Võ Trí Hảo - Quyền tuyển và đuổi "đầy tớ của dân"

<h2>"Ông chủ", "đầy tớ" và nạn nhân của tệ tham
nhũng</h2>

Trong những lần khẳng định: ở nước Việt Nam, mọi quyền
bính đều thuộc về nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác
định rõ mối quan hệ giữa Chính phủ và người dân. Người
viết: "<em>Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ
từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân,
nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân chứ không phải để
đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của
Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc
gì hại đến dân ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu
dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta</em>"[1]. <em>Nhân dân
có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Nếu Chính phủ làm
hại dân thì dân có quyền đuổi Chính Phủ. Từ Chủ tịch
nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được
việc cho dân thì dân không cần đến nữa.</em>[2] Như vậy,
người đã luôn khẳng định: Dân là chủ, Chính phủ là "đầy
tớ" của dân.

"Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính
phủ". Quyền "đuổi Chính phủ" này cũng được hiểu là
quyền của người dân - "ông chủ" "đuổi đầy tớ".
Nhưng từ "thời dân chủ cộng hòa" cho đến nay, đã hơn
sáu mươi lăm năm qua, người dân vẫn chưa biết "đuổi đầy
tớ" bằng cách nào, khi "đầy tớ" "không làm được
việc cho dân".

Hiện nay, một doanh nghiệp dân doanh thì không cần áp dụng
luật chống tham nhũng, cũng không cần đến các ban bệ phòng,
chống tham nhũng, chỉ cần đến một tổ chức rất đơn giản
là Ban kiểm soát, nhưng tham nhũng trong doanh nghiệp - cũng như
trong khu vực dân doanh - rất thấp. Các cổ đông trong doanh
nghiệp dân doanh không cần đưa ra lý lẽ, bằng chứng về
những vi phạm của ban giám đốc, nhưng ban giám đốc vẫn rất
sợ bị sa thải, bởi các cổ đông này có thể hành xử quyền
"đuổi đầy tớ" một cách trực tiếp, nguyên vẹn, không bị
cắt xén. Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước thì lại có rất
nhiều các cơ quan có chức năng phòng chống tham nhũng "cùng nhau
đan lưới", nhưng những vụ việc kiểu Vinasin vẫn dễ dàng
"lọt lưới". Hiện tượng này có thể được lý giải bởi lý
do: tất cả các "cơ quan đan lưới" này không phải là nạn
nhân trực tiếp của tệ tham nhũng. Thậm chí, trong lòng "những
con cá lọt lưới" có phần còn biết ơn "những bàn tay kéo
lưới" thô vụng một cách đáng ngờ.

Ai mới là nạn nhân cuối cùng của tệ tham nhũng? Nạn nhân
của tệ tham nhũng thì nhiều, không chỉ riêng người dân mà
có cả công chức, thậm chí quan chức cấp cao trong một số
trường hợp cũng có thể trở thành nạn nhân của tệ tham
nhũng. Nhưng quan chức chỉ là số ít. Và họ ít khi là nạn
nhân cuối cùng của tệ tham nhũng, vì có thể, ở chỗ này họ
là nạn nhân, nhưng ở chỗ khác có thể họ lại được
hưởng lợi từ tham nhũng. Chỉ có người dân mới là nạn
nhân cuối cùng của tham nhũng, nạn nhân truyền kiếp nếu vẫn
còn tệ tham nhũng. Họ có thể bị tác động trực tiếp khi
phải đưa dấm dúi phong bì ở "cửa quan", có thể bị tác
động gián tiếp khi tiền thuế mà họ đóng góp đã không quay
lại phục vụ nhân dân mà chảy vào túi tư.

Các nạn nhân này, với tư cách là người chủ đất nước,
đang tìm cách và luôn tìm cách khắc chế tham nhũng, nhưng phải
thừa nhận là hiện tại, họ - ông chủ - đang thiếu công cụ
của một người chủ thực thụ để thực hiện quyền "đuổi
đầy tớ".

<h2>Tuyển "đầy tớ"</h2>

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định nguyên tắc "các
cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều
là công bộc của dân", "nhân dân có quyền đôn đốc và phê
bình Chính phủ. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền
đuổi Chính phủ" trong bối cảnh đất nước mới giành được
độc lập, khoảng 80% dân chúng còn mù chữ và cuộc sống còn
muôn vàn khó khăn khác, nhưng để đảm bảo quyền "đuổi
đầy tớ" của nhân dân thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn
dắt thông qua Hiến pháp 1946 với nhiều quyền dân chủ thực
sự, đã tiến hành một cuộc bầu cử công bằng và kết quả
là đã hình thành nên một Chính phủ chịu trách nhiệm trước
nhân dân. Trong cuộc bầu cử 1946, chưa có cơ chế hiệp
thương, các ứng viên được lựa chọn địa bàn ra ứng cử
(đơn vị bầu cử nào), chứ không phải do Hội đồng bầu cử
trung ương phân bổ như bây giờ[3]. Bởi vậy, các ứng viên
đã lựa chọn nơi mình có nhiều mối quan hệ gắn bó nhất,
và theo họ, là nơi cử tri có hiểu biết về họ nhiều nhất,
để ra ứng cử. Chính vì vậy, sự hiểu biết của cử tri về
ứng cử viên rất tốt, đặc biệt là mối quan hệ lợi ích
giữa ứng viên và cử tri rất gắn bó, mặc cho phương tiện
truyền thông thời đó rất lạc hậu. Một đơn vị bầu cử
có thể có tới hàng chục ứng cử viên, nên tính cạnh tranh
giữa các ứng cử viên rất cao. Tất cả các ứng cử viên này
đều phải "thi đấu" hết mình trước nhân dân và hồi hộp
chờ kết quả từ sự phán xét của cử tri.

Ứng cử viên ngày nay cũng hồi hộp trong bầu cử, nhưng đỉnh
điểm của sự hồi hộp diễn ra trước kỳ bầu cử. Bởi vì
trước khi bầu cử sẽ diễn ra quá trình hiệp thương. Hiệp
thương hứa hẹn một kết quả bầu cử đẹp: mỗi đơn vị
bầu cử không có quá nhiều hay quá ít ứng viên, tỷ lệ nam
nữ, thành phần dân tộc, các ngành, vùng miền, thành phần dân
cư... của đại biểu dân cử sẽ được cơ chế hiệp thương
sàng lọc trước khi cuộc bầu cử thực sự diễn ra. Với cơ
chế hiệp thương, việc cung cấp danh sách các ứng cử viên
gần như được quy về duy nhất một "nhà cung cấp". Các ứng
cử viên có thể được phân bổ về một địa phương xa lạ
và một đối thủ cạnh tranh xa lạ. Việc Ủy ban thường vụ
Quốc hội ấn định tỷ lệ, thành phần đại biểu Quốc hội
(ĐBQH)[4] có thể ví với việc cấp quota xuất nhập khẩu.

Cơ chế cấp quota xuất nhập khẩu là một đặc điểm dẫn
đến việc cộng đồng quốc tế chưa thừa nhận Việt Nam có
một nền kinh tế thị trường tự do đầy đủ. Thì cũng như
vậy đối với cơ chế "cấp quota ứng cử viên đại biểu
nhân dân". Thị trường cung ứng "công bộc nhân dân" chỉ tự
do cho bên mua (tự do cho cử tri), nhưng đối với bên cung ứng
(các ứng cử viên) thì phải được cấp quota và trải qua ba
vòng chọn lọc của cơ chế hiệp thương. Trong khi đó, một
thị trường cạnh tranh tự do thực sự chỉ tồn tại khi cả
bên mua và bên cung ứng đều có quyền tự do thực thụ; thiếu
tự do cho một trong hai bên thì thị trường chưa thể được
xem là hoàn hảo. Vì thị trường thiếu hoàn hảo nên chưa cần
cuộc bầu cử chính thức diễn ra thì người dân Việt Nam
trước đó đã có thể biết được cơ bản người "chăn dân"
là ai, "đầy tớ" của mình là ai. Điều này dẫn đến một
hệ quả tiếp theo, là người "chăn dân" sẽ đặt mối quan tâm
và chú trọng hàng đầu đến việc làm hài lòng người có
quyền "phân phối quota", sắp xếp cuộc bầu cử, sau đó mới
đến dân nguyện, vì họ phải tìm cách làm sao mà chưa cần
bầu cử thì thiên hạ đã tin là họ sẽ đắc cử. Vì những
yếu tố trung gian này trong quá trình tuyển dụng "công bộc",
nên ý chí của nhân dân sẽ bị khúc xạ, tán xạ khi đi qua
các bộ lọc (filter) của cơ chế hiệp thương. Hay nói cách
khác, quyền tuyển dụng "công bộc" của nhân dân bị suy giảm,
nên các "công bộc" ngày nay sẽ được nhiều tự do hơn so với
"công bộc" được nhân dân tuyển dụng vào năm 1946. Sau khi
Quốc hội khóa XIII thông qua nghị quyết phê chuẩn bổ nhiệm 4
Phó Thủ tướng và 22 Bộ trưởng, Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng đã có bài phát biểu nhậm chức. Người đứng đầu
Chính phủ cam kết: "Chúng tôi nguyện sống và làm việc theo
Hiến pháp và pháp luật, thường xuyên học tập và làm theo
tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực sự
cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, thực sự là công bộc
(tác giả nhấn mạnh) của dân, việc gì có lợi cho dân thì
phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết
sức tránh, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phục vụ
đất nước". Chúng ta không hề nghi ngờ lời cam kết của Thủ
tướng, nhưng vì những yếu tố gây khúc xạ, tán xạ này, nên
Thủ tướng và Chính phủ sẽ rất khó để làm "công bộc"
mẫu mực của dân khi toàn bộ hệ thống cán bộ, công chức
còn lại đang được tuyển dụng và phục vụ nhân dân theo
cách thức, cơ chế cũ.
Sa thải "đầy tớ"

Ấy là nói về việc thực hiện quyền lực của nhân dân trong
việc tuyển dụng "công bộc", còn việc đuổi những "đầy
tớ" "không làm được việc cho dân" - hay theo cách nói dân
gian là các "đầy tớ hư" - lại càng khó hơn. Vì theo Điều 56
Luật Tổ chức Quốc hội thì khi "ĐBQH không còn xứng đáng
với sự tín nhiệm của nhân dân thì tùy theo mức độ phạm
sai lầm mà bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm".

Như vậy, điều kiện đầu tiên để có thể bãi nhiệm là
nhân dân phải chứng minh đại biểu phạm sai lầm, mà việc
chứng minh phạm sai lầm của người đại biểu thì không dễ,
vì họ thường không trực tiếp thực hiện công việc mà chỉ
nắm vị trí lãnh đạo. Và "ông chủ" trong trường hợp này
không thể "đuổi đầy tớ" chỉ vì không thích, không đạt
được kỳ vọng; đặc biệt không thể đuổi "đầy tớ" khi
họ không chịu làm gì cả, vì không làm gì cả thì sẽ không
phạm sai lầm nào.

Và kể cả khi đại biểu phạm sai lầm rồi thì câu chuyện
"đuổi đầy tớ" không phải là câu chuyện giữa "người chủ"
và "đầy tớ" mà là câu chuyện giữa "đầy tớ to" và "đầy
tớ bé", giữa "đầy tớ tập thể" và "đầy tớ cá nhân".
Bởi vì, nhân dân chỉ được trực tiếp tiến hành bỏ phiếu
bãi nhiệm ĐBQH khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định
đưa vấn đề này ra trước dân. Và thực tiễn cho thấy, lịch
sử Việt Nam chưa có lần nào xảy ra việc đưa ĐBQH ra cho cử
tri trực tiếp bỏ phiếu bãi nhiệm. Mặt khác, tuy Điều 56
đoạn 1 Luật Tổ chức Quốc hội có nêu là đề nghị bãi
miễn đại biểu có thể xuất phát từ Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc hoặc từ chính cử tri. Nhưng quyền khởi xướng đề
nghị bãi miễn của cử tri trên thực tế bị vô hiệu hóa,
bởi không có văn bản nào hướng dẫn tiếp theo về thủ tục
hình thành đề nghị bãi miễn, số lượng cử tri cần thiết
phải có cho một đề nghị bãi miễn...

Với hai bất cập về bãi miễn người đại biểu này thì dẫn
đến "ông chủ" không có quyền trực tiếp hình thành nên
đề xuất "đuổi đầy tớ" và cũng không có quyền tự mình
trực tiếp "đuổi đầy tớ". Và khi nhân dân không thực quyền
trong tuyển dụng và sa thải "đầy tớ" thì tính chịu trách
nhiệm của các "đầy tớ" trước nhân dân của toàn bộ bộ
máy nhà nước nói chung sẽ thấp. Tính chịu trách nhiệm thấp
sẽ dẫn đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước thấp,
tham nhũng tăng.

Muốn khắc phục được hiện tượng này thì những vấn đề
bầu cử, bãi nhiệm cần phải được quy định ở tầm hiến
pháp, thay vì nằm rải rác ở Luật Bầu cử ĐBQH, Luật Bầu
cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Quy chế hoạt của Hội
đồng nhân dân... vì đây là những vấn đề sống còn, gốc
rễ của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Khi được điều chỉnh ở tầm hiến pháp, thì cần cân nhắc
bỏ cơ chế hiệp thương hoặc chí ít là chỉ hiệp thương
một vòng thay vì ba vòng như hiện nay. Với trình độ dân trí
năm 1946, chúng ta vẫn tiến hành thành công một cuộc bầu cử
dân chủ, công bằng và tự do thì không có lý gì, dân trí
Việt Nam 65 năm sau lại tụt lùi đến mức không đủ trình
độ lựa chọn ai là người đại biểu đích thực của mình,
dẫn đến cần phải có người định hướng, ấn định sẵn
cơ cấu thành phần Quốc hội cho mình./.

______________

<strong>Chú thích</strong>

[1] Thư gửi Ủy ban Nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, báo
Cứu quốc số ra ngày 17/10/1945.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, NXB Sự Thật, trang 283.

[3] Điều 14 Khoản 7 Luật bầu cử ĐBQH

[4] Điều 30, 32, 43 Luật bầu cử ĐBQH

<strong>Nguồn:</strong> Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng
Quốc hội, đăng ngày 20/12/2012, <a
href="http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/quyen-tuyen-va-201c111uoi-111ay-to201d-cua-dan">truy
cập tại đây</a>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10973), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét