height="302" alt="danluan00080.jpg" /></center>
Bất cứ ai, chỉ cần qua ghế nhà trường cấp 2, cũng đều
biết chi tiết trưa ngày mùng năm Tết Kỷ Dậu (1789), Quang Trung
cưỡi voi, áo bào xạm đen khói súng, tiến vào Thăng Long, kết
thúc cuộc đại phá 29 vạn quân Thanh chỉ có 5 ngày, sớm hơn 2
ngày so với dự định (lúc khao quân ở Nghệ An ngày 30 Tết,
Quang Trung hẹn ngày mùng 7 Tết vào Thăng Long mở tiệc ăn
mừng).
Nhưng có lẽ ít ai về số phận của ông vua phản bội Tổ
quốc Lê Chiêu Thống và toàn tòng vong của ông ta sau cuộc thua
tan tác này. Chúng tôi xin lược qua 15 năm sống (và chết) nhục
nhã (và phần nào đáng thương) trên đất Trung Quốc của họ.
Bài viết dưới đây tổng hợp từ Hoàng Lê nhất thống chí
[i] (HLNTC), Bắc hành tùng ký (BHTK), có tham khảo thêm các giáo
trình lịch Việt nam và từ điển mở Wikipedia. Trong số này
đặc biệt chú ý là Bắc hành tùng ký, bởi nó là cuốn nhật
ký của Lê Quýnh, nhân vật quan trọng nhất trong đoàn tùy tùng
của Lê Chiêu Thống, ghi lại những ngày ông bị giam cầm trên
đất Trung Quốc.
<h2>Cầu cứu nhà Thanh</h2>
Với khẩu hiệu phù Lê diệt Trịnh, sau khi lật đổ họ
Trịnh, anh em Tây Sơn giao lại Bắc Hà cho vua Lê (1786), rồ rút
quân về Nam. Vua Lê lúc ban đầu là Lê Hiển Tông, sau khi qua
đời, Lê Duy Khiêm (Lê Duy Kỳ) được kế vị, hiệu là Chiêu
Thống, năm ấy 21 tuổi.
Nhưng Chiêu Thống không đủ uy tín và tài năng để cai quản
đất nước. Bắc Hà rơi vào loạn lạc, Lê Chiêu Thống phải
hết dựa vào thế lực này đến thế lực khác, từ Đinh Tích
Nhưỡng đến Nguyễn Hữu Chỉnh. Khi Chỉnh bị Võ Văn Nhậm
diệt, Lê Chiêu Thống bỏ chạy sang Quảng Tây, Trung Quốc, cầu
cứu nhà Thanh.
Nhân cơ hội ấy, quân Thanh do Tổng Lưỡng Quảng là Tôn Sỹ
Nghị cầm đầu kéo sang. Ngay khi vào Thăng Long, chúng đã chẳng
coi Lê Chiêu Thống ra gì. Vua ta phải hằng ngày vào chực ở
bản doanh của Tôn Sỹ Nghị để nghe lời sai bảo. Tuy vua Lê
đã được phong Vương, nhưng giấy tờ đưa đi các nơi, đều
dùng niên hiệu Càn Long. "Ngày ngày sau buổi chầu, vua lại
tới chờ ở doanh của Nghị để nghe truyền việc quân, việc
nước. Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau,
quân lính hộ vệ chỉ vài chục người. Người trong kinh có
kẻ không biết là vua. Hoặc có người biết, thì họ nói riêng
với nhau rằng:
<em>"Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy
bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm
vua, nhưng niên hiệu thì viết là Càn Long, việc gì cũng do viên
tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào Trung Quốc?". Lại có
hôm, vua tới yết kiến, Nghị không buồn tiếp, chỉ cho người
đứng ở dưới linh các truyền bảo: "Hôm nay không có việc
quân, việc nước gì. Hãy về cung yên nghỉ!"</em> (HLNTC). Đối
với quân lính và bọn người Hoa ở Việt Nam, thì y lại dung
túng cho chúng mặc sức làm điều phi pháp . Vua Lê tuy biết sự
tệ hại ấy, nhưng đã trót mời quân Thanh sang, chỉ sợ vì
việc đó mà làm mếch lòng chúng, nên không dám nói gì.
<h2>Chạy theo tàn quân Thanh</h2>
Quân Thanh đại bại, Lê Chiêu Thống cùng gia quyến và các bề
tôi trung thành lại chạy theo sang Trung Quốc, hy vọng cầu viện
nhà Thanh một lần nữa.
Nhưng lúc này, tình hình đã khác. Quân Thanh, mà thực chất là
quân 4 tỉnh gần Việt Nam (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý
Châu), sau những trận Ngọc Hồi, Khương Thượng, Đống Đa,…
đã trở nên khiếp sợ vua Quang Trung và quân Tây Sơn. Theo Hoàng
Lê nhất thống chí, khi quân ta đuổi chúng đến Lạng Sơn, đã
nói phao lên rằng: "Sẽ giết hết rợ Hung Nô". Do đó, ở
đất Trung Quốc, "dân chúng lại càng nhốn nháo. Từ cửa ải
Nam Quan trở về bắc, trai gái già trẻ, bồng bế dắt díu nhau
chạy trốn, suốt vài trăm dặm, lặng ngắt không còn bóng
người" (HLNTC). Tôn Sỹ Nghị bị cách chức, vua Càn Long cử
Phúc Khang An là một người thuộc đội "cờ viền vàng",
được vua rất tin dùng, làm tổng đốc Lưỡng Quảng, thay mặt
triều đình lo việc kinh lý với An Nam. Ở triều đình thì
việc này giao cho Hòa Khôn (tức Hòa Thân, viên quan nổi tiếng
tham nhưng lại được vua Càn Long tin dùng) trực tiếp phụ
trách. Cả hai tên này đều không thích gì việc đánh Việt Nam.
Mặt khác, sau đại thắng, Quang Trung tìm cách hòa hiếu. Ông sai
Ngô Thì Nhậm thảo thư gửi Phúc Khang An, nói rõ ta không có ý
đánh nhau mà thực ra lỗi thuộc về Tôn Sỹ Nghị. An bày cho ta
đưa vàng bạc đút lót cho Hoà Khôn. Khôn liền tâu với vua
Thanh xin bãi việc binh, phong vương cho Quang Trung. Khôn nói:
<em>"Từ xưa đến nay, chưa có đời nào làm nên công trạng ở
cõi Nam. Nhà Tống rồi nhà Nguyên, nhà Minh, rốt cuộc đều bị
thua trận, gương ấy hãy còn rành rành"</em>. (HLNTC)
Ngô Thì Nhậm cho Nguyễn Quang Thực, cháu gọi Nguyễn Huệ bằng
cậu, giả làm Quang Trung, sang yết kiến vua Thanh, dâng thêm hai
thớt voi đực. Dọc đường, người Thanh phải phục dịch
chuyển vận rất khó nhọc. Trong ngoài ai cũng biết là giả
dối, mà không ai dám nói.
Đến Yên Kinh, "vua" Quang Trung (giả) được đón tiếp rất
chu đáo (Càn Long không biết hay biết nhưng cố tình lờ đi?),
được phong vương. Và như vậy số phận Lê Chiêu Thống đã
sắp được định đoạt mà y không biết.
<h2>Bị ép gọt đầu gióc tóc</h2>
Trong khi ấy, Phúc Khang An giả vờ bảo Lê Chiêu Thống:
<em>"Ngày xuất quân không còn xa, vương nên tự mình đem tả
hữu liêu thuộc làm quân dẫn đường đi trước. Nhưng bây
giờ nên gọt đầu gióc tóc, thay đổi quần áo giống như
người Trung Quốc, để khi về Nam quân giặc không thể phân
biệt được, thì công lớn mới có thể thành. Sau khi khôi
phục nước nhà, bấy giờ sẽ lại theo như tục cũ. "Việc binh
không ngại dùng cách xảo trá" Vương nên nghĩ tới chỗ
đó.</em>
<em>Vua Lê cho là phải và đáp:</em>
<em>- Chúng tôi không giữ được nước nhà, may nhờ thiên
triều cứu viện, dù cả nước phải ăn mặc như người Trung
Quốc, cũng xin vâng lệnh. Việc ấy còn có tiếc gì?</em>
<em>Lê Chiêu Thống tưởng thật, vâng lệnh ngay, lại còn
nói:</em>
<em>"Chúng tôi không giữ được nước nhà, may nhờ thiên
triều cứu viện, dù cả nước phải ăn mặc như người Trung
Quốc, cũng xin vâng lệnh. Việc ấy còn có tiếc gì?"</em>
(HLNTC)
Thế là Khang An bèn làm một tờ biểu kín tâu với vua Thanh,
nói rằng vua An Nam không còn có ý xin cứu viện nữa, vua tôi
đều đã gióc tóc đổi đồ mặc, xin ở lại yên ổn trong
đất Trung Quốc. Vậy xin bãi bỏ các đạo quân định đưa sang
đánh dẹp phương Nam. Hoà Khôn nhân dịp tâu xin phong vương cho
vua Quang Trung. Vua Thanh chuẩn y.
Lừa được Chiêu Thống rồi, Khang An còn chơi trò làm nhục
ông vua lưu vong bằng cách bố trí cho Chiêu Thống chạm trán
phái đoàn sứ bộ của Quang Trung, làm cho Chiêu Thống rất tức
tối.
Sau đó Khang An lại tìm cách ly gián Lê Chiêu Thống với các
bề tôi còn chút tinh thần dân tộc. Trong số bề tôi này,
đáng chú ý nhất là Lê Quýnh.
Nguyên Quýnh đã từng theo Lê Chiêu Thống sang cầu cứu nhà
Thanh năm 1788. Lúc quân Thanh kéo vào nước ta, Quýnh được dịp
thả sức say mê tửu sắc, <em>"ân oán riêng dù bằng cái tơ,
sợi tóc cũng đều đền báo không hề sót"</em> (HLNTC).
Khi vua chạy theo tàn quân Tôn Sỹ Nghị, Quýnh được giao ở
lại để chiêu mộ lực lượng trong nước.
Tháng 5-1789, Khang An cho trát đòi bọn Quýnh sang <em>"bàn việc
nước"</em>. An cho giải Quýnh loanh quanh, mãi tháng 9 mới cho
gặp, nhưng rồi <em>"việc nước"</em> chỉ là ép Quýnh gọt
đầu gióc tóc và đổi đồ mặc như người Than mà thôi. Quýnh
cùng hiệp trấn Nguyễn Mậu Nễ, tri phủ Nguyễn Đồng, Trịnh
Hiến, chỉ huy Lê (Doãn) Trị, hàn lâm viện cung phụng Lý Bỉnh
Đạo, cả bọn thà chết chứ không chịu gọt đầu gióc tóc.
Quýnh và nhiều đồng chí của mình bị đi đày. Trong số này,
Nguyễn Đồng bị bệnh chết ở châu Nam Ninh, Nguyễn Mẫu Nễ
chết ở Liễu Châu.
Cuối cùng, Khang An cũng nói trắng với bọn Quýnh là thiên
triều đã phong vương cho Quang Trung rồi, nay chẳng những nhà
Thanh không kéo quân sang giúp nhà Lê mà bọn Quýnh cũng không
thể nào về nước được nữa. Tốt nhất là ở lại Trung
Quốc, An sẽ xin vua vua Thanh bổ dụng.
Nhưng Quýnh chối từ: <em>"Lưu lại nội địa, không phải sở
nguyện của chúng tôi. Vì lưu lại đây, thì bỏ việc nước
không hỏi đến, ấy là bất trung. Bỏ cha mẹ không đoái
đến, ấy là bất hiếu. Phụ những kẻ đồng tâm chết với
nước, ấy là bất nghĩa. Lỡ lòng mong cứu khỏi đầm, chữa
khỏi cháy, ấy là bất nhân. Vì nước mà đổi thành bán
nước, ấy là bất trị. Liều mình mà trái lại giấu mình,
ấy là bất dũng, mang đủ sáu điều đó, sao xứng được làm
người? Trung Hoa tuy rộng, cũng không đất dung những đồ chó
lợn ấy".</em> (BHTK).
Quýnh bị đày đi Quảng Đông (có sách nói là Sơn Đông). Tháng
3-1790, nhân xa giá vua Thanh đi Đông tuần, Quýnh được gặp Càn
Long. Càn Long bảo: <em>"Chúng bay không vì sự thịnh suy mà tiến
thoái, khá khen lòng thành giữ trung nghĩa. Trẫm không nỡ khép
tội"</em>. Nhưng lại vẫn ép: <em>"Chủ các ngươi đã xin yên
ổn ở lại Trung Quốc, lũ các ngươi giốc lòng cùng theo, thì
nên lập tức gọt đầu gióc tóc, đổi đồ mặc để chờ
mệnh lệnh"</em> (BHTK).
Nhà Thanh đưa Quýnh lên Yên Kinh. Tại đây chúng vẫn tiếp tục
ép Quýnh gọt đầu gióc tóc. Quýnh vẫn chống lại. Quýnh
thuyết phục bọn quan lại nhà Thanh rằng chữ trung mình đã
không giữ được thì xin cho về phụng dưỡng mẹ già để
vẹn chữ hiếu. Bọn chúng bảo: <em>"Chúa các anh ở đây, mà
các anh không theo, thế thì trung được sao?"</em>. Và bố trí
cho vua tôi gặp nhau.
Tại cuộc gặp, các quan nhà Thanh cố lấy lời khéo dỗ vua Lê
bảo bọn Quýnh cắt tóc. Bọn Quýnh khóc, lạy mà nói rằng:
<em>"Bọn Quýnh sống làm tôi nhà Lê, chết làm ma nhà Lê.
Ngoài ra thì không phải sở nguyện"</em> (BHTK).
Các quan nhà Thanh mắng: <em>"Mệnh chúa anh, anh cũng không theo.
Ấy há là đạo của kẻ làm tôi sao?"</em> (BHTK). Quýnh trả
lời: <em>"Bổn phận kẻ làm tôi thờ vua vốn phải theo mệnh,
nhưng cũng phải theo lẽ buộc đừng theo. Nếu có thể nhờ
vậy mà không phục mệnh vua, thì ấy cũng là theo mệnh vua đó.
Nay, cái mệnh bảo cắt tóc, ở miệng thì là mệnh, nhưng trong
tâm thì không phải là mệnh. Bọn Quýnh nguyện theo cái mệnh
trong tâm của chúa mình, kẻo chúa cũng bất đắc dĩ mới phải
làm cái sự (các ngài) yêu cầu đó mà thôi"</em> (BHTK).
Bọn quan nhà Thanh tiếp tục giam lỏng Quýnh. Cuối năm đó lại
dụ Quýnh: <em>"Cạo đầu thì vua tôi cha con sẽ đoàn tụ vui
vẻ cùng nhau. Sao mà cứ một mực ngây ngốc, không chịu theo
gần nhân tình đến thế?"</em>. Quan bộ đường đề thẩm,
chức thượng thư là Hồ Quý Đường, bảo rằng: <em>"Các anh
nếu không cạo tóc thì sẽ chết già trong ngục, chôn thây theo
sở nhà tù. Cắn rốn (hối hận) sao kịp?"</em> (BHTK).
Quýnh và ba người nữa tiếp tục bị giam. Đầu năm 1799, Quýnh
lại làm tờ tâu:
<em>"Chúa cũ là tôi con thiên triều. Quýnh là dân của chúa
cũ, thì không những nghĩa và lý đáng phải tránh làm dân
Nguyễn Huệ, mà tấc lòng tôi cũng không thẹn. Cúi xin trời
che, đất chở, khí xuân nuôi, lòng bể chứa, bằng lòng cho
bọn Quýnh về làm tên dân ở biên giới Lưỡng Quảng, được
qua lại (đường ranh) buôn bán gần chỗ an trí. May chi được
thăm viếng mẹ già và nuôi nấng, thì không còn điều gì oán
tiếc. Nếu sức có thể đem gia quyến tới ở nội địa, thì
cũng xin được tuỳ tiện mà làm..."</em> Quan tả thị lang họ
Hùng bảo: <em>"Phải xin cắt tóc và xin cho ở cạnh doanh An Nam.
Nếu không như thế, thì sẽ bị đưa an trí ở Nhiệt Hà. Các
anh xin điều nào?".</em>
Bọn Quýnh lại trả lời như trước rằng:
<em>"Xin thả ra để đem thân xác về. Được thế thì nguyện
cắt tóc để tạ ơn trời. Nếu không được thế, thì xin giữ
tóc để hợp lẽ trời" </em>(BHTK).
<h2>Tuyệt vọng</h2>
Lại nói về Lê Chiêu Thống, trong thời gian ở Yên Kinh vẫn
tiếp tục dâng biểu xin nhà Thanh cho viện binh về nước khôi
phục nhà Lê. Nếu không được thì cũng cho mượn 2 châu Tuyên
Quang, Hưng Hóa để xây dựng lực lượng, hoặc lẻn vào Gia
Định cầu viện Nguyễn Ánh. Bọn quan nhà Thanh thì luôn tìm
cách dối quanh để khất lần. Có lúc chúng bảo cho mượn
đất Khâm Châu (Quảng Đông), có lúc bảo cho về Tuyên Quang.
Có lần, bực quá, một tên dắt ngựa của vua Lê là Nguyễn
Văn Quyên, phải chửi: <em>"Bọn chó Ngô vô lễ, dám làm nhục
vua ta"</em>, rồi lấy gạch ở sân ném bừa vào bọn chúng.
Đám quân lính giữ vườn nổi giận, xúm lại đánh Văn Quyên
gần chết, đoạn bắt giam một tháng, Văn Quyên nhân thế bị
bệnh mà chết.
Một người con của Càn Long biết sự tình của vua tôi Lê
Chiêu Thống, có ý thương xót, liền khuyên Hòa Khôn lời lẽ
phải chăng. Khôn tâu lại với vua, anh này liền bị đánh đòn,
sau sinh bệnh chết. Từ đấy, vua Lê không còn dám nói đến
việc xin quân cứu viện nữa, nhưng trong lòng uất ức khôn
nguôi.
Mùa hè năm Nhâm Tý (1792), con đầu của vua Lê lên đậu rồi
mất. Vua Lê lo buồn sinh bệnh, thoi thóp nằm liệt không dậy
được. Năm sau, bệnh nhà vua càng nguy kịch, rồi mất (Càn Long
thứ 58, 1792), thọ 28 tuổi.
Ngày 11-10, niên hiệu Gia Khánh nhà Thanh (1799), Thái hậu (mẹ Lê
Chiêu Thống) cũng mất ở <em>"Tây An Nam doanh"</em>. Vua Thanh cho
chôn cạnh lăng Lê Chiêu Thống.
Ngày mồng 4-4 năm Gia Khánh thứ 5 (Canh Thân, 1800), bọn Quýnh
được thả ra khỏi ngục, dời đi ở cách phía tây kinh thành
mười hai dặm, tại Lam xưởng an trí ở doanh Hoả Khí ngoài.
Đầu tóc, ăn mặc được phép tự do. Phần mộ chúa cũ,
được phép thăm viếng. Quýnh liền làm một bài thơ, trình quan
bộ Hình và quan coi ngục. Bài thơ có câu rằng:
<center><em>Kéo tóc khôn đền mưa móc mới,
Ngoảnh đầu sợ phụ núi sông xưa.</em></center>
Tuy nhiên khoảng tháng 7-1883 lại bị bắt lại.
<h2>Trở về cố quốc</h2>
Năm Giáp Tý (1804), lúc này triều Tây Sơn đã mất, Nguyễn Ánh
lên ngôi vua. Nhà Thanh cho Lê Quýnh cùng các quan tòng vong
được đưa di hài Chiêu Thống về táng ở quê nhà và cho tất
cả các người bề tôi trốn theo đều được về nước. Các
bề tôi mở quan tài vua Lê Chiêu Thống (đã quàn 12 năm) thì
thấy da thịt đã nát hết, chỉ có trái tim không nát, mà sắc
máu hầu như vẫn còn đỏ tươi! (chi tiết này ghi trong HLNTC,
không rõ thực hư thế nào).
Khi di hài vua Lê đưa về đến cửa ải, có bà hoàng phi của
vua là Nguyễn Thị Kim nghe tin, liền từ Kinh Bắc lên cửa ải
để đón linh cữu. Ngay từ hôm ấy, hoàng phi tuyệt thực,
hằng ngày vật vã bên linh cữu mà khóc lóc. Ngày 23-8-1804, di
hài đưa về đến Thăng Long, các quan thay hài cốt vua Lê sang
một chiếc tiểu khác, thấy trái tim vẫn còn y nguyên.
Tế xong, hoàng phi đến trước hương án khóc lóc thảm thiết,
rồi sau đó, uống thuốc độc tự tử. Người khắp nước ta
và người Trung Quốc đều khen là bậc <em>"tiết nghĩa"</em>.
Các bề tôi trốn theo vua Lê, về sau, vào năm Tự Đức thứ 14
(1860), được nhà vua cho lập đền thờ ở phía tây thành Thăng
Long, tại phường Thuỵ Chương, thuộc huyện Vĩnh Thuận. (Có
tài liệu cho là ngõ 124, đường Thụy Khê, Hà Nội ngày nay).
Chính giữa thờ Lê Quýnh (thuỵ là Trung Nghị), bên tả 11 vị,
bên trái 11 vị, phía đông thờ 5, phí tây thờ 5. Như vậy tất
cả gồm 33 người, đều được gọi là <em>"Cố Lê tiết nghĩa
thần"</em> (các bầy tôi tiết nghĩa đời Lê) và ngôi đền
cũng đề là <em>"Cố Lê tiết nghĩa từ"</em> (đền thờ các
bậc tiết nghĩa đời Lê).
Theo chúng tôi, Lê Quýnh và một số <em>"tiết nghĩa"</em> nói
trên chỉ đáng khen mỗi việc kiên quyết không gọt đầu gióc
tóc như người Thanh, dù bị tù đày, đe dọa, mua chuộc thế
nào, chứ hành động bán nước là không thể tha thứ. Mặt
khác, tình cảnh của họ cũng như vua Lê những ngày sống lưu
vong và bị giam cầm trên đất Trung Quốc cũng có phần đáng
thương. Nhận định về Bắc hành tùng ký, nhà nghiên cứu
Nguyễn Đăng Na viết: <em>"Tác giả đã ghi lại tâm trạng đau
khổ, uất ức, tủi nhục của mình nói riêng, của vua tôi nhà
Lê nói chung trong những ngày sống trên đất Trung Hoa. Tác phẩm
như một tấm gương phản tỉnh những ai có ảo tưởng "phục
quốc" bằng con đường dựa vào người nước ngoài"</em>[ii].
<strong>Đào Tiến Thi</strong>
______________________________________________
[i] <em>Hoàng Lê nhất thống chí</em> là một tác phẩm tuy viết
theo hình thức tiểu thuyết chương hồi nhưng thực chất là
một ký sự lịch sử ghi chép người thật việc thật.
[ii] Nguyễn Đăng Na: <em>Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung
đại</em>, Nxb Giáo dục, 2001.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/11450), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét