là nhà văn xã hội tiên phong của nền văn học mới Việt Nam
hồi đầu thế kỷ 20. Trước khi trở thành một nhà văn, nhà
báo, ông từng là thông ngôn ở toà Thống sứ Bắc Kỳ. Truyện
ngắn Sống chết mặc bay! của ông được coi là truyện ngắn
đầu tiên theo lối tây phương của văn học Việt Nam. Ngoài
tên thật Phạm Duy Tốn, ông còn viết với các bút danh Ưu
Thời Mẫn, Đông Phương Sóc, Thọ An. Một trong những người
con của Phạm Duy Tốn là nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Duy.
</div>
Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị
Hà lên to quá; khúc đê làng... thuộc phủ... xem chừng núng
thế lắm, không khéo thì vỡ mất.
Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ,
hết sức gìn giữ, kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội
đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy,
ngập quá khuỷu chân, người nào người ấy, lướt thướt như
chuột. Tình cảnh này trông thật là thảm.
<div class="boxright300"><img src="http://danluan.org/files/u1/453303.jpg"
/></div>
Tuy đánh trống liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao
xác, gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai cũng mệt lử cả
rồi. Ấy vậy mà trên trời thời mưa vẫn tầm tã trút xuống,
dưới sông thời nước cuồn cuộn bốc lên. Than ôi! Sức
người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao
cự lại được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này
hỏng mất!...
Ấy, lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem
thân hèn yếu đuối mà đối với sức mưa to lớn, để bảo
thủ lấy tánh mạng gia tài; thế thời quan cha mẹ ở đâu?
Thưa rằng: Đang ở trong đình kia, cách đó chừng bốn năm trăm
thước. Đình ấy cũng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững
chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng không việc gì.
Trong đình, đèn thắp sáng trưng; nha lệ lính tráng, kẻ hầu
người hạ, đi lại rộn ràng. Trên sập mới kê ở gian giữa,
có một mình quan phụ mẫu, uy nghi chễm chện ngồi. Xung quanh
sập, bắc bốn ghế mây, bắt đầu từ phía hữu quan, thì có
thầy đề, rồi lần lượt đến thầy đội nhất, thầy thông
nhì, sau hết, giáp phía tay tả ngài, thì đến chánh tổng sở
tại, cùng ngồi chầu bài.
Ngoài kia tuy mưa gió ầm ầm dân phu rối rít; nhưng trong này xem
chừng tĩnh mịch nghiêm trang lắm, trừ quan phụ mẫu ra, mọi
người không ai dám to tiếng. So với cảnh trăm họ đang vất
vả lấm láp, gội gió tắm mưa, như đoàn sâu lũ kiến ở trên
đê, thời ở trong đình rất là nhàn nhã, đường bệ, nguy nga:
nào quan ngồi trên, nào nha ngồi dưới; người nhà, lính lệ
như khoanh tay sắp hàng, nghi vệ tôn nghiêm, như thần như thánh.
Thỉnh thoảng nghe tiếng quan phụ
mẫu gọi: "Điếu, mày!" tiếng tên lính thưa: "Dạ"; tiếng
thầy Đề hỏi: "Bẩm, bốc?" tiếng quan lớn truyền "ừ". Kẻ
này:
"Bát xách... Ăn", người kia: "Thất văn... Phỗng", lúc mau, lúc
khoan, ung dung êm ái, khi cười khi nói, vui vẻ dịu dàng. Thật
là tôn kính, xứng đáng với một vì phúc tinh...
Khi đó, ván bài quan đã chờ rồi. Ngài xơi bát yến vừa xong,
ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi, mắt đang mải trông đĩa nọ,
bỗng nghe ngoài xa, tiếng kêu vang dậy trời đất... Mọi
người giật nẩy mình, duy quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le
chực người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ. Vì ngài sắp
ù to.
Có người khẽ nói:
- Bẩm, đê có khi vỡ!
Ngài cau mặt gắt rằng:
- Mặc kệ.
Rồi ngài xếp lại bài, quay gối dựa sang bên tay phải, nghiêng
mình, bảo thầy đề lại:
- Có ăn không thì bốc chứ!
Thầy đề vội vàng:
- Dạ, bẩm bốc.
Vừa lúc đó, thì tiếng người kêu rầm rĩ, càng nghe, càng
lớn. Lại có tiếng ào ào như thác chảy xiết; rồi lại có
tiếng gà, tiếng chó, trâu, bò kêu vang tứ phía.
Bấy giờ ai nấy ở trong đình, đều nôn nao sợ hãi. Thốt
nhiên một người nhà quê, mình mẩy lấm láp, tất tả chạy
xông vào, thở không ra lời:
- Bẩm... quan lớn... Đê vỡ rồi!
Quan lớn đỏ mặt, tía tai, quay ra, quát rằng:
- Đê vỡ rồi!... Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày,
thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không?... Lính đâu? Sao bay
dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không còn
phép tắc gì nữa à?
- Dạ, bẩm...
- Đuổi cổ nó ra!
Ngài quay vào, hỏi thầy đề:
- Thầy bốc quân gì thế?
- Dạ, bẩm con chưa bốc.
- Thì bốc đi chứ!
Thầy đề, tay run cầm cập, thò vào đĩa nọc, rút một con bài
lật ngửa, xướng rằng:
- Chi chi!
Quan lớn vỗ tay xuống sập kêu to:
- Đây rồi!... Thế chứ lại!
Rồi ngài vội vàng xòe bài, miệng vừa cười, vừa nói:
- ù! Thông tôm, chi chi nẩy!... Điếu mày!...
Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi
miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa
trôi băng lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết
không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình
cảnh sầu thảm, kể sao cho xiết!
Tạp chí Nam Phong,
Số 18, tháng 12 - 1918
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6749), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét