việc đánh giá, phòng ngừa rủi ro đã đẩy hệ thống ngân
hàng lún sâu vào khó khăn khi có các biến động vĩ mô mang
lại - TS. Phan Minh Ngọc, Phó giám đốc nghiên cứu DN của Ngân
hàng Sumitomo Mitsui chi nhánh Singapore, phân tích.
Vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng lại một lần nữa
được đặt ra gần đây với sức nóng ngày càng tăng theo
hiện trạng xấu đi của nền kinh tế. Có điều, dường như
người ta nhìn nhận nguyên nhân gây ra bất ổn hiện nay trong
hệ thống ngân hàng là những nguyên nhân có tính ngắn hạn,
mới xảy ra gần đây, và quan trọng hơn, nằm ở phía ngân
hàng thương mại chứ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nói riêng và
Chính phủ nói chung không có liên quan gì mấy. Việc tái cấu
trúc ngân hàng xem ra cũng chưa được hiểu đúng, đầy đủ,
đôi khi được đơn giản hóa tối đa thành chuyện NHNN tìm các
ngân hàng nào nhỏ, có vẻ bí thanh khoản để tái cấp vốn
(mua lại), biến thành sở hữu nhà nước và đặt dưới sự
kiểm soát chặt chẽ của NHNN, hoặc buộc các ngân hàng này
sát nhập vào những ngân hàng lớn hơn, có vẻ "ổn" hơn, và
tiến trình này chỉ cần ngày một ngày hai là kết thúc.
Bài viết bàn về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam
sẽ bắt đầu với việc phân tích những nguyên nhân gây ra
thực trạng bất ổn của hệ thống ngân hàng, có những nguyên
nhân dài hạn bên cạnh những nguyên nhân ngắn hạn, có nguyên
nhân từ phía NHNN nói riêng và Chính phủ nói chung, đồng thời
cũng có nguyên nhân từ phía các ngân hàng thương mại.
Phần tiếp theo, bài viết sẽ nêu một số công việc cụ thể
phải làm khi tiến hành tái cấu trúc hệ thống ngân hàng với
giả thiết rằng hiện tại hệ thống ngân hàng đã lâm vào
tình trạng sắp đổ vỡ mang tính hệ thống, chủ yếu nhìn
từ góc độ thể chế và pháp lý, trong đó có những việc
phải làm ngay, trong ngắn hạn, và có những việc phải thực
hiện trong cả một quá trình lâu dài hơn.
Lưu ý rằng, do đăng tải trên tờ báo phổ thông nên bài viết
sẽ ở dưới dạng cố gắng giản lược hóa, không có nhiều
số liệu minh họa, và cũng không hoàn toàn đầy đủ, tổng
quát, chỉ nêu ra một số ý chính mà tác giả thấy cần đưa
ra thảo luận.
Có 3 tập hợp yếu tố dẫn đến sự hình thành và tích tụ
các rủi ro gây đổ vỡ mang tính hệ thống cho hệ thống ngân
hàng.
<h2>Bùng nổ về số lượng, "quên" chất lượng</h2>
Thứ nhất, đó là sự mở rộng nhanh chóng của hệ thống ngân
hàng trong những năm gần đây, nhưng không đi kèm với sự tăng
cường và hoàn thiện công tác quản lý và phòng ngừa rủi ro,
quản trị ngân hàng, cũng như công tác thanh tra giám sát của
NHNN.
<center><img src="http://vef.vn/assets/images/tienUSD.SGTT_1319282521.jpg"
/></center>
<center><em>Có 3 tập hợp yếu tố dẫn đến sự hình thành và
tích tụ các rủi ro gây đổ vỡ mang tính hệ thống cho hệ
thống ngân hàng. </em></center>
Ở Việt Nam, chỉ trong vòng mấy năm gần đây đã chứng kiến
sự bùng nổ của hệ thống ngân hàng với sự tăng mạnh về
con số ngân hàng và chi nhánh được thành lập cũng như về
tốc độ tăng trưởng tín dụng bắt nguồn từ tăng trưởng
cao của cung tiền là hậu quả của chính sách tiền tệ nới
lỏng. Đến lượt mình, gia tăng tăng trưởng tín dụng lại
dẫn đến tăng trưởng kinh tế nóng và tăng áp lực lạm phát.
Điều đáng nói là sự mở rộng nhanh chóng của hệ thống
ngân hàng không đồng hành với sự cải thiện đáng kể trong
công tác phòng ngừa rủi ro (như không áp dụng các chuẩn mực
quốc tế về phân loại vốn vay, trích lập dự phòng, và công
bố thông tin) cũng như việc giám sát, thanh tra và xử phạt
của NHNN, lại còn bị tác động bởi nạn tham nhũng, can thiệp
bởi chính quyền và các nhóm lợi ích. Công tác quản trị yếu
kém ngoài lý do xem nhẹ tầm quan trong của nó trước áp lực
mở rộng về lượng còn do bởi việc không có hoặc không
hoạt động hiệu quả của các cơ quan thanh tra, giám sát của
NHNN cũng như của các tổ chức xếp hạng rủi ro tín dụng.
Tệ hại hơn, nhiều ngân hàng được thành lập bởi các tập
đoàn kinh tế hay một nhóm lợi ích - mà nòng cốt là một số
cá nhân tư bản với mục đích là cung cấp vốn cho nội bộ
tập đoàn đó, nhóm lợi ích đó - mà vì thế chất lượng các
khoản cho vay, cũng như hạn mức cho vay, không bao giờ là điều
đáng quan tâm.
Thêm nữa, khi thị trường chứng khoán và nhà đất có dấu
hiệu tăng trưởng mạnh, các ngân hàng thi nhau đổ vốn vào
đó, tự mình đặt vào vị trí chịu cả rủi ro tín dụng lẫn
rủi ro thị trường và do đó rất dễ tổn thương nặng bởi
sự lên xuống của giá cả ở hai thị trường đầy rủi ro
này.
Sự tăng trưởng quá nhanh của hệ thống ngân hàng về lượng
nhưng không đi kèm với sự tăng trưởng tương ứng về chất,
trong đó có nguồn nhân lực ngân hàng, với nạn thiếu hụt
nhân sự lành nghề đánh giá được mức độ rủi ro là một
trong những nguyên nhân đẩy hệ thống ngân hàng Việt Nam vào
tình thế khó khăn như hiện nay.
Nhân đây, cũng cần nói thêm đôi điều về luồng ý kiến quy
kết nguyên nhân gây ra rủi ro đỗ vỡ cho hệ thống ngân hàng
Việt Nam là từ chủ trương cho thành lập mới một loạt ngân
hàng, nhất là các ngân hàng được nâng cấp từ nông thôn lên
thành thị.
Ông Lê Đức Thúy, nguyên Thống đốc NHNN và là tác giả của
chủ trương đó chỉ biện hộ một cách yếu ớt tại sao lại
làm như vậy (1) mà không thể phản biện được rằng về bản
chất chủ trương này chẳng có gì sai trái (thậm chí là
ngược lại vì làm tăng tính cạnh tranh và nhờ đó tăng
cường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng) NẾU song song
với sự ra đời của hàng loạt ngân hàng mới, các điều
kiện cần cho nó, ví dụ như chuyện đào tạo nhân lực và
tăng cường công tác quản lý, phòng ngừa rủi ro theo chuẩn
mực quốc tế ..v.v... cũng được thỏa mãn.
<h2>Bất cân đối cơ cấu và rủi ro đạo đức</h2>
Tập hợp yếu tố thứ hai làm tăng tính dễ tổn thương của
hệ thống ngân hàng Việt Nam là sự bất cân đối về thị
phần cũng như sở hữu chi phối, rủi ro đạo đức, và thiếu
vắng cơ chế khuyến khích thực thi các biện pháp quản trị
đúng đắn.
Mặc dù số lượng ngân hàng đã tăng lên nhanh chóng gần đây,
có thể nói hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn bị chi phối
bởi một số "ông lớn" ngân hàng thương mại nhà nước vốn
chiếm thị phần đa số trong thị trường ngân hàng. Tuy nhiên,
sự tập trung quá mức này cũng sẽ chẳng có gì đáng nói nếu
đi kèm với nó là động lực khuyến khích các hoạt động
đúng đắn. Sự bất đối xứng còn hiện diện ngay trong cơ
cấu sở hữu của một ngân hàng thương mại, nơi một hoặc
một vài cá nhân cổ đông vẫn chiếm đa số cổ phần của
ngân hàng. Sự tập trung quá mức này còn dẫn đến tình trạng
bất đối xứng thông tin giữa các cổ đông và vì thế những
cổ đông chi phối là người hưởng lợi. Cho dù việc cung cấp
thông tin là bắt buộc thì thông tin cung cấp cũng không được
đảm bảo là chính xác do công tác kiểm toán và các tiêu
chuẩn kế toán yếu kém.
Rủi ro đạo đức tồn tại phổ biến trong hệ thống ngân
hàng Việt Nam thông qua việc Chính phủ trực tiếp can thiệp,
chỉ đạo, hoặc bảo lãnh cho vay một số dự án, doanh nghiệp,
ngành nghề, bộ phận kinh tế nào đó, dẫn đến việc các
ngân hàng cho vay mà không cần bận tâm đến tính khả thi của
dự án, khả năng sống còn của doanh nghiệp (đây cũng có thể
coi là biểu hiện của việc tước đi động cơ buộc ngân hàng
thực thi chính sách phòng ngừa rủi ro đúng đắn). Theo đó là
cho vay quá mức, lợi nhuận thấp, dòng tiền hạn chế, và kết
cục phát sinh các khoản nợ xấu. Rủi ro đạo đức cũng phá
sinh từ việc Chính phủ tuyên bố công khai sẽ cứu giúp các
ngân hàng có nguy cơ mà không hề đưa ra một lộ trình thoái
lui nào. Bảo hiểm tiền gửi công khai và ngầm định cũng là
một nguồn khác cho rủi ro đạo đức, làm cho giới quản lý
ngân hàng ở Việt Nam càng thêm mạo hiểm đầu tư vào những
lĩnh vực đầy rủi ro mà họ sẽ không bao giờ dám làm khi
khác đi.
<h2>Tính hai mặt của chính sách vĩ mô và hội nhập</h2>
Tập hợp yếu tố thứ ba góp phần tạo ra sự đổ vỡ của
hệ thống ngân hàng là các chính sách kinh tế vĩ mô và sự
hội nhập tài chính. Trong những năm trước, nhằm kích thích
tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ và tài khóa được
nới lỏng tối đa, và tín dụng vì thế tràn ngập nền kinh
tế, không những làm tăng áp lực lạm phát mà còn chảy vào
các lĩnh vực đầu cơ đầy rủi ro như chứng khoán và bất
động sản, kéo theo sự tăng nóng về giá cả của những mặt
hàng này, lại kích thích thêm nữa tín dụng ngân hàng chảy
vào đó.
Sang năm nay, khi lạm phát đã có dấu hiệu nguy hiểm thì gánh
nặng kiềm chế lạm phát lại bị dồn lên vai chính sách tiền
tệ. Lãi suất tăng cao, còn tín dụng cho chứng khoán và bất
động sản bị thắt lại. Giá chứng khoán và bất động sản
sụt giảm làm cho giá trị các khoản thế chấp cũng sụt giảm
tương ứng. Đi kèm với đó là tình trạng nhiều nhà đầu cơ
mất khả năng thanh toán đã làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong
lĩnh vực này và làm xấu đi nghiêm trọng bảng cân đối tài
sản của nhiều ngân hàng.
Lãi suất VND cao còn dẫn đến chênh lệch lãi suất cho vay
bằng VND và USD tăng lên trong khi NHNN tuyên bố là sẽ giữ ổn
định tỷ giá. Trong môi trường đó, các doanh nghiệp và ngân
hàng được khuyến khích vay nước ngoài, vay bằng ngoại tệ
thay vì nội tệ (trong khi nguồn thu trả nợ lại bằng nội
tệ) và không bận tâm đến việc hedging phòng ngừa rủi ro
biến động tỷ giá. Nếu trong những tháng tới, tỷ giá vì
một lý do nào đó tăng vọt, chắc chắn tỷ lệ nợ xấu của
những con nợ vay bằng ngoại tệ nhưng lại có nguồn thu chủ
yếu bằng nội tệ sẽ tăng vọt.
Hội nhập tài chính cũng là một lý do quan trong làm tăng khả
năng bị tổn thương của hệ thống ngân hàng nội địa. Sự
cho phép thành lập và hoạt động các ngân hàng và chi nhánh
ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam, một mặt, mang lại những
lợi ích thiết thực như chuyển giao công nghệ và đào tạo
nhân lực, mặt khác lại làm tăng tính cạnh tranh trong hệ
thống. Do sự ưu việt hơn trong hoạt động và tập trung vào
khu vực doanh nghiệp, tập đòan kinh tế trong và ngoài nước
hàng đầu, các ngân hàng nước ngoài đã lấn át các ngân hàng
nội địa ở phân khúc này, buộc các ngân hàng nội địa
phải lấn sâu thêm vào phân khúc hạng trung gồm những doanh
nghiệp hạng hai, doanh nghiệp vừa và nhỏ và khách hàng cá
nhân, là phân khúc tất nhiên có độ rủi ro cao hơn.
Như một vòng luẩn quẩn, vì rủi ro cao hơn nên các ngân hàng
thường áp dụng lãi suất cao hơn cho các đối tượng vay này
(không hiếm khi vượt quá sức chịu đựng của họ khi có
biến động vĩ mô) và dùng thế chấp là bất động sản hay
một số tài sản có tính thanh khoản khác. Hai yếu tố này sẽ
làm ngân hàng dễ bị tổn thương hơn nữa trong môi trường
kinh tế vĩ mô bất ổn với lãi suất tăng cao và giá bất
động sản giảm dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng thêm.
Ngoài ra ngân hàng nội địa còn cạnh tranh với nhau theo khu
vực địa lý, mở thêm nhiều chi nhánh và địa điểm giao
dịch ở những vùng sâu, vùng xa hơn, đồng nghĩa chi phí họat
động tăng lên trong khi mức độ rủi ro cũng tăng lên.
Tuy vậy, đáng chú ý là bất chấp rủi ro tăng lên, nhiều ngân
hàng vẫn tiếp tục có phần trích lập dự phòng cho các khoản
nợ xấu thấp hơn bản thân các khoản nợ xấu đó vì được
phép khấu trừ giá trị tài sản thế chấp vào giá trị khoản
nợ xấu.
Để kết luận cho phần đầu bài viết, có thể thấy tình
trạng yếu kém hiện tại trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân phức hợp, đan xen lẫn nhau,
và diễn ra trong cả một quá trình kéo dài ít nhất từ vài
năm trước. Nổi lên trong đó là sự yếu kém về quản trị
trong từng ngân hàng, quản trị cả hệ thống ngân hàng, cũng
như sự thiếu vắng các động cơ khuyến khích các ngân hàng
thực thi nghiêm túc việc đánh giá, công tác phòng ngừa rủi ro
đúng đắn. Chính khiếm khuyết về cấu trúc đó đã đẩy hệ
thống ngân hàng lún sâu vào khó khăn khi có các biến động vĩ
mô mang lại từ bản thân các chính sách kinh tế trong nước
lẫn biến động đến từ bên ngoài.
(Còn tiếp)
Bài 2: Phác đồ trị 'bệnh' cho hệ thống ngân hàng
____________________
Tham khảo:
(1) Chưa phải thời điểm sáp nhập ngân hàng, Tiền Phong, ngày
19/10/2011.
http://www.tienphong.vn/Kinh-Te/555466/Chua-phai-thoi-diem-sap-nhap-ngan-hang-tpp.html
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10365), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét