thể canh tác được nữa
(với năng xuất mùa màng bị giảm từ 80 đến 90%). Những dự
án thuỷ điện khổng lồ nói trên không những phá huỷ những
diện tích canh tác phì nhiêu khổng lồ mà còn huỷ hoại cả
những con sông, biến chúng thành những cái đầm hôi thối và
ô nhiễm. Và cuối cùng những trạm thuỷ điện này vẫn không
cung cấp đủ lượng điện cần thiết khi mực nước hạ
thấp. Quá trình bay hơi, việc dùng nguồn nước và việc tưới
tiêu cho nông nghiệp, và sự bành trướng của các ngành công
nghiệp càng làm vấn đề chở nên tồi tệ thêm. Những biển
và hồ tự nhiên Aral, Azov, Caspi có thể sẽ biến mất trong
thế kỷ tới. Hệ sinh thái biển đen đã bị huỷ hoại rất
nhiều và sẽ tiếp tục bị huỷ hoại thêm nữa. Việc thiếu
nước trầm trọng sẽ gây ảnh hưởng đến việc trồng các
cây nông nghiệp và công nghiệp.
Một vấn đề nghiêm trọng nữa là nạn phá rừng bừa bãi.
Ngay cả chính quyền Xô viết cũng thừa nhận rằng diện tích
rừng bị biến mất do con người chặt phá ngang bằng với do
cháy rừng, con số đó là khoảng 100,000 dặm vuông mỗi năm. Và
hậu quả là ngày càng nhiều vùng đất bị xói mòn hay bị
biến thành đầm lầy.
Diện tích đất bị mất bằng cả diện tích của Anh, Pháp,
Italy, Tây Đức, Thuỵ Sỹ, Lucxembua, Bỉ, Hà Lan cộng lại (17).
Phải cần khoảng từ 100 đến 200 năm để phục hồi lại
chúng.
<center>* * *</center>
Kết luận, chúng ta chỉ có thể cố gắng lạc quan hơn. Nếu
con người có thể chịu đựng được sự huỷ hoại, đau khổ,
trầm luân kéo dài đến thế mà không bị hoàn toàn khuất
phục vẫn dám đứng lên vì tự do và phẩm giá, vì sự thật
và sự trung thực, thì họ sẽ chịu đựng được cả giai
đoạn cuối của cuộc khủng hoảng. Nó có thể phải mất một
thế hệ hay hai thế hệ, có thể phải trả một giá rất
đắt, nhưng cuộc đấu tranh giải trừ chế độ toàn trị
phải chiến thắng. Bởi nếu tâm hồn của con người đã sống
sót quá muôn vàn tăm tối, như những ngọn nến không tắt trong
gió, thì nó phải là trường tồn.
Sự im lặng tuyệt đối đã tưởng như là sự phản ứng duy
nhất của nhân dân khi chế độ toàn trị bắt đầu thoái
trào. Nhưng không phải như vậy, từ biển Baltic đến miền núi
vùng Capcadơ, từ sông Danube đến Siberia, những quốc gia thành
phần đã đứng lên đòi lại quyền độc lập dân tộc. Ngay
cả tại Nga, trong những cuộc "bầu cử" gần đây dù đầy
những toan tính, cưỡng bức và dối lừa, lá phiếu của
người dân vẫn cho thấy, Đảng cộng sản đã hoàn toàn bị
nhân dân tẩy chay. Làn sóng lạm phát, đình công đang gia tăng.
Gần đây ngay cả cảnh sát ở Leningrad cũng chuẩn bị đình
công. Nói tóm lại tất cả mọi nơi, mọi người dân đều
đồng thanh lên tiếng: Chúng tôi muốn có dân chủ. Cái họ
muốn không phải thứ "dân chủ xã hội chủ nghĩa" mà là
thứ dân chủ truyền thống cho tất cả mọi người. Không ai
còn có thể ngăn cản được họ nữa.
Vết sẹo do một chế độ toàn trị để lại cho xã hội vừa
sâu vừa lâu dài. Thật bất hạnh cho một quốc gia nào mà
việc nói lên sự thật đã được coi là một hành động anh
hùng, thật nhục nhã cho một quốc gia mà việc nói lên sự
thật bị coi là hành động điên rồ, bởi ở những nơi đó,
những cánh đồng sẽ không thể sản xuất ra bánh mỳ. Thật
thống khổ cho một dân tộc nếu tất cả mọi người đã mất
đi ý niệm về phẩm hạnh, bởi ở đó sẽ chỉ có thể sinh ra
những đứa trẻ què quặt về tâm hồn. Nhưng nếu trong những
xã hội ấy, chỉ cần có một người sống khác đi thì nó sẽ
không bị diệt vong.
Đó là lý do tại sao không bao giờ có thể tìm được một
định nghĩa đầy đủ cho chế độ toàn trị, bởi mức độ
tồi tệ nó gây ra đối với một dân tộc còn hơn cả một
cuộc thảm sát hạt nhân.
___________________________
Về tác giả: <strong>Vladimir Bukovsky</strong> là một nhà bất
đồng chính kiến nổi tiếng người Nga đang sống tại phương
Tây. Ông được xem như là một chuyên gia, một nhà tiên tri
nền kinh tế chính trị Liên Xô đương đại. Sau khi tốt
nghiệp đại học tổng hợp Matxcơva, Bukovsky đã tích cực tham
gia đấu tranh vì quyền con người và đòi tự do cho những tù
nhân chính trị đang bị giam cầm ở Liên Xô. Chính vì vậy ông
nhanh chóng trở thành cái gai trong mắt chính quyền. Trong vòng 14
năm từ năm 21 tuổi đến 34 tuổi, ông đã nhiều lần bị
bắt, bị giam trong các nhà tù, trại lao động khổ sai, và cả
bệnh viện tâm thần. Cuối cùng ông bị trục xuất khỏi Liên
Xô vào năm 1976.
Sau khi rời khỏi Liên Xô, Bukovsky đã học qua các trường
Cambridge và Standford và tham gia nghiên cứu tại khoa tâm lý học
thuộc đại học Standford. Ông là tác giả của nhiều cuốn
sách như: Short Stories of Russian Other Writers (1970), Oposition – Eine
Neue Geisteskrandheit in des USSR (1972); A Manual on Psychiatry for
Dissenters (1974); cuốn tiểu sử tự viết: To Build a Castle: My Life
as a Dissenter (1978); Cette lacininante douleur de la liberte (1981) [Bản
dịch tiếng Anh: "To choose freedom" (1987)]; và The Peace Movement
and the Soviet Union (1982).
____________________________
<h2>Chú thích</h2>
1. Karl Marx, Tư bản luận, tập 1 (nhà xuất bản Maxcơva 1974),
trang 474-475.
2. Trong buổi trả lời phỏng vấn đài Châu âu tự do vào ngày
29-5-1989.
3. Karl Marx, Một đóng góp vào việc phê phán kinh tế chính
trị, Marx & Angels tuyển tập, tập 1 (nhà xuất bản Maxcơva
1973), trang 504.
4. Tư bản luận, trang 454.
5. Tư bản luận, trang 714-715.
6. Tư bản luận, (nhà xuất bản Penguin Books, 1976), trang 129.
7. Phê phán cương lĩnh Gotha, Marx & Angel tuyển tập, tập 2, (nhà
xuất bản Maxcơva 1962), trang 33.
8. Các con số lấy từ cuốn The Statesman's Year-Book: Statistical
and Historical Annual of the State of the World for the Year 1988-1989, nhà
xuất bản Macmillan.
9. Trud, 26-6-1989.
10. V. Selyunin, "Tempy Rosta na Vesakh Potreblenia", Socialisticheskaya
Industria, 5-1-1988.
11. V. Tomashkevich, Socialisticheskaya Industria, 30-8-1988.
12. Kommunist, 11 (1985), trang 22.
13. Tài liệu Novosimbirk, thư viện Samizdat #5042, trang 3.
14. Tài liệu Novosimbirk, thư viện Samizdat #5042, trang 4.
15. Tài liệu Novosimbirk, thư viện Samizdat #5042, trang 4.
16. Novy Mir, #1, 1989.
17. Boris Komarov, Sự huỷ hoại thiên nhiên ở Liên Xô, (White
Plains: Sharpe 1980).
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/14183), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét