Xích Tử - Nông dân và nông thôn là đối tượng bị đánh tàn bạo nhất trong cách mạng “xã hội chủ nghĩa” Việt Nam

Lời phát biểu bế mạc của Tổng bí thư cùng với Thông báo
của BCH TƯ về Hội nghị lần thứ 5 hoàn toàn thống nhất
với lời phát biểu khai mạc của người đứng đầu Đảng
CSVN định hướng cho kết quả của một chương trình nghị sự
được dự báo: Thận trọng trong việc sửa đổi Hiến pháp vì
đây là chuyện <em>"nhạy cảm"</em>, không bỏ Điều 4 vì
như vậy là <em>"tự sát"</em>, duy trì khái niệm nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa không tam quyền phân lập do
đảng cộng sản lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện, không
phục hồi chế độ tư hữu về đất đai và không có việc
đòi lại đất đã bị cưỡng đoạt, xử lý trong lịch sử
pháp luật ở lĩnh vực này.

Phản ứng chính sách này của đảng là tất nhiên trong chuỗi
động thái phòng vệ, tự bảo vệ, chống sự rối loạn dẫn
đến mất quyền lãnh đạo đất nước và các đặc quyền
thực tế khác được tạo nên do quyền lãnh đạo đó. Sự
khẳng định đó không chứng minh thêm gì về đổi mới tư duy,
về tầm trí tuệ, về sự phát triển của văn minh chính trị,
chân lý chính trị, mà chỉ là biểu hiện của sự đuối lý,
của thế thua, của sự bảo thủ. Bằng mọi giá, đảng phải
níu giữ quyền lãnh đạo thông qua các công cụ trấn áp bạo
lực và một hệ thống luật pháp ngày càng có tính cai trị
chuyên chế, ngày càng tạo ra và được tạo ra trong quan hệ
bất bình đẳng giữa chính đảng nắm quyền lực, nhà nước
do chính đảng đó lập nên với quảng đại nhân dân đến
mức mâu thuẫn chín muồi cho một tình thế cách mạng theo tiêu
chuẩn cổ điển. Cũng bằng mọi giá, đảng cố duy trì hiện
trạng chính trị, có điều chỉnh ngoại vi để hoãn binh chi
kế và đẩy những mâu thuẫn tiềm ẩn đó cho các thế hệ
sau, trong đó con cháu của các vị chóp bu vẫn là người cầm
quyền.

Biểu hiện ngoan cố chính trị đó là kết quả của một
chuỗi diến biến lịch sử nắm quyền lãnh đạo không quang
minh chính đại, không chính thống của đảng. Trong giai đoạn
1930 – 1945, đảng đã dùng chiêu bài đấu tranh giai cấp,
chống bóc lột, bất công, vẽ ra một thiên đường hạ giới
với người cày có ruộng, công nhân không bị tư bản bóc
lột, mọi người tự do, xã hội dân chủ…kết hợp với
chống thực dân giành độc lập để thu hút, tập hợp,tổ
chức lực lượng (cách nói hoa mỹ của sự lừa phỉnh) tiến
đến việc sử dụng bạo lực với sự hỗ trợ của nước
ngoài để cướp chính quyền tháng 8/1945.

Từ 1945 đến 1976, suy cho cùng, đảng đã sử dụng, lợi dụng,
vận dụng cuộc chiến tranh giải phóng, giành độc lập như
một công cụ bạo lực để áp đặt mô hình chính trị xã
hội chủ nghĩa lên một nửa, rồi cả đất nước, để xây
dựng và củng cố nền chuyên chính <em>"vô sản"</em> với
toàn bộ thiết chế quyền lực, chính quyền, kinh tế, văn hoá,
tư tưởng, tôn giáo…, điều chỉnh cả đời sống vật chất
và tinh thần của dân tộc, điều chỉnh cả lịch sử và
cưỡng chế niềm tin cũng như sự hình dung của nhân dân về
mô hình đất nước trong tương lai. Tất cả sự thiết lập
ấy đều được tạo ra từ mũi súng.

Chỉ riêng chuyện đất đai, nông dân, và nông thôn, qua toàn
bộ tiến trình đó, đã cho thấy sự thất bại của cuộc cách
mạng, nếu hiểu cuộc cách mạng đó là thành tâm, hoặc có
thể là một sự phản bội, nếu nhìn cuộc cách mạng như một
thứ vận động chính trị cơ hội chủ nghĩa, một kiểu lừa
đảo lịch sử. Người nông dân, nông nghiệp, nông thôn là
đối tượng bị đối xử tàn bạo nhất trong cách mạng. Đến
thời điểm này, khi phải điều chỉnh bằng chính sách đổi
mới, xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, người nông dân xem như mất sạch, và nông thôn trở
thành gánh nợ bị phân biệt đối xử.

Từ năm 1930, khi khởi mào cho những câu hát ru cách mạng, có
những ông lão <em>"ngồi mơ nước Nga"</em> (ý thơ Tố Hữu)
với sự hứa hẹn của đảng về ruộng đất cho dân cày, về
người cày có ruộng. Những nông dân là canh điền, tá điền,
lãnh canh nộp tô cho địa chủ thời ấy mơ mộng sẽ có lúc
triệt hạ hết địa chủ và giành ruộng đất trở thành sở
hữu của mình.

Lời hứa đó được duy trì và điều chỉnh cho phù hợp với
nhu cầu thu hút các lực lượng cách mạng trong suốt thời kỳ
bí mật bằng cách làm mềm đi đối tượng địa chủ thông qua
việc phân loại dựa trên diện tích sở hữu của họ và mức
độ câu kết của họ với chính quyền thực dân, phong kiến.
Nhờ đó, lời hiệu triệu về đất đai vẫn hấp dẫn với
tuyệt đại đa số nông dân nghèo, không có hoặc có ít ruộng
đất, đồng thời trấn an số <em>"địa chủ"</em> lớp
dưới với hứa hẹn về chính sách tịch thu, trưng thu, trưng
mua mềm dẻo tuỳ từng đối tượng.

Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, tình trạng đó vẫn án binh bất động. Đến giai đoạn
cuối, do sự phát triển về lực của chính quyền kháng chiến,
cục diện chiến trường, và đặc biệt là sự chỉ đạo của
Trung Quốc, Chính phủ Việt Minh trở lại chính sách đất đai
với mức độ từ thấp đến cao để đạt mục tiêu cưỡng
đoạt và cưỡng chiếm quyền sở hữu loại tài sản đặc
biệt này của nhân dân. Bắt đầu là phong trào vận động
giảm tô trong vùng kháng chiến với Sắc lệnh 14/7/1949; đến
12/4/1953, Chính phủ Việt Minh lại ra Sắc lệnh phát động
quần chúng triệt để giảm tô để thêm một bước tiến công
vào các tầng lớp địa chủ, động viên nông dân. Ngày
19/12/1953, Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra Sắc
lệnh ban bố Luật Cải cách ruộng đất đã được Quốc hội
khoá I thông qua trong kỳ họp thứ 3 (1-4/12/1953). Nội dung chủ
yếu của Luật, được thực hiện ngay sau đó ở những vùng
thuộc chính quyền kháng chiến kiểm soát thuộc khu vực đồng
bằng là xử lý địa chủ; tổ chức đấu tố; tịch thu, trưng
thu đất của đối tượng này và huy động nguồn công điền,
nguồn đất hoang để chia cho nông dân. Phong trào này được
tuyên truyền mạnh mẽ, có chụp ảnh đăng báo cảnh nông dân
đi nhận đất, cắm cờ hả hê và nhờ đó, cùng với các
đợt chỉnh huấn, chỉnh quân, kiểm thảo, nó có tác dụng
động viên sức chiến đấu của những người lính gốc nông
dân trong trận quyết đấu Điện Biên Phủ.

Trong chiêu bài phản phong, cuộc cải cách ruộng đất theo Luật
1953 thực chất là tiến hành cách mạng quan hệ sản xuất ở
nông thôn, theo quan điểm marxist, trong đó trước hết là quan
hệ trong chiếm hữu tư liệu sản xuất. Ở một khía cạnh
khác, đây là cuộc đấu tranh giai cấp trong nội bộ nhân dân
theo kịch bản dàn dựng để đủ bộ lệ cho các nước làm
cách mạng xã hội chủ nghĩa Á châu bị ảnh hưởng bởi chủ
nghĩa Mao. Cuộc đấu tranh đó tiếp tục diễn ra một cách
khốc liệt sau 1954 ở miền bắc với nhiều sai lầm, tội ác
nghiêm trọng để đảng tạm phải dừng lại, sửa sai vào năm
1956; song kết quả của cách làm sai lầm, gần như là tội ác
chống lại nhân dân đó lại là cơ sở thuận lợi cho công
cuộc hợp tác hoá nông nghiệp bị áp đặt bởi Quốc hội
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua nghị quyết về
vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp ngày 27/5/1959 – một động
thái mà Quốc hội xem như "cuộc cách mạng hoà bình", chuẩn
bị cho những qui định về chế độ sở hữu toàn dân đối
với đất đai trong Hiến pháp 1959 và đặc biệt là từ Điều
19 của Hiến pháp 1980. Bằng những bước đi này, những hình
ảnh người nông dân được chia ruộng đất để làm chứng cho
chính sách người cày có ruộng đã được rêu rao từ những
năm 30 chỉ kéo dài được không quá 6 năm (1953 – 1959); những
mảnh ruộng được chia đó chưa ấm tay người nông dân thì
đã bị sung vào hợp tác xã, thuộc sở hữu tập thể, bước
thứ nhất của sở hữu toàn dân.

Điều đáng ghi nhận là tất cả cách xử lý có tính lịch sử
của nhà nước cộng sản Việt Nam vế đất đai từ những năm
50 của thế kỷ trước đến nay đều kế tục quan điểm xem
đây là tư liệu sản xuất hoặc đối tượng lao động; nó
không phải là tài sản chiếm hữu hoặc sở hữu để chế tài
như các thông lệ về quyền tư hữu tài sản đã ghi trong Hiến
pháp 1946. Dựa vào lý thuyết marxist về quan hệ sản xuất, nhà
nước cộng sản Việt Nam xem đất đai như một hiện tượng
bất bình đẳng trong chiếm hữu tư liệu sản xuất do chế
độ phong kiến tạo ra; vì vậy, để làm cách mạng xây dựng
chế độ mới, phải từng bước xoá bỏ triệt để hiện
tượng này. Đây không phải là quá trình pháp luật liên quan
đến quyền sở hữu tài sản, mà là chuyện chính trị của
quá trình cách mạng; nó không thuộc phạm trù kế thừa luật
pháp hình sự, dân sự; không phải là nhân quyền hay dân
quyền, mà là một hiện tượng phản động của lịch sử,
cách mạng có quyền xoá bỏ.

Điều này khác hẳn và tạo ra phân biệt xử lý giữa đất
đai và các tài sản khác của người dân nói chung và người
nông dân nói riêng. Vì vốn là tài sản lịch sử nên đất đai
của người dân, kể cả địa chủ và các tầng lớp nông dân,
đều được hình thành do sự đầu tư riêng (mua bán, kế
thừa, chuyển nhượng; cả của tập thể họ tộc, chùa chiền,
nhà thờ và cá nhân), song khi đi vào hợp tác hoá, trong khi
đất đai bị quốc hữu hoá hoàn toàn , bị cải biến hoàn
toàn về hình thức tồn tại thì các tài sản khác vẫn được
bảo lưu trong nguồn vốn tập thể, trong hình thức liên doanh,
công tư hợp doanh. Sự bất công này kéo dài cho đến khi nền
kinh tế xã hội chủ nghĩa bị phá sản vào những năm 80, 90;
khi đó, các doanh nghiệp nhà nước, vốn là tài sản của dân,
bị bán tống tháo đi với nhiều cách làm rất tiêu cực qua
quá trình cổ phần hoá biến đảng viên cộng sản công,
thương nghiệp thành người chủ cổ phần, tức tư nhân hoá,
tư bản hoá tài sản xã hội chủ nghĩa, người nông dân vốn
đã bỏ những tài sản rất thật của mình vào công cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiếp tục bị tước đoạt. Lúc
họ bỏ ra đất đai để làm cách mạng, họ đã chấp hành
một chính sách cưỡng đoạt, để mua lấy sự an toàn và niềm
tin về một xã hội mới. Khi mô hình xã hội mới đó phá
sản, những người cộng sản tìm cách hưởng lợi khác thì
người nông dân bị bỏ rơi với cách nói chẳng nghĩa tình gì:
đất đai là sở hữu toàn dân, không có bất kỳ sự cứu xét
nào về lịch sử chính sách đất đai, về đối tượng đất
đai đã bị cách mạng xử lý. Cũng vào lúc ban đầu ấy, không
có ai nói với họ về sự hài hoà lợi ích giữa nhà nước,
người dân và nhà đầu tư như kiểu giải thích ngụy biện và
cơ hội chủ nghĩa như bây giờ; chỉ có một lợi ích duy nhất
là chủ nghĩa xã hội. Làm gì có cái gọi là nhà đầu tư vào
những năm 50 ở miền bắc và những năm 70, 80 ở miền nam và
cũng làm gì cần phải đặt ra sự hài hoà lợi ích về đất
đai giữa nhà nước và người dân nếu nhà nước là của dân,
do dân, vì dân!

Suy cho cùng, khi đã lộ cái đuôi lợi ích ra vì kinh tế thị
trường, vì những tiêu cực nảy sinh tất yếu và cố tình do
chính sách đất đai; khi tư liệu sản xuất của chủ nghĩa xã
hội trở thành tài sản của tư bản nước ngoài, tư bản đỏ
trong nước với sự hỗ trợ, chia chác của nhà nước cộng
sản, mới có cách giải thích như vậy. Còn từ khởi thuỷ
của cách mạng, khi quốc hữu hoá đất đai, những người
cộng sản chỉ đơn giản tước đoạt toàn bộ hạ tầng kinh
tế của hộ gia đình nông dân và các tầng lớp dân cư nông
thôn khác, tước đoạt công cụ sinh nhai tự túc – kẻ thù
của công hữu cộng sản- của dòng họ, tôn giáo, học hữu;
qua đó, họ muốn triệt hạ toàn bộ thiết chế vật chất và
tinh thần của xã hội cũ, xã hội phong kiến, để cho sản
phẩm của xã hội mới thay thế; nhờ vậy ơn đảng, ơn nhà
nước mới có gí trị. Chuyện quốc hữu hoá đất đai nói
riêng, các tư liệu, phương tiện sản xuất khác nói chung của
mô hình xã hội chủ nghĩa ấy không phải chỉ là vì mục tiêu
kinh tế và nếu chỉ vì mục tiêu ấy thì cộng sản quả là
không trí tuệ; mục đích chính là chính trị, là cải tạo xã
hội. Hợp tác xã là một thiết chế quản lý con người về
phương diện dạ dày, và qua dạ dày để quản lý trái tim và
khối óc; ông chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp có quyền
quyết định một thanh niên có được đi học đại học hay
không thông qua thủ tục cắt chuyển tiêu chuẩn lương thực
từ địa phương cấp xã đến trường đại học. Chủ nghĩa
xã hội khi tịch thu đất đai của nông dân chính là vì vậy;
cho nên sau này, khi đánh giá những sai lầm của nền kinh tế
tập trung kế hoạch hoá, đảng vẫn móc vào đó một ý khen là
nhờ đó mà huy động được lương thực cho chiến trường,
động viên được quân lực (vì không nhập ngũ thì lấy đâu
ra gạo ăn) và hạt gạo chia tư cho cả <em>"nghĩa vụ quốc
tế"</em>. Cái mất của người nông dân là bị tước đoạt
của cải để phục vụ mục tiêu phấn đấu cho công bằng,
bình đẳng, tự do, dân chủ, giống như một sự góp vốn làm
ăn, song khi mục tiêu của công cuộc làm ăn thất bại, cái
vốn ấy không được trả lại và biến thành lợi ích của
các nhóm khác, bao gồm chủ yếu nhóm cai trị. Qua cái bị mất
hữu hình đó, họ đồng thời cũng bị tước đoạt những giá
trị vô hình liên quan đến quyền sở hữu tư nhân tài sản,
vốn rất thiêng liêng, được hình thành qua hàng nghìn năm phát
triển của lịch sử dân tộc, của nhân loại. Với mỗi
người nông dân Việt Nam, đất đai là núm ruột, là tình cảm
của ông cha để lại, là kết quả sự cố gắng tằn tiện,
<em>"ăn mắm mút giòi"</em> suốt đời của đôi vợ chồng
nghèo dành cho con cháu, là ngôi mộ của tổ tiên, ông bà ở
đó, là mối liên kết, chia sẻ trách nhiệm của các thành viên
dòng họ, xứ đạo, bổn hữu của ngôi chùa, là tuổi thơ,
bến nước, con đò… Khi họ mất tài sản đất đai, những
cái ấy cũng sẽ mất đi. Không thể có cách nói nguỵ biện
đương đại về mục tiêu kinh tế hướng đến nền sản xuất
lớn trong nông nghiệp, một nền <em>"nông nghiệp hợp lý
hoá"</em> khi quốc hữu hoá đất đai trước đây và rục
rịch toa rập tích tụ đất đai hiện nay với những trích dẫn
marxist cũ rích như kiểu của tác giả Đỗ Thế Tùng trên Tạp
chí cộng sản . Trong khi nhiều nước có nền nông nghiệp cực
kỳ hiện đại, là cường quốc của nhiều ngành nông sản
nhưng vẫn duy trì chế độ tư hữu về đất đai thì không
thể cả vú lấp miệng nông dân bằng luận điểm <em>"Việc
qui định ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý là phù hợp
với qui luật tiến hoá và xu hướng phát triển của nông
nghiệp hiện đại"</em>, rằng <em>"vai trò đại diện và
quản lý của Nhà nước là tất yếu"</em>.

Cùng với nông dân, nông thôn Việt Nam qua các thời kỳ cách
mạng, cũng bị đánh phá đến kiệt quệ, trở thành một không
gian u ám, căng thẳng. Những cuộc đấu tố và xử lý địa
chủ, phá phách chùa chiền đền miếu mồ mả, cuộc vận
động áp đặt nông dân vào hợp tác xã, thu thuế phí, động
viên thanh niên nhập ngũ, việc chia tách các thành viên gia đình
và chế độ, thời gian sinh hoạt gia đình theo mô hình sản
xuất hợp tác xã, thậm chí có lúc có nơi đã là công xã,
mức thu nhập tối đa 1kg lúa/một ngày công, cảnh nhận giấy
báo tử từ chiến trường …kéo dài suốt những năm 60, 70.
Nông thôn chịu vô số thiệt thòi khác do tỉ lệ thất học,
mù chữ, do trình độ dân trí bị cố tình làm chậm phát
triển; cơ cấu thanh niên được vào đại học, cao đẳng
thấp, không bình đẳng với đô thị; thiếu thốn, nghèo nàn
trong thông tin, sinh hoạt tinh thần; chất lượng hiểu biết
thấp và thói cửa quyền, cường quyền của đám cán bộ hợp
tác xã, chính quyền địa phương. Tình trạng đó vẫn không
khắc phục được, hoặc không được khắc phục cho đến cả
thời kỳ "đổi mới". Các chính sách với nông dân, nông
thôn không đủ để khỏi phải huy động sự đóng góp của
người dân với hàng vài ba chục thứ phí thu hàng năm dẫn
đến đỉnh điểm mâu thuẫn ở sự kiện Thái Bình 1997.
Người dân nông thôn vẫn phải cam chịu với hạ tầng kém hơn
nhiều đô thị; họ phải bỏ tiền ra để tự mắc điện rồi
trả tiền điện với giá cao hơn; họ cũng phải bỏ ra số
tiền bằng thu nhập của gia đình trong cả năm, tương đương
với hàng nghìn cổ phiếu của công ty để làm đường nông
thôn nhưng không sở hữu được gì cả. Để tiếp cận với
đô thị gần nhất (đi học, mua bán, giải trí…), họ cũng
phải chịu hao mòn phương tiện và tiêu tốn nhiên liệu nhiều
hơn.

Đối lập với vùng u ám chiếm tỉ lệ lớn diện tích đất
nước đó, đô thị, trong thời gian chiến tranh cũng như hoà
bình, đổi mới, luôn luôn được ưu ái, có nhiều ưu thế
hơn: hạ tầng đô thị, tiện nghi đô thị, thu nhập đô thị,
các điều kiện thuận lợi về học hành, đào tạo để
được tuyển dụng vào tầng lớp cai trị, các điều kiện
thoả mãn sự phát triển tinh thần và tiếp cận với thế
giới văn minh, kể cả tiếp xúc với người, thông tin của
nước ngoài. Trong khi người nông dân trực tiếp sản xuất ra
lương thực, thu nhập của họ cũng chỉ 30kg lúa mỗi tháng,
tương đương 15 kg gạo, người dân đô thị, với nguồn thu
nhập bằng lương và các hình thức tiền mặt khác dồi dào
hơn, cũng được phân phối 13 kg gạo với giá 4,1 hào/kg. Một
bà già với hàng nước chè nóng ở đầu một ngõ phố Hà
Nội suốt mấy chục năm, khi đổi mới, cũng công khai của
tích luỹ đến mấy chục lạng vàng. Sau 1975, nhiều người
hồi kết về miền nam đã khuyên con cháu rằng bất cứ giá
nào cũng phải chuyển vào sống trong đô thị. Cố gắng tạo
nên bình đẳng của chủ nghĩa xã hội là như vậy.

Chính sách đất đai và các chính sách kinh tế khác đã tạo ra
sự đối lập, mâu thuẫn có thật, kéo dài và ngày càng gay
gắt giữa nông thôn và thành thị, giữa nông dân với nhà
nước, đồng thời cũng làm cho cái gọi là liên minh công nông
trở thành bánh vẽ. Chỉ đơn cử, một người bạn học của
người viết bài này, đang là đảng viên cộng sản, giám đốc
của một công ty chế biến nông sản ở miền trung vốn là
doanh nghiệp nhà nước, tức công sản; khi công ty chưa cổ
phần hoá, lương tháng của anh ta tương đương giá trị nguyên
liệu nông sản ấy trên 2 hecta/1 năm, trong khi bình quân diện
tích/người nông dân trồng nông sản chỉ là 0,1 hecta. So sánh
tiền lãi của nông dân trong 1 năm với tiền lương 1 năm của
vị giám đốc, ta có tỉ lệ 1:2000. Hiện nay, công ty đã cổ
phần hoá, anh ta thành chủ của 1/5 tài sản công ty; thu nhập
bằng lương tháng cộng cổ tức sẽ cao hơn nhiều.

Sự thật đã và đang là như vậy. Nhưng ai cho phép nó như
vậy? Đảng cộng sản đã tạo ra tất cả bằng mũi súng,
thông qua cái công cụ được hợp hiến hoá là Quốc hội. Tổ
chức ấy do đảng lập ra và phần lớn đại biểu là đảng
viên. Khi Quốc hội biểu quyết thông qua chính sách hợp tác
xã, thông qua luật đất đai, thông qua các Hiến pháp với
điều khoản công nhận quyền lãnh đạo của đảng, họ không
phải đại diện cho dân và thể hiện ý kiến của dân, mà là
chấp hành đảng, không phải toàn bộ đảng viên, mà chỉ một
nhóm nhỏ có quyền đưa đất nước và dân tộc vào cuộc thí
nghiệm xã hội chủ nghĩa.

Đến bây giờ, mọi việc đã lỡ rồi, các cơ cấu đã được
thiết lập và vận hành sức mạnh của nó, để chia chác
quyền lực và quyền lợi, không một ai, trong bối cảnh văn
hoá chính trị Việt Nam, có khả năng và sự dũng cảm thay
đổi. Thay vì thừa nhận tình trạng ấy, đảng vẫn nói như
đinh đóng cột rằng đất đai là sở hữu toàn dân, với một
thái độ trâng tráo, ngạo mạn đến vô ơn, vô sỉ.

Hãy cứ đưa điều đó ra trưng cầu dân ý, chắc sẽ có câu
trả lời chung cho việc khẳng định chủ nghĩa xã hội là con
đường lựa chọn của toàn dân, về chế độ công hữu, về
tính nhân dân của nhà nước Việt Nam hiện nay.

<strong>Xích Tử</strong>



***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12646), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét