<ul>
<li><a href="http://danluan.org/node/12262">Đạo Luật Y tế Mới Của
Mỹ Đi Về Đâu?</a></li>
</ul></div>
Để bổ sung cho bài viết <a
href="http://danluan.org/node/12262">Đạo Luật Y tế Mới Của Mỹ
Đi Về Đâu?</a> vừa rồi, sau đây xin được trích đăng lại
phần của một bài đã được viết ra cách đây vài năm, mô
tả sơ lược một số mô hình bảo hiểm y tế tiêu biểu trên
thế giới, nhằm giúp những độc gỉa quan tâm có dịp so sánh,
không những chỉ là những khác biệt về tổ chức, mà còn cả
về ưu-khuyết của mỗi mô hình, cùng quan điểm về an sinh xã
hội làm nền tảng cho những mô hình đó.
<strong>A. Mô hình Bismarck</strong>: Đức, Nhật, Pháp, Thụy sĩ,
v.v..: Giới cung cấp dịch vụ và người chi trả cho các dịch
vụ y tế hoàn toàn là tư nhân, trên căn bản từ thiện, không
kiếm lời (not for profit); với luật lệ chặt chẻ về dịch
vụ và lệ phí. Mô hình này do cố thủ tướng Von Bismarck của
Đức đưa ra vào năm 1883, nằm trông nổ lực thống nhất quốc
gia, xây dựng một dân tộc khỏe mạnh làm nền tảng cho một
đội lục quân tinh nhuệ. Trong mô hình này, chủ và thợ cùng
chia nhau trách nhiệm về bảo hiểm y tế. Chính phủ đảm trách
việc giúp chi phí y tế cho người nghèo; còn những người giàu
có nhất được miễn khỏi mua bảo hiểm y tế.
<strong>B. Mô hình Beveridge</strong>: là mô hình của Anh quốc, theo
đó Chính phủ cung cấp toàn bộ dịch vụ y tế cho người dân
qua National Health Services. Có bệnh viện và bác sĩ tư, nhưng đa
số còn lại nằm trong tay của chính quyền. Ý, Tây Ban Nha, Na
Uy, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Hong Kong theo mẫu này. Mô hình này
cung cấp bảo hiểm y tế phổ quát cho mọi người.
<strong>C. Mô hình Bảo Hiểm Y tế Quốc gia</strong>: Dịch vụ y
tế do khu vực tư nhân cung cấp, nhưng người trả phí tổn là
chính phủ thông qua hảng bảo hiểm y tế do chính phủ kiểm
soát. Chính phủ là người quyết định dịch vụ y tế nào nên
được làm và thời gian chờ đợi. Canada, và ở mức độ nào
đó, Đài Loan, Nam Hàn là những nước theo mô hình này.
<strong>D. Mô hình trả tiền túi</strong> (out-of-pocket model): Đa
số hơn 150 quốc gia trên thế giới không có hệ thống chi trả
cho chi phí y tế. Bệnh nhân phải tự trang trãi cho các chi phí y
tế bằng tiền túi của mình; không có những chương trình bảo
hiểm do tư nhân hay chính phủ điều hành. Chẳng hạn, ở
Camphuchia, 91% chi phí y tế trong nước được trả bằng tiền
túi; 85% ở Ấn Độ và 73% ở Ai Cập. Trong khi đó ở Anh, có
chừng 3% và Mỹ có chừng 17% dịch vụ y tế được trả bằng
tiền túi của bệnh nhân (từ hơn 47 triệu người không có
bảo hiểm).
<h2>BẢO HIỂM Y TẾ CỦA VÀI QUỐC GIA TIÊU BIỂU:</h2>
<strong>PHÁP</strong>: Carte vitale
Nước Pháp có hệ thống bảo hiểm y tế cho mọi người
(universal health care).
Giá cả dịch vụ y tế được niêm yết ngay tại các phòng
mạch bác sĩ cũng như các tại các trung tâm y tế. Bệnh nhân
được thông báo trước bách phân chi phí họ sẽ được hoàn
trả từ hảng bảo hiểm. Toàn bộ tiểu sử y tế (medical
history) của mỗi người được nhị phân hoá (dìgitzed) và bỏ
vào trong một tấm thẻ plastic gọi là Carte Vitale. Mọi công dân
Pháp tuổi trên 15 đều được cấp Carte vitale; tiểu sử y tế
của trẻ em được ghi trên carte vitale của người mẹ. Chính
nhờ loại thẻ này mà các văn phòng bác sĩ, trạm xá hay bệnh
viện của Pháp không cần phải có hồ sơ bệnh nhân bằng
giấy chứa trong các dãy kệ dài đựng hồ sơ như hiện nay
vẫn có ở Mỹ.
Có cả bảo hiểm của các công ty bảo hiểm tư lẫn của chính
phủ. Công nhân được bảo hiểm thông qua công ty nơi họ làm
việc hoặc vùng họ cư trú; họ không có tự do lựa chọn
chương trình bảo hiểm; chủ nhân và công nhân chia nhau đóng
tiền bảo hiểm.
Đặc điểm là Caisse d'assurance maladie (sickness insurance funds):
Quỹ bảo hiểm bệnh tật là những định chế bất vụ lợi
(not for profit) với mục đích duy nhất, không phải là kinh doanh,
mà là giúp chi trả chi phí chữa bệnh cho mọi người. Người
Pháp không bị các quỹ này từ chối bảo hiểm vì bất cứ lý
do gì, và khi mất việc làm, họ không bị mất bảo hiểm y
tế, chính phủ tiếp tục trả cho họ trong thời gian thất
nghiệp. Chi phí điều hành của các Quỹ này rất thấp chỉ
chừng 5%; so với chi phí đó của các hảng bảo hiểm Mỹ là
20%.
Tổ chức Y tế Thế Giới (World Health Organization, WHO) xếp hạng
nền y tế của Pháp là số một của Thế giới về khả năng
chữa khỏi những bệnh hiểm nghèo (mortality amenable to
healthcare), về tử suất trẻ sơ sinh và tuổi thọ của người
lớn tuổi.
Người Pháp khi đi khám bác sĩ không phải lo vấn đề trong hay
ngoài network như ở Mỹ, cũng không phải qua sự giới thiệu
của bác sĩ gia đình (family doctors, primary physicians) khi đi gặp
bác sĩ chuyên môn (specialists).
Bảo hiểm y tế là một sự cưỡng bách; mọi người đều
phải có bảo hiểm y tế, tự ý bỏ bảo hiểm y tế là một
hành vi phi pháp. Mọi người trả tiền mua bảo hiểm tuỳ theo
lợi tức của mình. Chẳng hạn một người thu nhập 20,000
dollars/năm phải trả chừng 150 dollars/năm cho bảo hiểm y tế.
Chi phí y tế bình quân đầu người hàng năm của Pháp là
chừng $3165, và mọi người đều được bảo hiểm; trong khi
Mỹ thì đến $7000/người, nhưng có đến hơn 47 triệu người
không được bảo hiểm! Lợi tức của các bác sĩ Pháp rất
thấp so với các bác sĩ Mỹ; trung bình một bác sĩ toàn khoa ở
Pháp chỉ kiếm được chừng 80, 000 dollars/năm.
Pháp chi gần 10% của GDP, tổng sản phẩm nội điạ quốc gia
(general domestic products) cho y tế; trong lúc Mỹ chi đến 17% của
GDP!
<strong>ĐỨC:</strong>
Người Đức xử dụng thẻ Die elektronischen Gesundheitskarte, the
digital heath card (Thẻ Y tế điện tử) tương tự như Carte Vitale
của Pháp, giúp giảm chi phí về quản lý hồ sơ và thanh toán y
phí.
Hệ thống bào hiểm y tế của Đức dựa vào Luật Bảo Hiểm
Bệnh tật ra đời từ năm 1883 dưới thời của thủ tướng
<em>"sắt"</em> Otto Von Bismarck. Người Đức, bị bắt buộc theo
luật, mua bảo hiểm từ hơn 200 quỹ bệnh tật Krankenkassen trên
toàn quốc. Các qũy bệnh tật này, tương đương với hãng bảo
hiểm y tế ở Mỹ, là những tổ chức không kiếm lời, nghĩa
là không phải chạy đua theo lợi nhuận để thoả mãn yêu cầu
của giới đầu tư (investors) như các hảng bảo hiểm ở Mỹ.
Lệ phí bảo hiểm hàng tháng ấn định dựa trên lợi tức cá
nhân. Trung bình một công nhân Đức hiện nay đóng 15% tiền
lương cho bảo hiểm y tế; chủ nhân sẽ chịu một phần tương
đương cho mỗi công nhân. Khác với công nhân Mỹ, người công
nhân Đức có thể lựa chọn bất kỳ Krankenkassen nào và thay
đổi bất kỳ lúc nào. Khi bị thất nghiệp, tự động chính
phủ sẽ trả chi phí bảo hiểm cho người thất nghiệp.
Các quỹ bệnh tật Krankenkassen là bất vụ lợi, không từ
chối bảo hiểm cho bất kỳ ai cần cũng không từ chối chi
trả cho bất cứ dịch vụ y tế nào được cung cấp bởi các
bác sĩ và bệnh viện. Chi phí điều hành của các Krankenkassen
này trung bình chỉ bằng chừng 1/3 chi phí của các hảng bảo
hiểm Mỹ. Tuy bất vụ lợi, nhưng các Krankenkassen cạnh tranh
nhau ráo riết để thu hút người mua bảo hiểm, nâng cao uy tín
và thu nhập cho nhân viên điều hành. Các Krankenkassen này cung
cấp bảo hiểm cho hầu hết người Đức, 93%. Còn lại chừng
7% những người giàu nhất xã hội, được miễn bị bắt buộc
phải mua bảo hiểm từ Krankenkassen, chọn mua bảo hiểm từ các
hảng bảo hiểm tư khác; tất nhiên với giá cả cao hơn rất
nhiều.
Bác sĩ ở Đức chỉ phải trả một số tiền nhỏ hàng năm cho
bảo hiểm sai lầm nghề nghiệp (malpractice insurance), khoảng
$1400/năm; tương đương với lệ phí một tuần của bác sĩ ở
Mỹ. Nhưng đồng thời, thu nhập của bác sĩ ở Đức cũng
thấp hơn nhiều, trung bình từ $ 100, 000 đến $150,000/ năm.
<strong>NHẬT BẢN:</strong>
Là một hệ thống bảo hiểm tư nhân với ít nhiều tài trợ
từ chính phủ. Hệ thống bảo hiểm của Nhật bắt chước theo
khuôn mẫu Bismarck của Đức, được thiết lập ra từ hồi
cuối thế kỷ 19 trong quá trình nước Nhật canh tân hóa theo
Tây Phương. Người Nhật bắt chước cách tổ chức hải quân
theo mẫu của người Anh; luật pháp thì theo mẫu Luật Napoleon
của Pháp; còn lục quân, hệ trung học và an sinh xã hội thì
theo mô hình của Đức.
Mọi người bắt buộc (personal mandate) phải đăng ký với một
chương trình bảo hiểm y tế.Tổng cộng Nhật Bản có chừng
3,500 chương trình bảo hiểm y tế khác nhau, có thể gộp chung
thành 3 loại:
1.- Loại của các đại công ty và các cơ quan chính phủ lớn,
trong đó công ty trả 55% lệ phí bảo hiểm (premium), công nhân
trả 45% còn lại. Loại này không nhận bất kỳ sự trợ cấp
tài chánh nào từ chính phủ trong vấn đề bảo hiểm y tế.
Những công ty như Honda, Toyota có bệnh viện lớn riêng cho công
nhân của họ.
2. - Công nhân làm cho các hảng nhỏ đóng một nửa lệ phí
bảo hiểm, chủ nhân đóng nửa còn lại. Nhưng các hảng nhỏ
này được chính phủ trung ương trợ cấp 14% lệ phí bảo
hiểm y tế.
3. - Chương trình Bảo hiểm Y tế Công dân: dành cho những
người về hưu và các tiểu chủ, tiểu thương. Trong chương
trình này cá nhân và chính quyền địa phương cùng nhau chia
đều lệ phí bảo hiểm y tế.
Thông thường bệnh nhân phải trả 30% co-payment, hảng bảo
hiểm trả 70% cho các dịch vụ y tế. Nhưng mỗi người không
phải trả quá 650$/tháng cho các dịch vụ này.
Các công ty bảo hiểm y tế Nhật là những công ty không vì
lợi nhuận (not for profits); lý do tồn tại của họ là giúp
thanh toán chi phí y tế, chứ không phải để kiếm lợi nhuận.
Bộ Y tế và An sinh (Ministry of Health and Welfare) của Nhật thỏa
thuận với giới cung cấp dịch vụ y tế (providers) một Biểu
đồ giá cả (Fee Schedule) áp dụng chung cho tất cả bác sĩ,
bệnh viện, trạm y tế trên toàn quốc, và một hướng dẩn
tổng quát về quy trình y tế cùng giá thù lao kèm theo có tên
là Shiryo Tensu Hyakumihyo (Quick reference Guide to Medical treatment
points), dày như một cuốn niên giám điện thoại, liệt kê chi
tiết các dịch vụ với phần thù lao đi kèm. Chẳng hạn: gặp
bác sĩ gia đình giá 5$, một đêm tại bệnh viện 90$ (gồm cả
thức ăn), v.v…
Trung bình một bác sĩ gia đình ở Nhật có thu nhập chừng
120,000$/ năm; các bác sĩ chuyên môn (specialists) thì chừng
200,000$/năm. Các bác sĩ hàng năm chỉ phải trả chừng 1200$ cho
bảo hiểm sai sót nghề nghiệp (malpractice). Học phí của các
trường y khoa rất rẽ chỉ chừng 1500 $/năm và sinh viên y khoa
thường được chính quyền địa phương trợ cấp học phí, vì
vậy không sinh viên nào mắc nợ khi tốt nghiệp bác sĩ cả.
Ngoài ra các bác sĩ Nhật, do ảnh hưởng của văn hoá Đông
phương, không xem bác sĩ như là một nghề để làm giàu mà cho
rằng cứu nhân độ thế là thiên chức của người thầy
thuốc, vì vậy đa số họ bằng lòng với mức thu nhập nêu ở
trên. Mặt khác, bác sĩ vẫn là giới rất được trọng vọng
trong xã hội Nhật.
Một điểm đặc biệt là bảo hiểm y tế Nhật không bảo
hiểm cho phụ nữ có thai. Người Nhật quan niệm rằng thai
nghén là một quá trình tự nhiên, không phải là một bệnh
tật nên không nằm trong sự che chở của bảo hiểm y tế. Tuy
nhiên mỗi thai phụ lại được chính quyền địa phương hay
thành phố trợ cấp 3000$/lần (maternity grant).
Những biện pháp khống chế giá cả y tế như trên đã góp
phần hạ thấp chi tiêu y tế ở Nhật, tổng chi phí y tế chỉ
chiếm 8% GDP, thấp hơn cả Đức quốc (11%). Nhưng sự khống
chế chặt chẽ giá cả này cũng tạo ra những nhược điểm cho
nền y tế; đó là sự xuống cấp trầm trọng của các bệnh
viện, bệnh xá, trang thiết bị, và đời sống của các bác
sĩ, chuyên viên y tế cũng ngày càng khó khăn hơn.
<strong>ANH QUỐC</strong>: Bảo hiểm y tế phổ quát.
Cơ quan British National Health Service (NHS), do vương công William
Beverdige khởi xướng trước đây 60 năm, đảm trách việc bảo
hiểm y tế cho mọi người ở Anh. Công dân Anh không phải trả
lệ phí bảo hiểm (premium). Trẻ em; người già trên 60, người
có bệnh kinh niên và thai phụ không phải trả 10$ copayments
tiền thuốc; khoảng 85% thuốc cho bệnh nhân là miễn phí. Tuy
cũng có bảo hiểm y tế tư nhân, nhưng tuyệt đại đa số, 97%,
dân Anh không ai mua bảo hiểm y tế cả, họ xem việc đi khám
bác sĩ hay vào bệnh viện không phải trả tiền là điều bình
thường.
Cơ quan NHS nói trên có tổng cộng hơn 1 triệu nhân viên, hơn
2000 bệnh viện.
Nền y tế trên đem đến cho Anh quốc một tử suất trẻ em
rất thấp, tuổi thọ trung bình rất cao, và mức độ bình
phục cho các chứng bệnh hiểm nghèo cao hơn ở Mỹ.
Một đặc điểm của y tế Anh quốc là không có hoá đơn đòi
tiền đối với các dịch vụ y tế như vẫn thấy ở Mỹ (no
medical billing in England).
Chính phủ Anh đã dùng mức thuế cao thay cho lệ phí bảo hiểm
y tế. Thuế bán lẽ (sale taxes) ở Anh là từ 15-17.5%, thuế lợi
tức và an sinh xã hội cũng cao hơn ở Mỹ rất nhiều. Chẳng
hạn một gia đình thu nhập 150,000$ phải trả thuế lợi tức
đến 50%!
Nhược điểm là thời gian chờ đợi để gặp bác sĩ chuyên
khoa, để được chẩn đoán hoặc điều trị phức tạp
thường khá lâu. Vấn đề hạn định (rationing) đối với một
số dịch vụ y tế là một nhược điểm lớn khác của nền y
tế Anh.
Ở Anh, mọi người được yêu cầu phải đăng ký với một
bác sĩ tổng quát, như một y sĩ đầu tiên, vị bác sĩ này
(General Practices) có thẩm quyền giới thiệu đến các chuyên
khoa hay những chữa trị phức tạp. Đây là hình thức ở Mỹ
gọi là giữ cửa (gatekeeping), trong đó bác sĩ gia đình có
thẩm quyền trong việc giới thiệu (recommendation) những xét
nghiệm hoặc chẩn đoán chuyên môn cho bệnh nhân; bệnh nhân
không được phép tự mình gặp thẳng các bác sĩ chuyên môn mà
không có sự đồng ý của bác sĩ gia đình.
Sự hạn định đó thuộc về NHS. NHS ,thông qua cơ quan NICE, có
thẩm quyền khống chế khá rộng đối với các xét nghiệm,
chẩn đoán, các dịch vụ y tế dành cho bệnh nhân. Sự hạn
định này cũng có ở Mỹ, nhưng khác ở chỗ là ở Mỹ các
hảng bảo hiểm tư nhân kiểm soát sự hạn định này thường
do động cơ lợi nhuận, còn ở Anh, cơ quan NICE (national institute
for Health and Clinical Excellence) lại dựa trên hiệu quả thiết
thực của dịch vụ y tế cho từng trường hợp bệnh nhân trong
tương quan với tài nguyên của xã hội.
Để bù lại, nền y tế Anh quốc đặt trọng tâm vào việc
phòng bệnh (preventive care), tỉ lệ bác sĩ gia đình chiếm đến
60%, cao hơn ở Mỹ. Lợi tức trung bình của một bác sĩ gia
đình là chừng 125,000$/năm, thu nhập này thay đổi dựa vào số
bệnh nhân đăng ký đối với mỗi bác sĩ. Ngoài ra cơ quan NHS
còn trao phần thưởng tay nghề (performance bonus) hàng năm cho
những bác sĩ có thành tích giúp duy trì sức khoẻ tốt cho số
bệnh nhân của mình.
Lệ phí bảo hiểm sai sót nghề nghiệp (malpractice) là khoảng
4,200$/năm; rất thấp so với ở Mỹ. Học phí tại các trường
y khoa khá rẻ chỉ chừng 4,000$/năm, vì vậy đa số các bác sĩ
mới tốt nghiệp không phải mắc nợ khi ra trường.
<strong>CANADA</strong>
Trước hết vào năm 1944, thống đốc Tommy Douglas của tỉnh
Saskatchewan thành lập một hệ thống bảo hiểm y tế do chính
quyền điều hành cho toàn thể 1 triệu dân trong tỉnh. Hệ
thống ấy thành công rực rỡ đến độ từ năm 1961 trở đi
chính phủ Canada đã thành lập hệ thống National Health Insurance,
hệ thống bảo hiểm y tế phổ quát toàn quốc, phỏng theo mô
hình của Douglas, với dịch vụ y tế được cung cấp bởi tư
nhân và chính phủ là người chi trả cho các dịch vụ ấy. Năm
1965 chính phủ Mỹ tiếp nhận hình thức bảo hiểm này của
Canada cho công dân trên 65 tuổi, và cho ra đời chương trình
Medicare.
Tuy 10 tỉnh và 3 lãnh thổ của Canada có các chương trình bảo
hiểm y tế riêng với ít nhiều khác biệt; chẳng hạn có
nhiều tỉnh trả 100% chi phí khám bác sĩ, có tỉnh thì bệnh
nhân phải trả chút ít co-payment. Nhưng nhìn chung thì chính
quyền Liên bang là người cung cấp ngân sách và quy định luật
lệ bảo hiểm cho các địa phương, đứng ra thương lượng về
giá cả cho việc chữa trị, thiết bị y tế và thuốc men. Giá
thuốc ở Canada rẽ hơn, chỉ bằng ¼ hoặc ½ giá ở Mỹ.
Đạo luật Canada Health Act 1984 quy định vấn đề bảo hiểm y
tế như sau:
<ul>
<li>Chương trình bảo hiểm của mỗi tỉnh phải do một cơ quan
công cộng điều hành, không có mục đích kiếm lời (non-profit
public body).</li>
</ul>
<ul>
<li>Các chương trình bảo hiểm phải trả cho mọi dịch vụ y
tế cần thiết (medically necessary services) được liệt kê trong
danh sách của chính phủ Liên Bang.</li>
</ul>
<ul>
<li>Bảo hiểm y tế của các tỉnh phải phổ quát, bảo đảm
cho mọi công dân cơ hội đồng đều được chữa trị và cấp
thuốc men theo quy định của kế hoạch. Các bác sĩ và bệnh
viện phải tiếp nhận và chữa trị cho mọi bệnh nhân, không
phân biệt, với cùng một mức giá cả.</li>
</ul>
<ul>
<li>Bảo hiểm phải trả ở mọi nơi trên lãnh thổ Canada.</li>
</ul>
Với hệ thống bảo hiểm y tế như vậy, người Canadian không
phải trả tiền cho việc khám bác sĩ, cho việc cấp cứu, nằm
bệnh viện, bệnh tâm thần, chích ngừa, các xét nghiệm, MRI,
v.v… Nhưng nha khoa thông thường thì không được bảo hiểm chi
trả, chỉ có giải phẩu nha khoa tại bệnh viện thì khỏi trả
tiền. Tại phần lớn các tỉnh, bệnh nhân phải trả tiền
thuốc. Riêng người nghèo, già cả và bệnh kinh niên thì
được miễn trả tiền thuốc.
Tuy hệ thống bảo hiểm y tế của chính phủ bao trùm phổ quát
như vậy, nhưng bên cạnh vẫn có một số chương trình bảo
hiểm tư nhân, dù rằng chiếm một bách phân rất nhỏ, dành cho
các dịch vụ nha khoa hoặc những dịch vụ y tế mà bảo hiểm
của chính phủ không đãm nhận. Các chương trình bảo hiểm tư
nhân này rất rẽ so với Mỹ.
Một nhược điểm của bảo hiểm y tế Canada là thời gian chờ
đợi cho một số các dịch vụ y tế đặc biệt thường kéo
dài khá lâu. Chẳng hạn một ca giải phẫu cột sống phải
chờ trung bình một năm; giải phẫu thay xương bả vai (shoulder
arthroplasty) mất chừng 18 tháng chờ đợi; hoặc mổ thay cổ
xương đùi phải chờ hằng 10 tháng!
Cùng với sự chờ đợi lâu như trên là sự thiếu hụt bác
sĩ. Trung bình ở Canada có 2.2 bác sĩ/1000 dân, trong khi ở Mỹ
là 2.4/1000. Hiện nay chính phủ Canada đang nỗ lực gia tăng ngân
sách để thu hút thêm bác sĩ và giảm thời gian chờ đợi của
bệnh nhân đối với các dịch vụ điều trị phức tạp và
đặc biệt.
Ưu điểm của hệ thống Canada là chi phí điều hành của hệ
thống bảo hiểm y tế thấp, phía cung cấp dịch vụ y tế, như
bác sĩ hay bệnh viện, không phải gởi bills cho bệnh nhân, họ
nhận thù lao thẳng từ các văn phòng bảo hiểm y tế của
chính phủ. Ngoài ra, người dân Canada không ai phải khai phá
sản vì chi phí y tế và cũng không ai chết vì lý do là không
có bảo hiểm sức khoẻ và; do đó, đã không được chữa
trị. Tử suất trẻ sơ sinh là 5.4 so với ở Mỹ là 7.0 (trên
1000 trẻ). Khả năng chữa trị những bệnh hiểm nghèo của
nền y tế Canada, gọi là avoidable mortality, của Canada được WHO
xếp hạng 7 trong số 19 quốc gia cao nhất thế giới (Mỹ
được xếp hạng 15/19) .
<strong>VIỆT NAM:</strong>
Cho đến nay tuổi thọ trung bình (life expectancy) của người
Việt là 72.2 năm, tuổi thọ sống khoẻ mạnh (healthy life
expectancy) là 60.2 năm, xếp hạng 116 trên tổng số 174 quốc gia
được thống kê. Theo thống kê của Tổng cục Dân số và Kế
hoạch Gia đình thì có đến 1.5% trong tổng số 85.8 triệu dân
thuộc về dạng chậm trí; 1.5-3% trẻ sinh ra có khuyết tật;
Việt Nam hiện có 5.3 triệu người tật nguyền. Dân số gia
tăng hàng năm là 947,000 người tương đương với tăng suất
1.2%, có giảm so với tăng suất 1.7% của năm 1999.
Trung bình có 5 bác sĩ cho 10,000 dân (Xin nhớ rằng tỉ số bác
sĩ/dân ở Mỹ là 2.4/1000). Theo thống kê năm 2001 thì chi phí y
tế bình quân đầu người hằng năm của VN là 134
dollars/người (so với Philippine 169$, Trung Quốc 224$, Nhật 2131$
và Úc 2532$). Cũng theo thống kê đó thì tổng chi phí y tế của
VN chỉ chiếm 5.1% GDP (tổng sản lượng quốc gia).
Chi tiêu cho săn sóc y tế của chính phủ không được phân
phối đồng đều giữa các thành phần dân cư và khu vực. Mức
độ chi tiêu của nhà nước cho săn sóc y tế cũng rất thấp,
chỉ chiếm chừng 1% của GDP. 80% chi phi y tế là do tiền túi
của người dân (out-of-pocket). Mức chi tiêu quá ít này của nhà
nước cho lãnh vực y tế hoàn toàn trái ngược với danh xưng
Xã hội Chủ nghĩa của VN; nó là kết quả của <em>"đổi
mới để sống còn"</em> để duy trì sự độc quyền của
đảng CS và của áp lực từ các định chế quốc tế IMF, World
Bank và WTO cũng như từ các quốc gia Tây phương đối với VN
trong việc cắt giảm chi tiêu công ích, chuyển hướng hẳn về
kinh tế thị trường, mở ngõ lãnh vực y tế nội địa cho quá
trình tư nhân hoá và tư bản bên ngoài .
Những năm gần đây, Quỹ Y tế cho Người Nghèo (Health Care Funds
for the Poor, HCFP) được thành lập, chỉ cấp rất khiêm tốn
70,000 đồng/người (gần 5dollars); trong đó trung ương cung cấp
76%, số còn lại do địa phương đóng góp. Số tiền đó
được dùng hoặc để trả chi phí y tế cho những bệnh nhân
nghèo, hoặc để giúp thêm vào việc mua bảo hiểm. Có chừng 11
triệu người hưởng sự giúp đỡ từ HCFP. Hiện Bộ Y tế VNCS
đang có chương trình gia tăng gấp đôi ngân sách cho quỹ HCFP
này.
Việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế vẫn chưa trở nên phổ
biến, đa số các giới cung cấp dịch vụ y tế vẫn duy trì
thói quen thu tiền mặt từ bệnh nhân, không tỏ ra tích cực
trong việc chấp nhận thẻ bảo hiểm. Kể từ 1992, chính quyền
VNCS đưa ra những chương trình bảo hiểm y tế cưỡng bách và
tự nguyện do cơ quan, đại diện của Bộ Y tế, là Bảo Hiểm
Y tế VN điều hành. Có 3 chương trình:
1. Cưỡng bách: Dành cho công nhân viên trong biên chế nhà nước
và trong các công ty tư nhân có từ 10 người trở lên. Lệ phí
là 3% tiền lương, trong đó phía chủ nhân đóng 2%, công nhân
đóng 1%.
2. Tự nguyện: Là chương trình dành cho học sinh, sinh viên và
các nông dân. Thường nông dân đóng 30%, chính quyền cấp tỉnh
đóng 70%.
3. Những chương trình dành cho người nghèo do nhà nước tài
trợ.
Tóm lại hệ thống bảo hiểm y tế VN, trong bước đầu hướng
theo kinh tế thị trường, vẫn còn thuộc về mô hình
out-of-pocket của các nước thứ ba, trong đó 80% chi phi y tế
được trang trãi bằng tiền túi của người dân. VN chưa có
một hệ thống bảo hiểm y tế thống nhất, được tổ chức
chặt chẽ với những luật lệ rõ ràng như các nước phát
triển.
<strong>Trương Đình Trung</strong>
_____________________
<strong>THƯ MỤC</strong>:
The Healing of America, T.T.Reid, Penguin Press, New York 2009.
WHO, the World Health Report 2000.
http://en.wikipedia.org/wiki/Taxation_in_the_United_Kingdom
http://en.wikipedia.org/wiki/Comparison_of_Canadian_and_American_health_care_systems.
Health Affairs, May/June 2001.
http://www.presscenter.org.vn/en/content/view/924/89/.
Susan Adam, Vietnam healthcare system, IMF-Hanoi, 2005.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/12338), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét