<em>Sẽ suốt đời nguyền rủa lũ ông cha</em>
<em><strong>(Nguyễn Chí Thiện)</strong></em>
Một người bạn gửi cho tôi "<em>Biên bản Hội Thảo Khoa Học
Hội Khoa Học Kinh Tế Việt Nam và Trung Tâm Thông Tin và Dự Báo
Kinh Tế - Xã Hội Quốc Gia</em>" với lời nhắn "đọc ngay".
Quả thực đó là một tài liệu đặc sắc. Trước hết vì
thành phần tham dự. Xin kể một vài nhân vật: GS Trần Phương
– nguyên Phó Thủ tướng; ông Vũ Khoan – nguyên Phó Thủ
tướng; PGS Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện Kinh Tế; GS
Phan Văn Tiệm – nguyên Thứ trưởng Bộ Tài Chính; Việt
Phương – nguyên Cố vấn của cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng; bà Dương Thu Hương – nguyên Phó Thống đốc Ngân Hàng
Nhà Nước; GS Đào Xuân Sâm – nguyên Trưởng bộ môn Quản lý
Kinh tế trường Nguyễn Ái Quốc; PGS Võ Đại Lược – nguyên
Viện trưởng Viện Kinh Tế Thế Giới; GS Đào Công Tiến; cựu
Đại sứ Nguyễn Trung; TS Nguyễn Mại; Ông Vũ Quốc Tuấn; TS Lê
Đăng Doanh; GS Nguyễn Đình Hương; GS Lê Du Phong; Bà Phạm Chi
Lan; TS Lưu Bích Hồ; GS Vũ Huy Từ v.v..., với sự hiện diện
của một số thành viên tổ soạn thảo cương lĩnh, không thấy
nêu tên và chức vụ nhưng chắc chắn phải là những đảng
viên cao cấp và có trình độ kiến thức cao để được chỉ
định tham gia soạn thảo định hướng của đảng và thay mặt
đảng theo dõi buổi hội thảo này. Những tên tuổi trên đây
cho thấy thành phần tham dự hội thảo là những trí thức ưu
tú và có uy tín nhất của chế độ. Họ cũng là những trí
thức được ưu đãi nhất, những trí thức có nhiều lý do
nhất để ủng hộ chế độ. Họ được yêu cầu góp ý cho
các văn kiện chuẩn bị cho Đại Hội XI (gồm Cương Lĩnh Chính
Trị, Báo Cáo Chính Trị và Chiến Lược Phát Triển Kinh Tế -
Xã Hội 2011 -2020).
Chính vì thế mà nội dung cuộc thảo luận gây ngạc nhiên. Đã
không có một phát biểu nào thuận lợi, dù là tương đối.
Cũng không có một phê phán ôn hòa nào. Chỉ có những phủ
nhận và chê bai mỉa mai, quả quyết, gay gắt, thậm chí khinh
bỉ.
Một vài trích dẫn:
<div class="special_quote"><em>(…) Cần nhận thức lại chủ nghĩa
xã hội (CNXH), cần thay bằng một mô hình văn minh hơn;</em>
<em>(…) Quá dài, rất trùng lắp, những điều cũ kỹ, lạc
hậu, sai lầm quay lại nhiều quá. Rất nhiều điều chỉ có
thể là dự báo khoa học lại coi là chủ trương, ví dụ: đến
giữa thế kỷ XXI Việt Nam thành thế này, thế kia; giữa các
văn kiện không có tư tưởng thống nhất, các văn kiện tụt
lùi xa so với Đại Hội IX, X.</em>
<em>(…) Đánh giá sai nhiều lắm… nguy hiểm quá. Văn kiện
không có định hướng, trở nên vô nghĩa. Các văn kiện hiện
quá lạc hậu so với thời đại.</em>
<em>(…) Nhận định về quốc tế, về các nước XHCN và
tình hình đất nước sai, nên bỏ đi!</em>
<em>(…) Phải nhằm vào cải cách chính trị chứ không chỉ
kinh tế; cải cách thể chế chính trị thành một vấn đề
bức xúc, không giải quyết thì không phát triển được. Phải
xây dựng hiến pháp mới. Đã đến lúc phải đổi mới hệ
thống chính trị, phải phân định rõ vai trò lãnh đạo của
Đảng, chức năng của nhà nước. Quốc hội hiện chưa phải
là cơ quan lập pháp!</em>
<em>(…) Văn kiện không phản ánh được cuộc sống. Đổi
mới chính trị chưa theo kịp đòi hỏi, đang cản trở.</em>
<em>(…) Phải xác định cho rõ vai trò lãnh đạo của
Đảng: lãnh đạo là ai? Ai cho anh quyền lãnh đạo? Phải nhìn
thẳng vào sự thật. Lừa được người ta chứ không lừa
được thực tiễn đâu!</em>
<em>(…) Tư duy lý luận lạc hậu, mâu thuẫn, xa rời thực
tiễn; thụt lùi so với đại hội trước. Lòng tin của dân
đối với Đảng, với chế độ giảm.</em>
<em>(…) Xem thường lịch sử: nói CNXH là điều kiện để
độc lập, các triều đại trước có CNXH đâu mà vẫn độc
lập. Không gắn với thời đại, xem thường thiên hạ.</em>
<em>(…)Viết thế nào thì viết, nhưng đừng đao to búa lớn
quá, cái gọi là chủ nghĩa cộng sản đã là ảo tưởng
rồi.</em>
<em>(…) Tỉnh nào cũng có xi măng, sân bay, nhà máy thép,
cảng biển… đầu tư nham nhở.</em>
<em>(…) Loài người đi đến chỗ dân chủ. Nhưng thế nào
là dân chủ? Đảng quyết mọi thứ mà lại không chịu trách
nhiệm gì. Thế mới chết chứ.</em>
<em>(…) Tại sao các văn kiện lại ngổn ngang thế? Cương
lĩnh thất bại, tuyên truyền thất bại. Lý luận chính trị
chưa bao giờ suy đồi như bây giờ. Ngổn ngang quá. Giả dối
quá. Thật là bi kịch. Cảnh ngộ của Đảng ta từ sau Đại
Hội XI bắt đầu bước vào suy đồi.</em>
<em>(…) Toàn là giả dối cả. Nếu đưa cái cương lĩnh
chiến lược này ra mà thông qua thì sẽ ra sao đây? Quả đấm
thép không đấm vào đối thủ mà lại đấm ngay vào chính
ta.</em>
<em>(…) Dân được nói mới là dân chủ. Đảng vẫn đặt
dân tộc sau giai cấp. Dự thảo văn kiện đánh giá:"Dân chủ
trong Đảng được mở rộng". Tôi nghĩ trong Đảng là mất
dân chủ nhất. Hầu như không có nhận định nào trong văn
kiện là đúng sự thật thực tiễn.</em>
<em>(…) Đảng có dựa vào công nhân không? Có dựa vào nông
dân không? Tôi nghĩ không. Vậy dựa vào cơ sở nào? Có dựa
vào trí thức không? Cũng không nốt!</em>
<em>(…) Tình trạng mua quan bán chức lộ liễu, công khai,
hết sức nguy hiểm. Thị trường quan chức bóp chết tất các
thị trường khác. Cơ chế tuyển dụng, tuyển chọn cấp cao
như thế nào? Không công khai minh bạch. Người lãnh đạo ở
các cấp không có chịu trách nhiệm gì cả về quyết định
của mình. Bộ Giao Thông, Bộ Xây Dựng … cầu đổ, nhà đổ ,
không thấy nói gì về trách nhiệm cả. Một đất nước như
vậy thì không mong đợi gì!</em>
<em>(…) Chưa bao giờ vấn đề nghiêm trọng như bây giờ.
Dân không còn tin Đảng như trước nữa. Không ai quan tâm nữa.
Cương lĩnh đầy dẫy cái sai, cái mơ hồ. Nói XHCN mà không
biết nó là cái gì? Nhiều chuyện ta tự lừa dối mình và lừa
dối người khác.</em>
v.v...</div>
Và biên bản của cuộc hội thảo kết luận như sau:
"<em>(Các phát biểu trên đây) dù không được chấp nhận,
nhưng ít ra cũng lưu vào văn bản, lưu lại hậu thế rằng năm
2010 có một số nhà kinh tế đã nói như vậy, <strong>để hậu
thế biết rằng, hóa ra đất nước cũng còn những trí thức
không đến nỗi dốt nát</strong></em>".
Bỏ qua suy luận của một số người theo đó cuộc hội thảo
này đã được sự khuyến khích của một số thế lực trong
đảng để bêu xấu ông Nguyễn Phú Trọng, trưởng ban soạn
thảo các văn kiện chuẩn bị cho Đại Hội XI và một trong
những ứng cử viên vào chức tổng bí thư, câu hỏi đầu tiên
đặt ra sau khi đọc biên bản cuộc hội thảo này là: Còn trí
thức Việt Nam nào ủng hộ chế độ cộng sản nữa hay không
khi ngay cả những trí thức mà nó ưu đãi nhất cũng đã quay
lưng lại với nó một cách phẫn nộ? Hỏi cũng là trả lời,
những người trí thức khác chỉ có thể thù ghét hơn.
Vậy mà chế độ vẫn tồn tại. Vậy trí thức có vai trò nào
trong xã hội Việt Nam ngày nay?
Chủ nghĩa cộng sản phủ nhận vai trò lãnh đạo của trí
thức. Những trí thức nổi tiếng đã ủng hộ đảng cộng
sản trước đây hoặc trong thâm tâm không đánh giá cao chính
mình hoặc không thực sự là những trí thức lớn như nhiều
người nghĩ. Nhưng ngày nay chủ nghĩa Mác-Lênin đã được cả
thế giới, và chính các trí thức Việt Nam, nhìn nhận là một
sai lầm thì quan điểm trí thức lãnh đạo xã hội phải lấy
lại chỗ đứng của nó, chỗ đứng của một sự thực phải
được tôn trọng. <em><strong>Thảm kịch lớn nhất của đất
nước hiện nay là trí thức không lãnh đạo mà còn bị lãnh
đạo, trí tuệ phải phục tùng bạo lực, quả đấm nghĩ thay
cho cái đầu.</strong></em>
Các phát biểu của hội nghị vẽ ra chân dung của một chế
độ cực kỳ vô lý, nhưng tại sao nó vẫn kéo dài? Đây phải
là câu hỏi mà trí thức Việt Nam phải đặt ra cho mình và cố
gắng trả lời. Trong tinh thần đó kẻ viết bài này, vì cũng
tự coi là một thành phần của khối trí thức Việt Nam, xin
mạo muội đóng góp một vài ý kiến. Nếu những phân tích sau
đây có làm phiền lòng một số trí thức thì tác giả xin
được thứ lỗi và xin hiểu cho rằng những khuyết tật
được nêu ra sau đây đã hiện diện nơi chính người viết.
Lý do thứ nhất của thảm kịch này là tư tưởng chính trị
của chúng ta quá kém. Chúng ta tự hào là có bốn ngàn năm văn
hiến nhưng chúng ta không có một nhà tư tưởng nào, chưa nói
tới tư tưởng chính trị. Khuyết tật này không khó khắc
phục nếu chúng ta thực sự muốn khắc phục. Trí thức Việt
Nam có thừa khả năng để đạt tới một tư tưởng chính
trị, nhưng hình như chúng ta có một đồng thuận là chính trị
không cần học, chính trị là thực hành, không cần lý thuyết,
và không chịu hiểu rằng không có gì thực dụng hơn một lý
thuyết đúng. Một trong những hậu quả là chúng ta chỉ nhìn
dân chủ dưới những thể hiện hình thức của nó: bầu cử
tự do, tam quyền phân lập v.v... Sự hời hợt đó khiến chúng
ta không có thâm tín về dân chủ, vì thế nếu có cổ võ cho
dân chủ cũng không có sức thuyết phục. Làm sao có thể có
thâm tín về dân chủ khi chỉ biết về nó một cách sơ sài
như vậy? Mà khi chính mình đã không thực sự tin thì làm sao
có thể thuyết phục được người khác? Chỉ có sự hiểu
biết thấu đáo mới có thể đem lại thâm tín, quyết tâm và
sức thuyết phục. Dân chủ không giản dị như vậy. Nó là
thành quả không ngừng được bổ túc của một cuộc thảo
luận lớn kéo dài từ nhiều thế kỷ nay và vẫn còn tiếp
tục (sẽ không có cái gọi là <em>the end of history</em>!).
Sự hụt hẫng về tư tưởng của trí thức Việt Nam có thể
thấy được dễ dàng. Vẫn có những trí thức dân chủ gạt
phăng chủ nghĩa cá nhân như là đồng nghĩa với chủ nghĩa ích
kỷ mà không làm phiền lòng ai, <em><strong>trong khi chủ nghĩa cá
nhân chính là nền tảng của dân chủ</strong></em>. Bản Tuyên
Ngôn Phổ Cập về Quyền Con Người (hay Tuyên Ngôn Quốc Tế
Nhân Quyền) không khác gì hơn là tuyên cáo của chủ nghĩa cá
nhân. Nó lấy con người làm cứu cánh và qui định một không
gian cá nhân mà nhà nước không thể xâm phạm.
<div class="boxright300"><img src="http://danluan.org/files/u1/012.jpg"
width="492" height="800" alt="012.jpg" /><div class="textholder">Adam Smith
– Điều nghiên về bản chất và nguyên nhân của sự thịnh
vượng của các quốc gia</div></div>
Một thí dụ khác là kinh tế thị trường. Đa số trí thức
Việt Nam coi chủ thuyết kinh tế thị trường, mà Adam Smith là
người cổ võ nổi tiếng nhất, như là một lý thuyết kinh tế
theo đó nhà nước không nên can thiệp mà cứ để cho các tác
nhân kinh tế trao đổi với nhau qua thị trường rồi tự nhiên
sẽ có một bàn tay vô hình an bài tất cả một cách thỏa
đáng. Nếu quả thực như thế thì nó đã bị vất bỏ từ lâu
rồi vì rất sai, ngay cả dưới một chế độ tư bản. Không
có "bàn tay vô hình" nào dẫn dắt kinh tế cả, kinh tế thị
trường đòi hỏi những luật lệ nghiêm túc và những biện
pháp kiểm soát chặt chẽ nếu không muốn rơi vào hỗn loạn
và khủng hoảng. Tác phẩm Điều Nghiên Về Bản Chất và
Những Nguyên Nhân của Sự Thịnh Vượng Của Các Quốc Gia (An
Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations) là một tác
phẩm về triết lý chính trị, chính vì thế mà hai thế kỷ
rưỡi sau nó vẫn còn giá trị của một tác phẩm lớn.
Người ta thường đả kích chủ trương "kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa" là đã gán ghép một cách tổ
chức kinh tế và một triết lý chính trị mâu thuẫn với nhau.
Cách phản bác này không sai nhưng thiếu sức thuyết phục vì
thiếu chiều sâu. Thực ra cụm từ này còn ngớ ngẩn hơn
nhiều vì nó gán ghép hai triết lý chính trị đối chọi với
nhau; kinh tế thị trường chỉ là một tên gọi khác của chủ
nghĩa cá nhân, nền tảng của dân chủ.
Một hậu quả của sự thiếu tư tưởng chính trị là cuộc
thảo luận bênh vực dân chủ trở thành nhạt nhẽo. Nếu dân
chủ chỉ giản dị như thế thì ai chẳng biết, có gì để
nói, và ai cần nghe ai? Một hậu quả khác là phong trào dân
chủ không mạnh và không có được sự liên tục thế hệ
đáng lẽ nó phải có. Tại sao? Đó là vì chỉ có tư tưởng
mới có thể gắn bó được những con người và các thế hệ.
Các tôn giáo sở dĩ qui tụ được nhiều người và lưu truyền
được từ đời này sang đời khác là vì niềm tin của họ
được nhìn như một tư tưởng. Đầu tư vào tư tưởng chính
trị là điều trí thức Việt Nam phải làm. Khẩn cấp.
Lý do thứ hai là di sản văn hóa. Từ ngày lập quốc, khi bị
ngoại thuộc cũng như lúc tự chủ, chúng ta được nhào nặn
trong một văn hóa Khổng Giáo coi làm chính trị chủ yếu là
để làm quan. Tâm lý này được duy trì hầu như nguyên vẹn
dưới chế độ cộng sản bởi vì chủ nghĩa Mác-Lênin không
khác gì Khổng Giáo. Với một quan niệm như vậy thì dấn thân
chính trị, dù là để chống lại một bạo quyền, không hề
là một nghĩa vụ đạo đức mà chỉ xuất phát từ tham vọng
danh lợi cá nhân, một tham vọng thấp hèn vì làm quan chỉ là
làm tay sai không điều kiện. Sự hèn nhát và xu thời được
Khổng Giáo nâng lên thành những giá trị. Khổng Tử để lại
một lời giáo huấn vàng ngọc cho kẻ sĩ: nước nguy thì chớ
vào, nước loạn thì chớ ở, hoàn cảnh tốt thì ra làm quan,
hoàn cảnh xấu thì ẩn mình (nguy bang bất nhập, loạn bang bất
cư, thiên hạ hữu đạo tắc kiến, thiên hạ vô đạo tắc ẩn
- Luận Ngữ). Sau đó nếu có dấn thân chính trị thì cũng chỉ
làm chính trị kiểu nhân sĩ, nghĩa là hoặc không tham gia một
tổ chức nào hoặc nếu có tham gia thì cũng chủ yếu để lợi
dụng tổ chức cho tham vọng cá nhân của mình, chứ không phải
để xây dựng tổ chức như là một nhịp cầu phải có để
dẫn tới một tương lai đáng mong ước từ một hiện tại
không chấp nhận. Phải khẩn cấp trả lại cho đấu tranh chính
trị nghĩa thực và đúng của nó, nghĩa là đấu tranh để cải
thiện xã hội, để tôn vinh quyền làm người và đem lại phúc
lợi tối đa cho thật nhiều người. Sứ mạng cao cả và khó
khăn này kéo theo hai hệ luận: một là khi đất nước không may
lọt vào tay một chính quyền thô bạo thì đấu tranh để thay
đổi nó là một bổn phận chứ không phải chỉ là một chọn
lựa; hai là muốn đạt mục tiêu to lớn đó thì phải có sức
mạnh, nghĩa là phải có đội ngũ. Đấu tranh chính trị không
bao giờ là đấu tranh cá nhân cả, mà luôn luôn là đấu tranh
có tổ chức. Trí thức Việt Nam muốn giành tự do hay chỉ xin
tự do?
Lý do thứ ba, hậu quả của di sản văn hóa trên nhưng có tầm
quan trọng đặc biệt của nó, là chúng ta hoàn toàn thiếu văn
hoá tổ chức. Tôi đã viết khá nhiều về đề tài này, ở
đây chỉ xin nhấn mạnh một điều là không nên lầm văn hóa
tổ chức với kỹ thuật tổ chức; người ta có thể biết tổ
chức chu đáo một hội nghị, thậm chí điều khiển một cơ
quan, mà vẫn không có văn hóa tổ chức. Một cách tóm lược,
văn hóa tổ chức là toàn bộ những kiến thức, tập quán,
phản xạ, cách suy nghĩ và hành động khiến ta một mặt hiểu
tầm quan trọng của tổ chức và cảm thấy có nhu cầu sinh
hoạt trong tổ chức, và mặt khác suy nghĩ và hành xử một
cách phù hợp để giữ gìn và phát triển tổ chức. Trí thức
Việt Nam hiếu học và có thể bỏ ra hàng chục năm để nghiên
cứu một đề tài chuyên môn nhưng lại không chịu bỏ ra vài
tháng để đọc vài cuốn sách cơ bản về tâm lý xã hội.
Kết quả là họ không thấy có nhu cầu phải tham gia một tổ
chức nào và nếu đã gia nhập một tổ chức thì thường thấy
có rất nhiều lý do để rời bỏ tổ chức. Sự thiếu văn hóa
tổ chức còn được trầm trọng hóa nơi trí thức trong nước
vì một nguyên nhân khác, đó là sự kiện các tổ chức bị
cấm đoán, ngoại trừ những tổ chức được coi là những
công cụ của đảng cộng sản.
Trí thức Việt Nam hình như chưa thấy được sự nghiêm trọng
của sự thiếu vắng văn hóa tổ chức. Một câu hỏi: lấy
tiêu chuẩn nào để đánh giá mức độ văn minh và tiến hóa
của một dân tộc? Ta có thể trả lời một cách quả quyết
và dứt khoát: đó là văn hoá tổ chức. Văn hóa tổ chức
quyết định phẩm chất và triển vọng của các dân tộc.
Việc đảng cộng sản cấm sinh hoạt tổ chức phải được coi
là rất độc hại vì có tác dụng cột chân đất nước trong
sự thấp kém. Phải coi đấu tranh cho quyền tự do kết hợp
(nghĩa là thành lập hoặc tham gia các tổ chức) như là một
trong những cuộc đấu tranh sống còn của đất nước.
Cũng cần ý thức rằng đối với các cá nhân sự thiếu vắng
văn hoá tổ chức có hai hậu quả nghiêm trọng.
Một là, vì thiếu văn hoá tổ chức chúng ta không có tổ
chức, rồi vì không có tổ chức chúng ta cô đơn và bất lực,
đến lượt nó cảm giác bất lực khiến chúng ta nhút nhát.
Hai là, tổ chức – dĩ nhiên là tổ chức đúng nghĩa, do các
thành viên tự nguyện lập ra để theo đuổi một mục đích
chung, chứ không phải là tổ chức công cụ của chính quyền -
là một môi trường sản xuất và sàng lọc ý kiến (1), sự
thiếu vắng tổ chức khiến trí tuệ bị bế tắc và giới
hạn.
Quan trọng hơn hết, lý do thứ tư là sự ngộ nhận rất lớn
về tiến trình thay đổi chế độ. Phần lớn trí thức Việt
Nam cho rằng phương thức tốt nhất để thay đổi chế độ là
hợp tác để dần dần cải thiện nó từ bên trong. Diễn
nghĩa: không ra mặt phản kháng mà chỉ cố sống lương thiện,
hành xử đúng và khéo léo gợi ý khi cơ hội cho phép. Phương
thức này được ưa chuộng vì sự tiện nghi và an toàn của nó
nhưng nó sai hoàn toàn. Nó không thay đổi được chế độ mà
còn củng cố chế độ và triệt tiêu cả sự lương thiện
lẫn ý muốn thay đổi, trong nhiều trường hợp nó chỉ là
một ngụy biện cho thái độ phục tùng vụ lợi. Tiến trình
thay đổi một chế độ cũng như một tổ chức, như lịch sử
đã chứng minh và được trình bày đầy đủ trong mọi nghiên
cứu về sinh hoạt tổ chức và đấu tranh chính trị, ngược
hẳn với quan điểm này và có thể tóm lược như sau:
- Nhận thức về sự cần thiết phải thay đổi xuất hiện nơi
một số người;
- Những người này liên kết với nhau và tự cô lập với
phần còn lại để tranh đấu cho lập trường đổi mới. Họ
đảm nhận vai trò thiểu số với những hậu quả của nó, như
bị trù dập, thậm chí bị tiêu diệt.
- Họ dần dần mạnh lên, thuyết phục được hoặc khắc phục
được phần còn lại và áp đặt sự thay đổi.
Liên kết với nhau và tự cô lập là điều kiện bắt buộc
để có thể thành công của những người muốn thay đổi. Nếu
không, nếu chấp nhận luật chơi hiện hành, họ sẽ bị hòa
tan trong "thực tại" và ý chí thay đổi sẽ tiêu tan. Hơn thế
nữa, có mọi triển vọng là chính họ cũng sẽ bị lưu manh
hóa trong một bối cảnh xã hội bất lương. Đi với ma mặc áo
giấy.
Như để chứng minh rằng chính trị và đời sống chỉ là
một, đây cũng là quá trình tiến hóa của mọi chủng loại.
Lấy thí dụ tiến hóa từ vượn lên người; những con vượn
đầu tiên nơi những biến đổi ban đầu xuất hiện đã sống
biệt lập với những con vượn khác và tiếp tục tiến hóa
để thành người, nếu không chúng đã bị tiêu hóa nhanh chóng
trong cả khối lớn của chủng loại, và vượn vẫn là vượn
chứ không thành người.
Hãy tạm dừng lại trong bốn nguyên nhân chính đó. Sự kéo dài
của chế độ vô lý này, trong đó một đảng vừa thiếu trí
tuệ vừa không lương thiện lại đã mất hết tính chính đáng
đã cầm quyền một cách độc đoán quá lâu và còn ngang
ngược khẳng định sẽ tiếp tục thống trị đất nước một
cách độc đoán trong thời gian vô hạn định mà không gặp
chống đối nào đáng kể, được nhiều người giải thích là
vì dân trí ta còn kém. Như thế phải chăng hệ luận tự nhiên
là tất cả những gì chúng ta có thể làm hiện nay chỉ là
một cố gắng văn hóa nhằm nâng cao dân trí? Không gì sai hơn
nhận định này. Hoa Kỳ và các nước Châu Âu đã thiết lập
được dân chủ vào lúc dân trí của họ còn ở một mức độ
rất thấp so với chúng ta hiện nay. Và họ không có PC, Internet
và điện thoại di động; chung quanh họ cũng chỉ có những
chế độ quân chủ tuyệt đối. Và cả thế kỷ sau khi đã
bước vào kỷ nguyên dân chủ tuyệt đại đa số vẫn không
biết đọc, biết viết! Họ đã có dân chủ vì may mắn có
được những trí thức đúng nghĩa, những trí thức có tư
tưởng dân chủ và dám giành quyền lãnh đạo xã hội thay vì
chấp nhận thân phận dụng cụ của kẻ cầm quyền. Như vậy
không nên đổ lỗi cho dân trí Việt Nam thấp mà hãy lương
thiện nhìn nhận là trí thức Việt Nam kém. Kém về hiểu
biết, do chỉ học để lấy bằng cấp và đi làm chứ không
đầu tư vào tư tưởng và chính trị. Các trí thức Việt Nam
có thể chủ quan mà tưởng rằng họ hiểu biết về chính trị
khi họ đã có bằng kỹ sư cơ khí hay tiến sĩ luật nhưng
thực ra họ không biết. Và càng kém vì không dám. Có lẽ chính
vì không dám mà họ không tìm hiểu phải đấu tranh chính trị
như thế nào, rồi không biết.
Trong mọi xã hội cần thay đổi người ta thường phân biệt
những người không muốnvà những người không thể. Thảm
kịch của Việt Nam là vấn đề không đặt ra như thế, đại
đa số trí thức vừa không biết vừa không dám. Có bao nhiêu
người dám chấp nhận mất thẻ đảng và những quyền lợi mà
nó bao hàm? Và trong số những người dũng cảm này có bao nhiêu
người biết đấu tranh đúng phương thức? Cũng không thể
trốn tránh sau cái lý cớ "không làm chính trị". Dấn thân
chính trị trong hoàn cảnh đất nước hiện nay là một mệnh
lệnh của lương tâm và lòng yêu nước. Chính trị không phải
là tất cả, nhưng nếu chính quyền tồi tệ thì tất cả đều
bế tắc.
Các trí thức ưu tú trong hội nghị này tuyên bố: "<em>Trách
nhiệm của nhà nghiên cứu là nói trung thực, thẳng thắn, với
tinh thần xây dựng, mong muốn Đảng mạnh lên, đất nước
mạnh lên</em>". Tại sao lại cứ phải mong muốn "<em>Đảng
mạnh lên</em>" dù Đảng đã chỉ là một đảng như mọi
người và chính các vị cũng đã thấy? Tại sao "trách nhiệm
của nhà nghiên cứu" lại kỳ cục như vậy? Có gì là "trung
thực, thẳng thắn" trong thái độ này? Cùng lắm là tháí độ
tôi trung!
Một trí thức không tham dự hội nghị, ông Lê Hiếu Đằng,
một đảng viên cộng sản và một nhân vật cao cấp trong Mặt
Trận Tổ Quốc, nhận định đúng đắn hơn: "<em>Lúc này hơn
lúc nào hết, chúng ta phải đặt quyền lợi của đất nước,
của dân tộc lên cao nhất, hơn mọi lợi ích riêng tư, phe
nhóm</em>". Người ta chỉ có thể đồng ý và ủng hộ lập
trường này. Và tiếp theo là gì? Ông Đằng nhận định:
"<em>Trong cuộc đấu tranh cho dân chủ, chúng ta không có gì
phải sợ, tôi muốn nhắc lại điều tâm niệm này cho chính
mình mà cũng là điều muốn nhắn gửi các đồng chí, đồng
đội, bạn hữu của mình và tất cả những ai còn trăn trở
với những vấn đề của đất nước, của dân tộc. Mà tại
sao chúng ta phải sợ? Những người phải sợ là những người
đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chắc
chắn họ sẽ bị nhân dân chối bỏ, bị lịch sử phủ
nhận</em>". Càng đáng tán thành. Chỉ mong những người như ông
Đằng quyết tâm tiến tới và đừng quên rằng đấu tranh
chính trị bao giờ cũng phải là đấu tranh có tổ chức, nếu
không chỉ là lãng mạn.
Không có gì phải sợ? Tôi e rằng ông Đằng hơi chủ quan hoặc
quá lạc quan. Dĩ nhiên là tình hình không còn như trước, xã
hội Việt Nam đã chín muồi cho một chuyển hóa dứt khoát về
dân chủ và những người dân chủ, nhất là những người trong
guồng máy đảng và nhà nước cộng sản, có thể tranh đấu
cho dân chủ mà không phải chịu đựng những hy sinh quá lớn
nếu tranh đấu một cách thông minh. Bằng cớ là các trí thức
tham dự hội nghị đã có thể nói những điều họ đã nói và
chắc sẽ không gặp khó khăn nào. Nhưng dầu sao cũng vẫn phải
sẵn sàng chấp nhận một số thiệt thòi nếu đấu tranh thực
sự, nghĩa là đấu tranh có tổ chức, điều mà đảng cộng
sản còn cấm kỵ. Trở ngại và rủi ro có thực chứ không
phải là hoàn toàn không có gì phải sợ. Vả lại chẳng có
cuộc đấu tranh nào mà lại không đòi hỏi hy sinh. Nhưng chính
vì những hy sinh này mà những người dám dấn thân đấu tranh
cho dân chủ đáng được trân trọng.
Các trí thức tham dự hội nghị kết luận rằng các phát biểu
của họ dù không được chấp nhận "<em>nhưng ít ra cũng lưu
vào văn bản, lưu lại hậu thế rằng năm 2010 có một số nhà
kinh tế đã nói như vậy, để hậu thế biết rằng, hóa ra
đất nước cũng còn những trí thức không đến nỗi dốt
nát</em>".
Ý muốn để lại một di chúc cho mai sau là một ý muốn cao cả
mà người ta chỉ có thể kính trọng. Tuy nhiên có một cái gì
vừa mập mờ vừa ai oán trong kết luận này khiến người ta
không khỏi phân vân. Dốt nát là một khái niệm tương đối.
Ai cũng dốt nát trên những điều mà mình không biết và nói
chung chúng ta chỉ hiểu biết trên một số ít địa hạt, phần
còn lại chúng ta đều dốt cả. Nhưng có một vấn đề mà
mọi người trí thức đều phải quan tâm là tình hình chính
trị của đất nước hiện nay. Ai cũng đồng ý là phải đấu
tranh để thay đổi chế độ, và như thế cần có tư tưởng
chính trị và cần biết phương pháp đấu tranh chính trị. Về
điểm này chúng ta đã thực sự ra khỏi sự dốt nát chưa?
Nghiêm trọng hơn là chúng có dám tranh đấu thay đổi chế độ
không? Nếu dám thì dù không biết chúng ta cũng có thể học
hỏi để biết. Chỉ sợ chúng ta không dám. Hội nghị muốn
để lại cho hậu thế một di chúc rằng năm 2010 có những trí
thức Việt Nam không dốt nát, nhưng giữa dốt nát và hèn nhát
ký ức nào tủi hổ hơn cho con cháu?
Nguyễn Gia Kiểng
(1) Nguyễn Gia Kiểng, Tổ chức và sự hình thành của ý kiến,
Thông Luận tháng 01/2006.
© Thông Luận 2010
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/7283), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét