chí,
Kính chuyển đến quí vị "Toàn văn Phán Quyết của LHQ về
bắt người tùy tiện tại VN" nội dung bằng tiếng Việt do
Diễn đàn Chân Trời Mới chuyển ngữ. Các phán quyết quan
trọng này đã mở ra một diễn đàn mới mà người VN chúng ta
cần quan tâm. Đã từ lâu, điều 79 và 88 của Bộ Luật Hình
Sự đã bị CSVN lạm dụng nhằm khống chế quyền tự do tư
tưởng của người dân.
Để hổ trợ cho các phong trào đấu tranh dân chủ trong nước,
kính mong quí vị tiếp tay phổ biến rộng rãi và cùng chúng
tôi lần lượt đưa ra công luận thế giới những trường hợp
vi phạm nhân quyền tại VN.
Trân trọng,
Mai Hương
Trưởng Ban Liên Lạc Truyền Thông Việt Ngữ</div>
=============
<strong>Liên Hiệp Quốc</strong>
<strong>Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền</strong>
<strong>Quy chế điều tra đặc biệt của Hội đồng Nhân
quyền</strong>
Ủy ban Điều tra về Bắt giữ Tùy tiện
Telefax: (41) (0) 22 917 90 06
Telegram: UNATIONS, GENEVE
Telex: 41 29 62
Telephone: (41) (0) 22 917 92 98
Internet: www.ohchr.org
Email: wgad@ohchr.org
Địa chỉ: Palais des Nations
CH-1211 GENEVE 10
Văn bản số: G/SO 218/2
<div class="rightalign">Ngày 28 tháng 11 năm 2011</div>
<center><h2>PHÁN QUYẾT số 46/2011 (Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam)</h2></center>
<center><h2>Công văn đã gửi tới Chính phủ (Việt Nam) ngày 24
tháng 6 năm 2011</h2></center>
Liên quan tới các bà Trần Thị Thúy, Phạm Ngọc Hoa và các ông
Phạm Văn Thông, Dương Kim Khải, Cao Văn Tỉnh, Nguyễn Thành Tâm
và Nguyễn Chí Thành
Quốc gia này là thành viên ký kết Công ước Quốc tế về các
Quyền Dân sự và Chính trị.
1. Ủy ban Điều tra về Bắt giữ Tùy tiện được thành
lập theo nghị quyết 1991/42 của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về
Nhân quyền. Các quyền hạn của Ủy ban Điều tra được nêu
rõ và mở rộng bởi nghị quyết 1997/50. Hội đồng Nhân quyền
nhận lãnh các quyền hạn này theo quyết định 2006/102. Các
quyền hạn được gia hạn thêm 3 năm theo nghị quyết 15/18,
thông qua ngày 30 tháng 9 năm 2010.
2. Các trường hợp sau đây được Ủy ban Điều tra xem là
hành động tước đoạt tự do một cách tùy tiện:
I. Khi rõ ràng không thể viện dẫn bất kỳ cơ
sở pháp lý nào để biện minh cho việc tước đoạt tự do
(như khi một người tiếp tục bị giam giữ dù đã mãn hạn tù
hay đã được áp dụng luật ân xá) (Loại I);
II. Khi việc tước đoạt tự do chỉ vì người đó
hành xử các quyền và trong các lãnh vực tự do đã được
bảo đảm bởi các điều khoản 7, 13, 14, 18, 19, 20 và 21 của
bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, và đối với các Chính
phủ liên quan, đã được qui định tại các điều khoản 12,
18, 19, 21, 22, 25, 26 và 27 của Công ước Quốc tế về các
Quyền Dân sự và Chính trị (Loại II);
III. Khi các nhà nước liên hệ bất tuân thủ, một
phần hay toàn bộ, các thông lệ quốc tế về quyền được
xét xử công bằng, được thiết lập trong bản Tuyên ngôn
Quốc tế Nhân quyền và trong các quy chế quốc tế liên hệ.
Sự bất tuân thủ này trầm trọng đến độ tạo ra tính tùy
tiện của việc tước đoạt tự do (Loại III);
IV. Khi những người xin ẩn náu, di dân, hay tị nạn
bị giam giữ hành chính quá lâu mà không có quy chế hành chính
hoặc pháp lý nào để xét duyệt hay giải tỏa (Loại IV);
V. Khi việc tước đoạt tự do vi phạm luật pháp
quốc tế vì những lý do kỳ thị theo nguồn gốc sinh ra; quốc
tịch, chủng tộc hay gốc gác xã hội; ngôn ngữ; tôn giáo;
tình trạng kinh tế; quan điểm về chính trị hay các lãnh vực
khác; giới tính; xu hướng luyến ái; khuyết tật hay các tình
trạng sức khỏe khác. Và sự kỳ thị này nhắm tới hoặc gây
ra tình trạng bỏ mặc sự bình đẳng về nhân quyền (Loại V).
<h2>Các dữ kiện đã đệ nạp</h2>
<em>Các trao đổi từ Nguồn đệ đơn</em>
3. Căn cứ vào Nguồn đệ đơn, các bà Trần (Thị Thuý) và
Phạm (Ngọc Hoa); cùng các ông Phạm (Văn Thông), Dương (Kim
Khải), Cao (Văn Tỉnh), Nguyễn (Thành Tâm) và Nguyễn (Chí Thành)
(sau đây gọi chung là phía "những Người thỉnh cầu") đều
là các nhà hoạt động cho quyền sở hữu đất đai. Họ bị
các cán bộ Công an bắt giữ và đưa ra xử ngày 30 tháng 5 năm
2011 tại Tòa án Nhân dân Tỉnh Bến Tre. Họ bị kết tội hoàn
toàn chỉ vì họ có quan hệ với "Vietnam Reform Party" (sau
đây gọi tắt là "Việt Tân"), một tổ chức đối lập
tại Việt Nam.
4. Nguồn đệ đơn tường thuật rằng Những người thỉnh
cầu đã bị bắt giữ và kết tội trong các hoàn cảnh sau
đây:
· Bà Trần (Thị Thúy), bị bắt ngày 10 tháng 8 năm 2010.
Không có bất cứ thông tin nào được thông báo cho gia đình
về số phận và nơi giam giữ bà cho tới ngày 20 tháng 8 năm
2010. Theo cáo trạng, "Trần Thị Thúy đã tham gia 'Việt
Tân'", thường xuyên liên hệ và gặp gỡ để nhận tài
liệu, khẩu hiệu để phân tán và thường nhận tiền từ
"Việt Tân" để trang trải cho các chi phí hoạt động, tổng
cộng tới 8 triệu Đồng Việt Nam và 350 Đô la Mỹ". Bà bị
kết án 8 năm tù giam và 5 năm quản chế.
· Ông Phạm (Văn Thông), bị bắt ngày 19 tháng 7 năm 2010.
Cáo trạng buộc tội ông vào Điều 79 Bộ luật Hình sự Việt
Nam. Theo cáo trạng, "Phạm Văn Thông đã nhận các tài liệu,
khẩu hiệu để phát tán, thành lập "Hội ái hữu tương trợ
Việt Nam" với thành viên khắp nơi trong nước và nhận tiền
từ "Việt Tân" để chi trả cho chi phí hoạt động tổng
cộng tới 900 ngàn Đồng Việt Nam". Ông bị kết án 7 năm tù
giam và 5 năm quản chế.
· Ông Dương (Kim Khải), bị bắt ngày 16 tháng 8 năm 2010.
Ông bị kết án vi phạm Điều 79 Bộ luật Hình sự Việt Nam.
Theo cáo trạng, "Dương Kim Khải tham gia tổ chức "Việt
Tân", nhận tài liệu, khẩu hiệu, chỉ thị, tổ chức việc
phát tán và nhận tiền từ "Việt Tân"cho các chi phí hoạt
động tổng số tới 700 Đô la Mỹ". Ông bị kết án 6 năm tù
giam và 5 năm quản chế.
· Ông Cao (Văn Tỉnh), bị bắt ngày 22 tháng 2 năm 2011.
Ông bị kết án vi phạm Điều 79 Bộ luật Hình sự Việt Nam.
Theo cáo trạng, "Cao Văn Tỉnh tham gia tổ chức 'Việt
Tân'", thường xuyên liên hệ gặp gỡ tổ chức "Việt
Tân", nhận và phát tán các tài liệu, khẩu hiệu và nhận
tiền từ "Việt Tân" để trang trải các chi phí hoạt động
tổng số tới 1 triệu 700 ngàn Đồng Việt Nam". Ông bị kết
án 5 năm tù giam và 4 năm quản chế.
· Ông Nguyễn Thành Tâm, bị bắt ngày 20 tháng 7 năm 2010.
Cáo trạng buộc tội ông về Điều 79 Bộ luật Hình sự Việt
Nam. Bản cáo trạng ghi rằng "Nguyễn Thành Tâm tham gia tổ
chức 'Việt Tân', nhận và phát tán các tài liệu, khẩu
hiệu, thành lập 'Hội ái hữu tương trợ Việt Nam' khắp
nước và nhận tiền từ 'Việt Tân' để trang trải các chi
phí hoạt động tổng cộng tới 900 ngàn Đồng Việt Nam". Ông
bị kết án 2 năm tù giam và 3 năm quản chế.
· Ông Nguyễn Chí Thành, bị bắt ngày 19 tháng 11 năm
2010. Ông bị truy tố vi phạm Điều 79 Bộ luật Hình sự Việt
Nam. Cáo trạng chỉ ra rằng "Nguyễn Chí Thành tham gia tổ
chức 'Việt Tân', tham gia vào việc chỉ đạo và phân phối
tài liệu, khẩu hiệu, và nhận tiền từ 'Việt Tân' để
trang trải các chi phí hoạt động tổng cộng 1 triệu 800 ngàn
Đồng Việt Nam". Ông bị kết án 2 năm tù giam và 3 năm quản
chế.
· Bà Phạm (Ngọc Hoa), bị bắt ngày 19 tháng 11 năm 2010.
Bà bị truy tố vi phạm Điều 79 Bộ luật Hình sự Việt Nam vì
đã "tham gia tổ chức 'Việt Tân'", nhận tiền của
"Việt Tân" cho chi phí hoạt động và phân phối cho các nhóm
hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bến Tre, tổng cộng
lên tới 500 Đô la Mỹ và 1 triệu 500 ngàn Đồng Việt Nam".
Bà bị kết án 2 năm tù giam và 3 năm quản chế.
5. Nguồn đệ đơn cho biết từ khi bị bắt cho đến khi
bị đưa ra xét xử, những Người thỉnh cầu bị cấm mọi
loại liên lạc mặc dù thân nhân và các luật sư bào chữa đã
xin liên lạc nhiều lần. Tất cả đã bị xử vào ngày 30 tháng
5 năm 2011 tại Tòa án Nhân dân Tỉnh Bến Tre và bị kết tội
hoàn toàn chỉ vì mối quan hệ của họ với "Việt Tân" -
một đảng đối lập tại Việt Nam.
6. Theo Nguồn đệ đơn cho biết, các cáo trạng đối với
những Người thỉnh cầu ghi rằng "'Việt Tân' là 1 tổ
chức phản động lưu vong chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam
và Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trong
khoảng thời gian từ tháng Tám 2009 đến tháng Tư 2010, các bị
cáo Trần Thị Thúy, Dương Kim Khải, Phạm Văn Thông, Cao Văn
Tỉnh, Phạm Ngọc Hòa, Nguyễn Thành Tâm và Nguyễn Chí Thành
được tổ chức 'Việt Tân' móc nối và đưa ra Thái Lan và
Cam Bốt để huấn luyện, kết nạp, và nhận công tác của
'Việt Tân' để trở về Việt Nam và hoạt động theo sự
chỉ đạo của tổ chức 'Việt Tân' nhằm lật đổ chính
quyền dân dân".
7. Tuy nhiên Nguồn đệ đơn đối chứng rằng 'Việt
Tân', với thành viên tại Việt Nam và trong cộng đồng
người Việt hải ngoại, chủ trương thiết lập dân chủ và
canh tân Việt Nam bằng những biện pháp ôn hòa. Theo các tin
tường thuật, hoạt động của 'Việt Tân' tập trung vào
việc tạo sức mạnh cho người dân Việt Nam để đòi công
bằng xã hội và bảo vệ quyền lợi của họ xuyên qua các
hành động đấu tranh dân sự bất bạo động.
8. Nguồn đệ đơn đệ trình rằng việc tước đoạt tự
do của những Người thỉnh cầu mang tính tùy tiện vì đó chỉ
là kết quả của việc hành xử quyền tự do nhập hội và
quyền tham gia tiến hành các hoạt động công cộng. Theo Nguồn
đệ đơn, nhà cầm quyền đã không chứng minh được những
Người thỉnh cầu đã làm bất kỳ điều gì bất hợp pháp
xét theo luật pháp quốc tế, để biện minh cho việc giam cầm
và kết án họ chỉ vì có sự liên hệ với Việt Tân. Nguồn
đệ đơn đối chứng rằng khi làm như thế nhà cầm quyền
Việt Nam đã đi ngược lại nội dung của Điều khoản 22 của
Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị, và Điều
20 của bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền. Cả 2 điều khoản
này bảo đảm quyền tự do nhập hội và tụ tập.
9. Nguồn đệ đơn trích dẫn điều 79 của Bộ Luật Hình
Sự Việt Nam như sau:
Những ai thực hiện các hoạt động, thành lập hoặc tham gia
những tổ chức âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân, sẽ bị
phạt như sau: Người tổ chức, người xúi giục, và những
người tham gia tích cực hoặc những ai gây hậu quả nghiêm
trọng sẽ bị kết án từ 12 đến 20 năm tù, tù chung thân
hoặc tử hình. Những tòng phạm khác sẽ bị phạt tù từ 5
đến 15 năm.
10. Theo quan điểm của Nguồn đệ đơn, nội dung điều khoản
này mơ hồ và không đưa ra tiêu chuẩn nào để phân biệt
giữa những hành vi nguy hiểm cho nền an ninh quốc gia và những
hoạt động thuộc lãnh vực cổ võ chính trị ôn hòa. Nguồn
đệ đơn trưng dẫn bằng cớ rằng, trong thực tế, nhà cầm
quyền xem việc tham gia bất cứ nhóm nào cổ võ cho dân chủ đa
đảng đều là 'âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân'. Theo
Nguồn đệ đơn, cách thức áp dụng Điều 79 của Bộ Luật
Hình Sự Việt Nam đang vi phạm Điều 25 của Công ước Quốc
tế về Quyền Dân sự và Chính trị, và Điều 21 của bản
Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền. Cả hai điều khoản này bảo
đảm quyền tham gia vào các công việc quốc gia. Vì thế, Nguồn
đệ đơn kết luận rằng việc bắt giữ, xét xử và kết án
những Người thỉnh cầu là hệ quả trực tiếp của việc họ
thực thi một cách ôn hòa quyền tham gia vào các công việc
quốc gia.
11. Theo Nguồn đệ đơn, các hoạt động của những Người
thỉnh cầu được đề cập trong cáo trạng của Viện Kiểm
Sát Nhân Dân tỉnh Bến Tre không hề đe dọa nền an ninh quốc
gia của Việt Nam. Theo quan điểm của Nguồn đệ đơn, những
hành động như "tham gia các khóa học đấu tranh bất bạo
động tại Thái Lan và Cam Bốt"; "làm ra và phát tán những
logo mang chữ 'HS.TS.VN', nghĩa là Hoàng Sa, Trường Sa, Việt
Nam"; và "tổ chức nông dân để phản đối tham nhũng"
đều hoàn toàn nằm trong khuôn khổ của các quyền được bảo
đảm bởi điều 12, 19 và 22 của Công ước Quốc tế về
Quyền Dân sự và Chính trị.
12. Hơn thế nữa, Nguồn đệ đơn đối chứng rằng việc giam
giữ những Người thỉnh cầu mang tính tùy tiện vì nhà cầm
quyền Việt Nam đã không tuân thủ những bảo đảm tối thiểu
cho quyền được xét xử công bằng. Trừ trường hợp của ông
Nguyễn Thành Tâm, tất cả những Người thỉnh cầu khác đều
có luật sư bào chữa do gia đình chỉ định không lâu sau khi
họ bị bắt. Tuy nhiên, nhà cầm quyền Việt Nam bị tố giác
là đã ngăn chận những luật sư này, không cho gặp các thân
chủ của họ trong suốt thời gian điều tra đến tận ngày 21
tháng Ba, 2011. Các luật sư chỉ có thể trao đổi ngắn ngủi
với thân chủ một vài ngày trước buổi xử vào ngày 30 tháng
Năm 2011. Tuần lễ trước khi xử, luật sư bào chữa vẫn không
được nhận bản cáo trạng và những tài liệu cần thiết
khác liên hệ đến vụ xử. Nguồn đệ đơn nhấn mạnh rằng
những ngăn trở của nhà cầm quyền Việt Nam là sự vi phạm
những quyền được bảo đảm trong Điều 14(3)(b) của Công
ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị. Điều này ghi
rằng "mỗi người đều phải được quyền (....) có đủ
thời gian và phương tiện để chuẩn bị cho việc bào chữa và
được liên lạc với luật sư do chính mình chọn".
13. Ngoài ra nguồn đệ đơn còn viện dẫn Điều 58 của Bộ
Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam quy định rằng luật sư bảo
chữa có quyền tham gia mọi giai đoạn của tiến trình tố
tụng hình sự; cũng như Điều 166 của Bộ Luật Tố Tụng Hình
Sự Việt Nam, quy định rằng Viện kiểm sát phải thông báo cho
bị can và luật sư bào chữa biết trong vòng 3 ngày khi có
quyết định khởi tố và trao cho họ bản cáo trạng. Cũng theo
Điều 166, luật sư bào chữa được đọc bản cáo trạng, ghi
chép, và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án. Không có
điều bảo đảm nào trên đây được tôn trọng trong vụ án
này.
14. Nguồn đệ đơn tường trình rằng những Người thỉnh
cầu bị kết án trong vòng một ngày xét xử kín. Hành động
này vi phạm Điều 14(1) của Công ước Quốc tế về Quyền Dân
sự và Chính trị, Điều 11 của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân
Quyền và Điều 18 của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam.
Theo thông tin nhận được, nhà cầm quyền Việt Nam đã ngăn
chận không cho người thân trong gia đình của các bị can đến
dự phiên tòa. Nguồn đệ đơn cho Ủy Ban biết rằng những
người ủng hộ các bị cáo, bao gồm các thành viên Hội Thánh
Mennonite và các dân oan khiếu kiện, đã bị công an xách nhiễu
hoặc bị quản thúc tại gia trong những ngày trước buổi xử
để ngăn cản họ không đến dự phiên tòa được. Nguồn đệ
đơn còn tố giác rằng những người tụ tập trước Tòa Án
Nhân Dân Bến Tre ngày 30 tháng Năm 2011 đã bị công an dùng vũ
lực bắt đi. Theo các tố giác, nhân viên ngoại giao nước
ngoài bị nhà cầm quyền Việt Nam từ chối không cho tham dự
phiên tòa.
15. Theo nguồn đệ đơn, trong phiên xử một ngày đó, mỗi bị
cáo phải ra trước tòa một mình, mặc dầu họ bị liệt kê
trong cùng một cáo trạng và được Viện Kiểm Sát xem là
thuộc về cùng một vụ án. Theo các tố giác, đây là cách
để không cho các bị cáo biết nhiều về thủ tục tại tòa
và gia tăng cảm giác cô đơn nơi các bị cáo.
16. Nguồn đệ đơn cho biết luật sư của Bà Trần và Ông
Phạm bị kéo ra khỏi tòa án trong khi tranh cãi cho thân chủ,
khiến cho các thân chủ này không có luật sư bào chữa trong
thời gian còn lại của buổi xử. Theo nguồn đệ đơn, việc
này xảy ra khi luật sư bào chữa lập luận rằng khẩu hiệu
"HS.TS.VN" do "Việt Tân" cổ xúy không mang tính lật đổ
chế độ như Viện kiểm sát cáo buộc, ngược lại nó có
nghĩa là Paracel (Hoàng Sa) và Spratly (Trường Sa) thuộc chủ
quyền của Việt Nam.
17. Nguồn đệ đơn cho biết thêm, sau phiên tòa ngày 30 tháng
Năm 2011, những Người thỉnh cầu cho đến nay bị cầm tù ở
Trại Giam của Bộ Công An tại tỉnh Bến Tre và không được
gặp gia đình và luật sư.
<em>Trả lời từ phía Chính phủ</em>
18. Trong lá thư đề ngày 24 tháng Sáu 2011, Ủy Ban đã cung cấp
cho Chính phủ Việt Nam bản tóm tắt vụ khiếu nại và yêu
cầu phía Chính phủ cung cấp những dữ kiện liên hệ đến
các tố cáo. Ủy Ban lấy làm tiếc là phía Chính phủ đã không
hồi đáp về vụ khiếu nại này do Ủy Ban đưa ra trong hạn
định.
<h2>Thảo luận</h2>
19. Mặc dù thiếu thông tin từ phía Chính phủ, Ủy Ban tự
thấy đã sẵn sàng để đưa ra phán quyết đối với việc giam
giữ những Người thỉnh cầu, theo đúng đoạn 16 của bản Tu
Chính Phương Pháp Làm Việc.
<em>Những vi phạm thuộc loại II </em>
20. Ủy Ban nhận xét rằng những Người thỉnh cầu đã bị
bắt và kết án vì sự liên hệ của họ với "Việt Nam Reform
Party", một đảng đối lập ở Việt Nam, mà hoạt động của
tổ chức này chú trọng tới việc tạo sức mạnh cho người
dân Việt Nam trong việc mưu tìm công lý xã hội và bảo vệ
quyền lợi của họ bằng những hành động đấu tranh dân sự
bất bạo động.
21. Ủy Ban nhắc lại rằng quyền tự do nhập hội và quyền
tham gia vào việc điều hành công việc chung được bảo vệ
bởi Điều 22 và 25 của Công Ước Quốc Tế vế Quyền Dân Sự
và Chính Trị. Việc tước đoạt những quyền tự do nêu trên
của những Người thỉnh cầu, vì vậy, rơi vào loại II trong
số những trường hợp tước đoạt tự do tùy tiện được
đệ trình trước Ủy Ban.
22. Về những vi phạm luật lệ quốc gia mà nguồn đệ đơn
đề cập, cụ thể là Điều 79 của bộ Luật Hình Sự Việt
Nam, Ủy Ban nhắc lại trong những phán quyết trước đây số
1/2009 (Viet Nam) (UN Doc. A/HRC/13/30/Add.1,para.37.) và số 1/2003 (Viet
Nam) (UN Doc. E/CN.4/2004/3/Add.1, para. 17) rằng, theo đúng nhiệm vụ
được giao, Ủy Ban phải bảo đảm luật pháp quốc gia thuần
nhất với những điều khoản quốc tế được nêu ra trong bản
Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền hay những định chế luật
pháp quốc tế liên hệ mà quốc gia đó đã đồng ý. Do đó,
ngay cả nếu việc giam giữ là đúng với luật pháp quốc gia,
Ủy Ban vẫn phải xem xét việc giam giữ này có phù hợp với
những điều khoản luật pháp quốc tế liên hệ hay không. Vì
không có dữ kiện gì cho thấy tính bạo động trong hoạt
động của các Người thỉnh cầu, Ủy Ban kết luận việc giam
giữ họ dựa theo Điều 79 của bộ Luật Hình Sự Việt Nam vi
phạm các quyền và lãnh vực tự do của họ mà Công Uớc Quốc
Tế Về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị và bản Tuyên Ngôn
Quốc Tế Nhân Quyền đã thừa nhận.
<em>Những vi phạm thuộc loại III </em>
23. Trong vụ việc này, các bị cáo đã bị tước đoạt quyền
được trao đổi với luật sư do họ tự chọn lựa trong giai
đoạn trước phiên xử. Đó là vi phạm Điều 14(3)(b) của Công
Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị. Đồng
thời luật sư của họ cũng không được xem xét hồ sơ của
vụ án để chuẩn bị đầy đủ cho việc bào chữa.
24. Những Người thỉnh cầu đã bị tước đoạt quyền
được xử công khai trước công chúng. Đó là vi phạm Điều
14(1) của Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự và Chính
Trị và những điều 11, 12 của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân
Quyền. Thực vậy, chính tính công khai của phiên xử mới bảo
vệ người bị cáo không bị giới thực thi công lý lạm dụng
quyền hành khi không có công luận chứng giám.
25. Ủy Ban nhận định rằng việc không tuân thủ những thông
lệ quốc tế liên quan tới quyền được xét sử công bằng,
đặt ra trong Điều 14 của Công Ước Quốc Tế về Các Quyền
Dân Sự và Chính Trị, đã trầm trọng đến mức có thể gọi
việc tước đoạt tự do của những Người thỉnh cầu là tùy
tiện.
<h2>Kết luận</h2>
26. Dựa trên những phần trên, Ủy Ban đưa ra phán quyết sau
đây:
Việc tước đoạt tự do của các bà Trần (thị Thúy) và Phạm
(ngọc Hoa), các ông Phạm (văn Thông), Dương (kim Khải), Cao (văn
Tỉnh), Nguyễn Thanh Tâm, và Nguyễn Chí Thành là tùy tiện, vi
phạm các điều 9, 10, 20, 21 của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân
Quyền và các điều 9, 14, 22, 25 của Công Ước Quốc Tế về
Các Quyền Dân Sự và Chính Trị, mà Việt Nam là một thành
viên. Những vi phạm này rơi vào loại II và III trong những thể
loại được áp dụng khi xem xét những trường hợp được
đệ nạp trước Ủy Ban.
27. Dựa trên Phán Quyết đã có, Ủy Ban yêu cầu chính phủ
Việt Nam tiến hành những bước cần thiết đề sửa chữa
tình trạng đối với các bà Trần và Phạm, các ông Phạm,
Dương, Cao, Nguyễn Thanh Tâm, và Nguyễn Chí Thành cho đúng với
các tiêu chuẩn và nguyên tắc được nêu ra trong bản Tuyên
Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Quốc Tế về Các
Quyền Dân Sự và Chính Trị.
28. Ủy Ban tin rằng, sau khi xem xét mọi hoàn cảnh của vụ
việc này, cách sửa chữa thỏa đáng là trả tự do cho những
nhân vật trên và cung cấp cho họ quyền được bảo đảm
đền bồi, theo Điều 9(5) của Công Ước Quốc Tế về Các
Quyền Dân Sự và Chính Trị.
Thông qua ngày 2 tháng 9 năm 2011
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10953), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét