(NCTG) "Lũ nhà báo bây giờ sau này kể lại cho con cháu nghe
chuyện làm báo của mình thời nay, sợ rằng không được đẹp
như thế. Nó thảm hại hơn nhiều, lố bịch hơn nhiều, hèn
nhát hơn nhiều…" – chia sẻ của nhà báo Đoan Trang.
<center><img
src="http://nhipcauthegioi.hu/uploads/2007/images/1340055224.nv.jpg"
/></center>
<center><em>Cưỡng chế ở Vân Giang, một trận "thử lửa"
đối với báo chí Việt Nam - Minh họa: Internet </em></center>
- Liệu bài có được đăng không?
- Không biết… nhưng hy vọng là ổn. Anh TBT đã bảo là
"<em>có gì sẽ trao đổi với phóng viên trực tiếp trong ngày
hôm nay</em>". Tinh thần chỉ là sửa bớt những chỗ quá cụ
thể, còn thì sẽ đăng và phải đăng.
- Ái chà chà. Thế cơ à?
- Vì ảnh bảo, có những lúc, nếu chúng ta không nói, sẽ là
có tội. Sau này về già, còn mặt mũi nào nhìn con cháu mà chém
gió: "<em>Ngày xưa ông làm báo thế đấy!</em>".
- Quá chuẩn! Thế mới là TBT chứ! Sao anh "tổng" nhà tôi
không được như thế?
- Há há, lêu lêu…
- Sướng nhỉ? Đang nghĩ là nếu bài được đăng, bà con bên
Văn Giang sẽ mừng lắm đây. Nhớ mua lấy mấy chục tờ mang
về biếu bà con.
- Ấy, đừng vội mừng sớm... Nói thế chứ vẫn lo lắm. Đã
đăng đâu, mới là "sẽ đăng" thôi. Mà đưa một bài lên,
bị thổi còi ngay chẳng hạn, là xong…
<center>* </center>
"<em>Ngày xưa ông làm báo thế đấy!</em>".
Mô típ "<em>chúng ta nói gì với con cháu chúng ta</em>" hẳn
là đã được sử dụng nhiều trong văn học, sách báo, phim
ảnh. Như nhà văn Phan Tứ (1930-1995) viết trong tiểu thuyết
nổi tiếng "Mẫn và tôi" về tình yêu thời chiến tranh:
"<em>Bầy cháu nội ngoại sẽ nghe tôi kể: "Ông gặp bà
giữa hồi núi sụp rầm rầm, nước dâng như chưa hề ghi trong
sử sách…". Chúng cười khì, tưởng tôi mượn chuyện thời
vua Hùng. (…) Đành vậy, lớn lên chúng sẽ biết, sẽ nhớ.
Tôi phải giúp chúng nhớ. Đừng để những bông hoa mai sau tự
rứt mình ra khỏi cây vì không muốn dính dáng với bầy rễ
cắm vào bùn</em>".
"<em>Đánh Chu Lai, chắc Mẫn lại kẹp cácbin đưa các anh đặc
công lội trắng đêm trên cát và đời nào em tôi chịu vắng
bóng trong đợt pháo hoa cuối cùng. Tôi chia lửa cho Mẫn là
phải, riêng tây gì đâu. Phải không em, Mẫn, dù anh đi khắp
chân trời góc biển, mỗi lần ra trận chúng mình lại gặp
nhau; có phải lúc này em đang quấn quít bên anh, em gần đến
nỗi anh chỉ đẩy ngón tay đặt nên tim là nghe ngay tiếng
người thương rủ rỉ trong tai, kể rằng quê ta thắng Mỹ rất
ngon, và hai đứa mình là bông bạc vẫy hai ngón giữa
dòng?</em>".
Nghe nhà văn viết những dòng thủ thỉ, thấy tình yêu của hai
nhân vật chính – Mẫn và Thiêm – sao mà đẹp đến lý
tưởng. Đúng là cuốn tiểu thuyết "<em>một thời khuấy
động hàng triệu con tim</em>", cũng chẳng khác gì "<em>những
nhạc phẩm lừng danh của Trịnh Công Sơn</em>", "<em>đầy
phẫn nộ, khát khao cho một niềm hy vọng chung của cả dân
tộc"</em>… (*)
Lũ nhà báo bây giờ sau này kể lại cho con cháu nghe chuyện làm
báo của mình thời nay, sợ rằng không được đẹp như thế.
Nó thảm hại hơn nhiều, lố bịch hơn nhiều, hèn nhát hơn
nhiều…
<center>* </center>
Nó là câu chuyện của những nhà báo hễ xuất hiện ở điểm
nóng nào là chỉ đi cùng "<em>lực lượng chức năng</em>",
áo nhiều túi, máy ảnh trước ngực, vẻ mặt nghiêm trọng.
Cũng là câu chuyện của những phóng viên về Văn Giang lúc xế
chiều để chứng kiến một cánh đồng tung tóe, cây cối đổ
nát nghiêng ngửa. Dân quê thấy người lạ vào, chẳng ai buồn
ngẩng lên, vẫn cắm cúi đào bới, nhặt nhạnh, xúc, đổ
đất… Nhưng đến khi thấy "người lạ" lúi húi lấy máy
ghi âm, sổ và bút ra, thì họ vây lấy thẫn thờ: "<em>Sao
đến giờ nhà báo mới về? Mất rồi. Mất hết rồi!</em>".
Rồi họ nhất định kéo nhà báo vào nhà, để họ pha trà,
mời nước, và nghe họ kể lể chuyện "mất hết rồi".
Hàng xóm lục tục kéo đến, người nào cũng phải xán lại,
nhìn, chạm tay vào áo khách một cái, khẩn khoản: "<em>Nếu
nhà báo giúp được chúng tôi đòi lại được đất, thì chúng
tôi mang ơn nhà báo suốt đời</em>". Màn đêm buông xuống,
trai tráng trong làng rầm rập đưa xe máy hộ tống nhà báo về.
Người dân nông thôn bao giờ cũng là vậy, họ có thể khôn
ngoan hay thực dụng, nhưng vẫn có cái hồn hậu chất phác –
nên không để ý thấy nhà báo đang cúi gằm mặt, lủi thủi
rời khỏi hiện trường.
Và từ ấy, ngày nào họ cũng ngong ngóng ra bưu điện huyện,
chờ xem có báo nào đưa tin, viết bài "về xã mình" không.
Những mảnh báo hiếm hoi nhắc đến vụ việc của làng họ
được photocopy ra hàng chục bản, và truyền tay nhau nhiều quá,
đã nát ra rồi…
<center>* </center>
Họ không nhìn thấy cảnh nhà báo phóng xe máy rời làng, đầu
cúi gằm. Họ cũng không biết đến chuyện, có những lần, nhà
báo về làng khi trời vẫn còn chưa tối. Trên đường đi,
dưới ánh hoàng hôn, cây lá trong vùng vẫn xanh biếc như thế,
triền đê vẫn mườn mượt cỏ, gió vẫn lồng lộng, và nhà
báo dở hơi bỗng nghĩ tới lời thề của danh tướng Trần
Quốc Tuấn thời xưa: "<em>Chuyến này không phá xong giặc
Nguyên, quyết không về bến sông này nữa</em>". Thì chúng
cháu cũng vậy, Hưng Đạo Đại Vương ơi! Chúng cháu cũng muốn
đứng trên đê, nhìn xuống cánh đồng xanh mượt mà thề:
"Chuyến này không đăng được bài, quyết không về chốn này
nữa". Nhưng nói vậy thôi, chúng cháu sao dám gở miệng như
thế - vì chúng cháu hiểu, sẽ còn nhiều, rất nhiều những
vụ cưỡng chế đất đai, những bạo lực, đổ máu, hận thù,
bất mãn… mà nếu còn nghĩ tới chuyện làm báo thì còn phải
chứng kiến, và viết. Không ở đây thì cũng ở nơi khác mà
thôi.
Những người dân quê chất phác. Họ chẳng biết gì tới sự
căng thẳng của ban biên tập, nỗi dằn vặt của phóng viên.
Họ cũng chẳng biết đến Internet, cùng những cuộc cãi vã xô
xát trên đó, bảo rằng họ tham lam, đã nhận tiền rồi nay
thấy ít nên lại đòi tăng, rằng họ bất mãn nên bị bọn
phản động lợi dụng, rằng cưỡng chế đất đai là việc
không thể tránh khỏi trên con đường phát triển của Việt Nam
(chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp sang công
nghiệp và dịch vụ, tóm lại là "công nghiệp hóa, hiện
đại hóa").
Họ càng không biết tới Hiến pháp, tới bài toán phát triển
kinh tế của đất nước – toàn những thứ vĩ mô đến thế.
Họ chỉ biết vào cái buổi sáng hôm ấy, hàng chục xe cam
nhông, xe tải chở lính, đã "bò như cua" vào thôn làng họ,
và , họ bị xô đẩy, dồn ra ngoài cái mảnh đất cho đến
rạng sáng vẫn còn là của họ trong tiếng loa oang oang nhắc
nhở: "Không phận sự miễn vào". Không chống lại được
thì họ cự lại, phản ứng, họ chửi, khóc, ngồi bệt, rồi
lăn cả ra đấy, uất ức như những đứa trẻ bị cướp đồ
ăn.
Lúc ấy, ai còn dám lý luận với họ về những vấn đề cao
siêu, ví dụ, về sự cần thiết phải chuyển đổi mục đích
sử dụng đất?
Nhưng nếu đặt câu hỏi ngược lại, rằng giả sử cuộc
cưỡng chế diễn ra căng thẳng và khốc liệt, rồi một nhân
viên công vụ bị đánh trọng thương, máu me be bét, lực
lượng cưỡng chế buộc phải rút lui trong thất bại, thì có
ai vui mừng hả hê với chiến thắng của "phe nhân dân"
không? Câu trả lời, với những người làm báo nghiêm túc, sẽ
là không. Đơn giản bởi vì người ta ai cũng xương cũng thịt.
Ai cũng là tinh cha huyết mẹ mà thành.
Báo chí không thể ủng hộ, cổ vũ bạo lực dưới bất kỳ
hình thức nào. Một điều mà các nhân viên an ninh "ít chữ"
rất hay muốn làm rõ là "Anh/chị viết bài vì động cơ
gì?". Họ không hiểu rằng với nhà báo, sự thật là tối
thượng, và nếu có thể gọi đấy là "động cơ", thì nhà
báo chỉ có thể có động cơ duy nhất là phản ánh sự thật.
Đôi khi, một nhà báo viết hết, phản ánh hết – đúng 100% -
những gì một bên đưa ra (ý kiến, bằng chứng…), mà vẫn là
không chấp nhận được. Bởi vì như vậy là không đủ khách
quan, công bằng: Mọi bên đều phải có cơ hội thể hiện quan
điểm như nhau.
Nếu dân sai thì ngay cả có bị dí súng vào đầu bắt viết
"vu vạ" cho công an, người làm báo cũng không viết. (Ở
đây, phải giới hạn là không phải tất cả các nhà báo đều
như nhau, ngoài ra, nhiều khi họ không viết xấu về chính
quyền không phải vì tôn trọng sự thật khách quan, mà là vì
không đủ bằng chứng, hoặc vì sợ bị trừng trị). Ngược
lại, nếu chính quyền sai thì dù có cố đến đâu cũng khó
lòng bênh nổi.
Ai đó đã nói về "chiến dịch" đưa tin của báo chí trong
và sau các vụ Tiên Lãng, Văn Giang như sau: "Một cuộc vật
lộn để được nói sự thật". Thực tế còn hơn thế nữa:
Một cuộc vật lộn để được biết sự thật, để được
viết sự thật, và để được khách quan (tất nhiên cũng chỉ
dám mong ở mức độ tương đối). Thế mà, cho đến giờ, cái
đích ấy vẫn chưa đạt được.
<center>* </center>
37 năm sau ngày thống nhất đất nước. Hơn nửa thế kỷ sau
cải cách ruộng đất. 67 năm sau ngày thành lập nước. Sáu
thế kỷ sau thời kỳ tích lũy tư bản nguyên thủy ở phương
Tây. Bước vào thời đại toàn cầu hóa, hội nhập, ở Việt
Nam, vẫn còn diễn ra những cuộc cưỡng chế đất đai nhốn
nháo, tiếng la hét chửi bới của dân lẫn trong khói hơi cay và
tiếng oàng oàng chói tai của "quả nổ nghiệp vụ".
Tệ hơn nữa là chuyện ấy lại diễn ra cùng với đây đó
những mệnh lệnh (miệng) yêu cầu báo chí "hạn chế đưa
tin", và những cuộc tranh cãi ầm ĩ, đầy ngụy biện, trên
mạng, về quan tham, dân gian và bọn báo chí lề phải, blogger
lề trái ngu dốt, phản động.
"<em>Ngày xưa ông làm báo thế đấy</em>".
Đoan Trang
<em><strong>Ghi chú: </strong></em>
(*) Lời giới thiệu album "Sơn Ca 7" của Khánh Ly.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12995), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét