Trương Nhân Tuấn - Cẩn trọng về hiệu lực pháp lý của các bản đồ

<div class="special_quote"><em>Nhân nói chuyện về hiệu lực pháp
lý của các bản đồ.</em></div>
<div class="boxright200"><img
src="http://images1.tuoitre.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=578553"
/><div class="textholder">Tấm Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn
đồ xuất bản năm 1904 không có Hoàng Sa, Trường Sa</div></div>
Dư luận Việt Nam hiện nay đang xôn xao về <a
href="http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/503071/Ban-do-Trung-Quoc-1904-khong-co-Hoang-Sa-Truong-Sa.html">tấm
bản đồ nước Trung Hoa xuất bản năm 1904</a>, dưới thời nhà
Thanh, mang tên "Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ".
Bản đồ này vẽ lãnh thổ của Trung Quốc năm 1904 không có
các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi người vui mừng cho
rằng đó là một bằng chứng rõ rệt chứng minh các quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc Trung Quốc.

Theo tôi, không có điều gì chắc chắn để vui mừng hết. Giả
sử phía Trung Quốc đưa ra các bản đồ sau đây:

1/ Bản đồ thế giới do Bộ Tổng tư lệnh Quân đội
Nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1960. "Trên bản đồ này,
quần đảo Nam Sa (Trường Sa) được đánh dấu là lãnh
thổ Trung Quốc."

Nguồn: <a
href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/08/110803_china_viet_islands.shtml">VN
công nhận chủ quyền của TQ? (BBC)</a>

2/ Cục Bản đồ của Việt Nam xuất bản tấm bản đồ
năm 1972, trong đó quần đảo Nam Sa được chú thích bằng
tiếng Hoa, chứ không phải bằng tiếng Việt, tiếng Anh hay
tiếng Pháp."

Nguồn: <a
href="http://www.bjreview.com.cn/world/txt/2011-08/01/content_380478.htm">Still
Arguing (BeijingReview.com.cn)</a>

Nếu hai tấm bản đồ này có thật, lúc đó phản ứng mọi
người sẽ ra sao? Không lẽ bó tay chấp nhận Hoàng Sa và
Trường Sa thuộc Trung Quốc?

Nếu không lầm, bản đồ 1904 của Trung Hoa, lãnh thổ nước
này bao gồm nước Mông Cổ hiện nay. Nếu ta đi ngược thời
gian xa hơn, các bản đồ nước Trung Hoa cũng không hề chú dẫn
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng trong vài bản đồ
lãnh thổ nước này bao gồm nước Việt Nam. Không lẽ phía
Trung Quốc trưng tấm bản đồ này thì phải công nhận Việt
Nam thuộc Trung Quốc?

Điều may là các tấm bản đồ thường không có giá trị
quyết định trên quan điểm pháp lý.

Thật vậy, theo thông lệ công pháp quốc tế, <em>"bản
đồ"</em> tự nó thường không được nhìn nhận như là một
<em>"bằng chứng"</em> mà chỉ được xem như là một <em>"tài
liệu - information"</em>, để bổ túc thêm cho một <em>"lý lẽ -
argument"</em>, hay để khẳng định một <em>"thái độ"</em> nào
đó của một bên tranh chấp.

Tấm bản đồ do Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân
Việt Nam xuất bản năm 1960 và tấm do Cục Bản đồ của
Việt Nam xuất bản tấm bản đồ năm 1972 tự nó không có
giá trị pháp lý, (cũng như tấm bản đồ 1904 của nhà Thanh),
nhưng nếu vấn đề tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa được
đưa ra một tòa án quốc tế để phân giải, chắc chắn các
tấm bản đồ này sẽ được phía Trung Quốc sử dụng nhằm
vào việc làm rõ ý kiến của phía Việt Nam (nhìn nhận Hoàng
Sa và Trường Sa thuộc Trường Sa) qua tuyên bố đơn phương 1958
(thể hiện qua tấm công hàm của ông Phạm Văn Đồng).

Nhiều vụ án về tranh chấp lãnh thổ do Tòa Án Công lý Quốc
Tế (CIJ) phân xử, đa số các trường hợp các bản đồ
được các bên trưng dẫn thì không được xem như là <em>"bằng
chứng"</em> vì chúng không có tác động trực tiếp đến quyết
định của các quan tòa. Yếu tố quyết định cho phán quyết
của tòa luôn là <em>"thái độ"</em> của nhà nước đối với
vùng lãnh thổ tranh chấp.

Một tấm bản đồ có giá trị pháp lý chỉ khi nó được
đính kèm với các văn bản của một hiệp đinh phân định
biên giới. Dĩ nhiên hiệp ước này phải còn hiệu lực (do
việc không có hiệp ước nào khác ký kết sau này thay thế).
Tuy vậy, nhiều trường hợp lịch sử cho thấy nhiều tấm bản
đồ phân định biên giới đã không phù hợp với nội dung
của công ước. Trong trường hợp này, theo thông lệ quốc tế,
văn bản có hiệu lực <em>"cao"</em> hơn bản đồ. Một số
trường hợp khác, bản đồ phân định, cũng như nội dung văn
bản, cả hai đều không phù hợp với địa hình trên thực
địa. Như trường hợp phân định biên giới giữa Pháp và nhà
Thanh biên giới giữa Bắc Kỳ và các tỉnh Hoa nam năm 1887, hầu
hết nội dung các biên bản phân định cũng như các bản đồ
đính kèm đều không phù hợp với địa hình trên thực tế
(xem thêm phần tham khảo). Trường hợp này, các công trinh phân
giới sau này (1888-1897) cùng với bộ bản đồ vẽ trên kết
quả cắm mốc, mới có giá trị thực sự. Tuy vậy, trong các
hồ sơ chính thức hiện nay được lưu trữ trong các thư viện
thế giới, đường biên giới Việt Trung 1887 chỉ thể hiện qua
3 trang mô tả sơ sài cùng với các bản đồ (hoàn toàn sai)
đính kèm. Vì thế nhiều học giả trên thế giới đã có nhận
định sai trong các công trình nghiên cứu vì chỉ dựa trên nội
dung của công ước mà không tham khảo tài liệu giai đoạn phân
giới.

Trường hợp đặc biệt cũng nên nói lại sau đây, là tranh
chấp hai nước Thái Lan và Kampuchia về chủ quyền ngôi đền
Preah Vihear. Nguyên nhân tranh chấp là tấm bản đồ đính kèm
công ước vẽ không đúng với nội dung công ước. Theo tấm
bản đồ (vẽ sai) này, ngôi đền thuộc về lãnh thổ Kampuchia
trong khi nội dung văn bản xác định đường biên giới là
đường phân thủy của một rặng núi. Trên tinh thần đó ngôi
đền phải nằm trên lãnh thổ Thái Lan. Nội vụ tranh chấp
được đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế (CIJ). Lý ra, hiệu lực
nội dung văn bản có giá trị cao hơn bản đồ, tức ngôi đền
phải thuộc về Thái Lan, nhưng vì thái độ của nhà nước
Thái Lan (về ngôi đền) trong nhiều thời kỳ đã khiến quan
tòa phán quyết chủ quyền ngôi đền Preah Vihear thuộc về
Kampuchia. Xét thấy trường hợp này (thái độ của nhà nước
Thái) khá trùng hợp với thái độ của nhà nước VNDCCH và
CHXHCNVN về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường
Sa, người viết dẫn ra đây vài đoạn để mọi người cùng
suy nghĩ cho tình trạng tranh chấp lãnh thổ giữa đất nước
mình với Trung Quốc hầu kịp thời tìm kiếm một phương án
giải quyết.

Tranh chấp hai bên Thái - Miên về ngôi đền Preah Vihear được
đưa ra Tòa án Quốc tế ngày 6 tháng 10 năm 1959. Vụ án có mã
số CIJ 65.

Vụ xử ngôi đền Preah Vihear xảy ra ngày 15 tháng 6 năm 1962.
Những đoạn quan trọng được ghi lại như sau (nguồn CIJ):

<div class="special_quote">Ngôi đền cổ Preah Vihear ở trong tình
trạng hoang phế, tọa lạc trên một mỏm núi thuộc rặng
Dangrek. Rặng núi này là biên giới giữa hai nước Thái Lan và
Cambodge. Tranh chấp có nguyên nhân từ việc phân định biên
giới bắt đầu từ năm 1904 đến năm 1908 giữa nước Pháp,
đại diện Đông Dương, và nước Xiêm. Việc phân định này
dựa lên công ước ngày 13 tháng 2 năm 1904. Công ước này đã
thiết lập một cách tổng quát hướng đi đường biên giới.
Đường này được xác định cụ thể bởi một ủy ban phân
định hỗn hợp Pháp-Thái.

Ở khu vực có ngôi đền Preah Vihear, (theo nội dung công ước)
đường biên giới phải theo đường phân thủy. Ngày 2 tháng 12
năm 1906, một ủy ban hỗn hợp ra thực địa xác định đường
phân thủy. Từ tháng giêng – tháng hai năm 1907, ủy ban Pháp
đã báo cáo lên chính phủ của họ rằng đường biên giới
đã hoàn toàn được phân định.

Việc cuối cùng của công trình phân định là vẽ bản đồ
đính kèm. Nhà nước Xiêm, vì không có phương tiện lỷ thuật,
đã yêu cầu nhân sự phía Pháp để thành lập các bản đồ
vùng biên giới. Các bản đồ đã được một ê kíp người
Pháp hoàn tất vào mùa xuân năm 1907. Một tấm bản đồ của
công trình này được giao cho nhà nước Xiêm, theo đó đền
Preah Vihear nằm trên lãnh thổ Khmer.

Tấm bản đồ đính kèm nói trên chưa bao giờ được công
nhận bởi ủy ban hỗn hợp. Vì Ủy ban này đã ngừng hoạt
động trước khi bản đồ được thiết lập. Tòa cho rằng,
nguyên thủy, tấm bản đồ này không có tính bắt buộc. Nhưng
trong hồ sơ phân định, bộ bản đồ đã chuyển lên chính
phủ Thái như là kết quả của công trình phân định biên
giới. Nhà cầm quyền Thái đã không có phản ứng nào (về các
tấm bản đồ này) từ thời kỳ đó, cũng không có phản ứng
nào trong nhiều năm sau. Do đó phải kết luận rằng nó đã
được sự chấp nhận chính phủ Thái. Nếu phía Thái đã chấp
nhận tấm bản đồ đính kèm mà không làm các cuộc nghiên
cứu, thì bây giờ họ không thể vịn vào lỗi lầm này để
làm vô hiệu điều mà họ đã chấp thuận.

Nhà nước Xiêm, sau đó là Thái Lan, chưa bao giờ đặt vấn
đề về bản đồ đính kèm trước năm 1958, là lúc hai bên
Thái và Cambodge đã mở những cuộc thuơng thảo về chủ quyền
ngôi đền. Trong khi đó, vào các năm 1934-1934, một cuộc trắc
địa đã cho thấy có sự khác biệt giữa đường phân thủy
trên thực tế và đồ tuyến biên giới trên bản đồ. Một
số bản đồ khác đã được thiết lập, trong đó đặt ngôi
đền thuộc lãnh thổ Thái Lan. Nhưng phía Thái Lan vẫn tiếp
tục sử dụng, thậm chí in ra, những tấm bản đồ theo đó
ngôi đền Preah Vihear thuộc về phía Cambodge. Mặt khác, trong
khoảng thời gian thuơng thuyết về hiệp ước Pháp - Xiêm 1925
và 1937, mà các hiệp ước này khẳng định hiệu lực của
đường biên giới. Hay là vào năm 1947, trước ủy ban hòa giải
Pháp - Xiêm tại Washington, đáng lẽ phía Thái đã đặt lại
vấn đề chủ quyền ngôi đền, thì họ đã không làm gì cả.

Kết luận lại, như thế Thái Lan đã chấp nhận đường biên
giới như đã vẽ trong bản đồ, cho dầu nó có phù hợp hay
không phù hợp với đường phân thủy của rặng Dangrek.

Vì vậy, Tòa cho rằng, trong vùng tranh chấp, đường biên giới
là đường xác định trên bản đồ và sẽ không cần thiết
để tìm hiểu là đường biên giới này có phù hợp với
đường phân thủy hay không. </div>

Trở lại trường hợp Việt Nam. Ở đây ta thử so sánh thái
độ của nhà nước Thái về chủ quyền ngôi đền Preah Vihear
đã được tòa CIJ phân tích ở trên với thái độ của nhà
nước VNDCCH (và các nhà nước kế thừa) về chủ quyền của
hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
<div class="boxright200"><img
src="http://danluan.org/files/u1/sub01/8095fecde308d6edae8182673a4d659b7898cd13.jpg"
/><div class="textholder">công hàm 1958 của chính phủ VNDCCH do thủ
tướng Phạm Văn Đồng ký</div></div>

Ta thấy nhà nước VNDCCH đã mặc nhiên đồng thuận chủ quyền
của Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua
các động thái:

<strong>1/</strong> Tuyên bố đơn phương qua công hàm 1958 của
Phạm Văn Đồng. Tuyên bố này ủng hộ <em>"Tuyên bố về hải
phận 12 hải lý của Trung Quốc"</em>, trong đó mặc nhiên nhìn
nhận việc <em>"ủng hộ"</em> hải phận 12 hải lý của các
đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa. Tức mặc nhiên nhìn nhận
chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc.

<strong>2/</strong> Các bài báo trên Nhân Dân khẳng định chủ
quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa. Các bản đồ
của các cơ quan trực thuộc nhà nước VNDCCH (như hai tấm bản
đồ dẫn trên) xác định chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng
Sa và Trường Sa.

Trên phương diện pháp lý, các bài báo trên Nhân Dân hay các
bản đồ của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt
Nam hay của Cục Bản đồ của Việt Nam đều không có giá
trị pháp lý. Nhưng ở đây chúng có giá trị của <em>"tài
liệu – information"</em> nhằm làm sáng tỏ nội dung tuyên bố
đơn phương 1958 của Phạm Văn Đồng. Đối với công pháp
quốc tế, các tuyên bố đơn phương có giá trị ràng buộc.

Mặt khác, nhà nước VNDCCH đã <em>"im lặng"</em> trước tuyên
bố <em>"chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc tại
Hoàng Sa"</em> vào tháng giêng năm 1974, vài ngày trước khi dùng
vũ lực xâm lăng Hoàng Sa. Nhà nước VNDCCH cũng im lặng sau đó
khi Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm Hoàng Sa. Theo thông lệ
quốc tế, hành động (xâm lăng Hoàng Sa của Trung Quốc) đòi
hỏi hai miền Việt Nam phải có một thái độ. VNCH đã lần
lượt biểu lộ nhiều động thái quan trọng nhằm phản đối
hành động của Trung Quốc đồng thời khẳng định chủ quyền
của Việt Nam tại Hoàng Sa trước các diễn đàn quốc tế.
Thái độ im lặng của nhà nước VNDCCH có thể so sánh với sự
<em>"im lặng"</em> lâu dài của nhà nước Thái về tấm bản
đồ vẽ sai. Đó là sự im lặng <em>"mặc nhiên đồng
thuận"</em>.

Ta thấy vấn đề chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và
Trường Sa phức tạp và khó khăn hơn trường hợp của Thái
về ngôi đền Preah Vihear. CHXHCNVN, nhà nước kế thừa của nhà
nước VNDCCH, phải đối diện cùng lúc hai yếu tố pháp lý: 1/
tuyên bố đơn phương và 2/ mặc nhiên đồng thuận chủ quyền
của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Chỉ cần một trong hai yếu tố này đủ để Việt Nam mất
chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Bộ Luật Biển 2012 của Việt Nam vừa công bố xác nhận chủ
quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
là một điều đúng và cần thiết. Bộ Luật này cũng xác
nhận hiệu lực hải phận các đảo của Việt Nam đúng theo
tinh thần Luật Quốc tế về Biển, cũng là một điều đúng
và cần thiết. Đúng vì nó phù hợp với thực tế và lịch
sử. Cần thiết vì nó làm gạch nối cho thế hệ tương lai.
Nhưng nó chỉ có hiệu lực thực sự khi mà Trung Quốc từ bỏ
chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa (qua một trọng tài phân
xử).

Với một hồ sơ như thế người ta không ngạc nhiên khi nhà
nước CSVN không dám đề nghị đưa tranh chấp Hoàng Sa và
Trường Sa ra trước một trọng tài phân giải. Trong khi đó,
với khả năng về quốc phòng đang lên, Trung Quốc có thể
chiếm các đảo Trường Sa còn lại đang ở trong tay Việt Nam
đồng thời dành phần lớn thềm lục địa và vùng biển
Việt Nam theo bản đồ chữ U. Việc <em>"ngư dân"</em> TQ hiện
nay một lúc 30 chiếc thuyền, cùng với các tàu hộ vệ của
hải quân TQ, đang hoành hành đánh bắt hải sản ở các đảo
thuộc Trường Sa làm người ta liên tưởng đến những ngày
tháng giêng năm 1974, lúc sắp đánh Hoàng Sa. Ở đây, trước khi
đánh, <em>"ngư dân"</em> Trung Quốc đổ bộ lên các đảo. Khi
hải quân VNCH can thiệp thì hải quân Trung Quốc ra tay <em>"bảo
vệ"</em>. Rất cỏ thể Trung Quốc sẽ lập lại phương pháp
cũ.

Lúc đó, với một hồ sơ như thế, Việt Nam vô phương đòi
lại Trường Sa (chứ đừng nói Hoàng Sa). Với sức mạnh và
nhiều tiền trong tay, Trung Quốc muốn hoạch định biển với
Việt Nam thế nào lại không được?

Vấn đề vì thế, cấp bách, là phải làm các thủ tục để
kế thừa di sản VNCH để có một thế đứng chính thống
trước quốc tế. Hiện nay chưa có nước nào chính thức công
nhận chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa (kể
cả Pháp). Với một hồ sơ như thế thì ai mà công nhận?


<strong>Trương Nhân Tuấn</strong>

______________________________________________


<strong>Xem thêm:</strong>

- <a
href="http://blog.yahoo.com/_I66R5T4RFJ5LH5KE4IOX6IW264/articles/235436/index
">Tìm hiểu nguyên nhân mất đất Tụ Long vào tay Trung Quốc qua
các hiệp định Pháp-Thanh về biên giới 1887 và 1895</a>
- <a
href="http://blog.yahoo.com/_I66R5T4RFJ5LH5KE4IOX6IW264/articles/235425/index
">Biên giới tỉnh Hải Ninh. Nguyên nhân Việt Nam mất huyện
Giang Bình và đất thuộc hai tổng Kiến Duyên và Bát Tràng
thuộc tỉnh Hải Ninh.</a>
- <a
href="http://blog.yahoo.com/_I66R5T4RFJ5LH5KE4IOX6IW264/articles/235391/index">Thử
tìm hiểu tranh chấp Thái-Miên về ngôi đền Preah Vihear</a>
- <a
href="http://blog.yahoo.com/_I66R5T4RFJ5LH5KE4IOX6IW264/articles/235331/index">Lịch
sử tranh chấp chủ quyền "l'enclave Pak-lung" cùng các đảo
Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu trong vịnh Vạn Xuân</a>
- <a
href="http://blog.yahoo.com/_I66R5T4RFJ5LH5KE4IOX6IW264/articles/235329/index">Tìm
hiểu đường biên giới Việt-Trung: Lào Cai</a>




***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/13587), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét