Tự do ngôn luận trên Internet và vấn đề quản lý nhà nước về thông tin trên mạng

<em>PGS. TS Vũ Thư & NCV Bùi Đức Hiển (từ Viện Nhà nước và
Pháp luật) viết riêng cho Blog dinhthehung. Chân thành cảm ơn các
tác giả </em>

<strong>1. Tự do ngôn luận của công dân trên phương tiện
internet</strong>

Tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của quyền
con người. Đó là quyền tự do bày tỏ ý kiến, bàn bạc, nêu
vấn đề, chỉ trích… liên quan đến những vấn đề xã hội,
chính trị và các vấn đề khác thuộc đời sống chung của
cộng đồng xã hội. Trong xã hội hiện đại, đây là quyền
hết sức quan trọng phản ánh nhu cầu tối thiểu để con
người được xứng với con người trong một xã hội văn minh.

Ngày nay, quyền tự do ngôn luận được ghi nhận trong hiến
pháp và các văn bản pháp luật quan trọng nhất ở mỗi nhà
nước. Ở nước ta, tự do ngôn luận là quyền hiến định
được ghi nhận tại Điều 69 Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ
sung năm 2001): <em>"Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do
báo chí; có quyền được thông tin…"</em>. Quyền này được
cụ thể hóa trong Điều 2 của Luật Báo chí hiện hành về
bảo đảm quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên
báo chí: <em>"Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công
dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận
trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.
Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và
được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào
được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không
ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn
luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập
thể và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in,
phát sóng"</em>. Việc ghi nhận quyền tự do ngôn luận của
công dân trong pháp luật nước ta, một mặt thể hiện đòi
hỏi nội tại về phát triển tự do của con người Việt Nam;
mặt khác, thể hiện là sự thực thi cam kết của nước ta khi
gia nhập các công ước quốc tế về quyền con người. Theo
đó, quyền tự do ngôn luận là thể hiện quyền của con
người, là giá trị mang tính phổ quát được thừa nhận chung
và rộng rãi. Điều 19 Công ước quyền Dân sự và Chính trị
1966 mà Nhà nước ta đã gia nhập ngày 24 tháng 9 năm 1982, ghi
nhận như sau:

<div class="special_quote">"1. Mọi người đều có quyền giữ
vững quan điểm mà không ai được can thiệp vào.

2. Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao
gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi
loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức
tuyên truyền miệng hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình
thức nghệ thuật hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng
khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ." </div>


Tự do ngôn luận được hiểu là sự bày tỏ ý kiến một cách
công khai, rộng rãi của một cá nhân, tổ chức với mọi
người, với xã hội. Nếu tự do ngôn luận thiếu đi đặc
tính đó thì nó không còn là tự do ngôn luận nữa. Tuy nhiên,
tự do không có nghĩa là có thể nói về bất cứ cái gì và
nói bất kể như thế nào. Tự do ngôn luận là có giới hạn
và đi liền với trách nhiệm của người sử dụng quyền
này[1]. Trong một cách diễn đạt mang tính triết học, tự do
được hiểu là sự nhận thức được cái tất yếu và thực
hiện theo cái tất yếu đó. Trong một cách diễn đạt khác,
tự do được quan niệm trong giới hạn là không được xâm
phạm đến tự do của người khác. Khi đặt vấn đề tự do
trong tương quan với pháp luật, Montesquieu viết rằng:<em> "Tự
do là quyền được làm tất cả những gì pháp luật cho phép.
Nếu một công dân làm điều trái luật thì anh ta không còn
được tự do nữa; vì nếu để anh ta tự do thì mọi người
đều được làm trái luật cả"</em>[2]. Như vậy, không có
tự do tuyệt đối mà chỉ có tự do có giới hạn. Thực ra, khi
bàn về tự do ngôn luận thì bên cạnh tính phổ quát, còn
phải tính đến tính đặc thù của nó. Không có khuôn mẫu
chung cho quyền tự do ngôn luận của cá nhân ở mọi quốc gia.
Mỗi quốc gia tuỳ theo các đặc điểm kinh tế, xã hội, chính
trị, văn hóa, đạo đức, truyền thống… của mình còn thể
hiện tính đặc thù trong quyền tự do ngôn luận của công dân
với không gian riêng của mình. Người ta cũng có thể thấy
được ngay các vùng lãnh thổ khác nhau, chẳng hạn, phương
Đông và phương Tây quan niệm về quyền tự do ngôn luận cũng
có những điểm không giống nhau.

Tự do ngôn luận là quyền tự do của cá nhân. Trong ý nghĩa
tích cực của nó, cá nhân khi bày tỏ ý kiến của mình là mong
muốn được người khác, được xã hội biết đến để cùng
bàn luận, giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra. Đảng và
Nhà nước ta luôn coi trọng và trân trọng các ý kiến của cá
nhân để điều chỉnh và nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh
đạo và quản lý nhà nước, thể hiện đúng đắn ý chí nhân
dân. Mặt khác, thông tin trong tự do ngôn luận cũng là yếu tố
mà trong trách nhiệm trước người dân, Đảng, Nhà nước phải
tính đến như một nhân tố khách quan của lãnh đạo và quản
lý nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực thì trong đời
sống xã hội sinh động còn có thái cực khác trong sử dụng
quyền tự do ngôn luận. Đó là khi các cá nhân sử dụng quyền
này vượt quá giới hạn một cách vô ý hay nghiêm trọng hơn
là lợi dụng quyền tự do ngôn luận để xâm hại lợi ích
hợp pháp của người khác, của xã hội. Đối với các
trường hợp như vậy, nó cần phải được lên án và phải có
các giải pháp xử lý.

Như vậy, tự do ngôn luận là hiện tượng vốn chứa đựng
trong nó yếu tố tích cực, nhưng nó cũng có thể bị lợi
dụng làm công cụ gây hại cho người khác, cho xã hội. Nhìn
tổng thể, quyền tự do ngôn luận một cách chính đáng có
thể được hiểu như sau: <em>"Tự do ngôn luận là một quyền
cơ bản của con người, trong đó, cá nhân tự do và bình đẳng
trong việc thể hiện quan điểm của mình với người khác,
với xã hội mà không ảnh hưởng hay xâm phạm đến lợi ích
chính đáng của người khác, đến an ninh quốc gia, trật tự
công cộng, sức khỏe cộng đồng hay đạo đức xã
hội"</em>.

Có lẽ vấn đề quyền tự do ngôn luận vẫn có thể/hoặc
chỉ bàn đến một cách bình thường, nếu không đặt nó trong
thời đại được gọi là thời đại internet[3]. Với sự hiện
diện của công nghệ thông tin và truyền thông mới này, thông
tin do cá nhân thực hiện quyền tự do ngôn luận gửi đến xã
hội dường như được nhân lên gấp năm, gấp mười và với
tốc độ mà tin tức từ bên kia trái đất có thể tới bên
này trái đất chỉ sau ít phút. Những hình thức thông tin có
tính truyền thống như: báo viết, truyền hình, phát thanh… xem
ra trở nên nhỏ bé trước nó, cho dù internet không thể là công
cụ thay thế chúng được. Và, bây giờ, người ta có thể nói
đến sức mạnh của internet mà không cảm thấy đã giành ngôi
cao quá đáng cho nó. Internet đã trở thành phương tiện giúp
việc truyền đạt, trao đổi thông tin, hợp tác, giao lưu…
giữa mọi cá nhân, tổ chức và quốc gia trên khắp hành tinh
diễn ra nhanh chóng và cực kỳ tiện ích, góp phần vào sự
phát triển của quyền tự do ngôn luận trên toàn thế giới.
Trong cuộc tiếp xúc với các nhà lãnh đạo Trung Quốc vào
cuối tháng 11 năm 2009, chính Tổng thống Mỹ, Barac Obama từng
phát biểu ca ngợi công cụ hữu hiệu này, khi ông cho rằng
nhờ có nó mà ông đã trở thành Tổng thống nước Mỹ. Ông
nhìn thấy ở đó sức phá hoại không thể tưởng tượng hết
được:<em> "mạng internet hiện giờ trở thành vũ khí hủy
diệt hàng loạt"</em>[4].

Theo cách hiểu phổ biến nhất, internet là hệ thống thông tin
toàn cầu sử dụng giao thức internet (internet Protocol – IP) và
tài nguyên internet để cung cấp các dịch vụ và ứng dụng
khác nhau cho người sử dụng[5]. Mặc dù có nhiều cách hiểu
khác nhau, song về cơ bản đều khẳng định internet là một
hệ thống thông tin toàn cầu dựa trên một giao thức liên
mạng có thể kết nối mọi người trên khắp hành tinh với
nhau. Đối với quyền tự do ngôn luận, internet là một phương
tiện đặc biệt với nhiều ưu việt hơn so với các phương
tiện truyền thông khác. Cụ thể là:

Về kỹ thuật, internet là mạng thông tin toàn cầu được kết
nối khắp nơi trên thế giới bằng giao thức internet (internet
Protocol – IP) nên rất thuận lợi cho việc truyền dẫn thông
tin một cách nhanh chóng.

Về lượng thông tin, chưa có phương tiện truyền thông nào
lại có khả năng chứa đựng lượng thông tin khổng lồ, đa
dạng và phong phú như thông tin trên internet. Các thông tin
được phân làm nhiều chủ đề với những lĩnh vực và mức
độ khác nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học
kỹ thuật,… từ mức độ là các mẩu thông tin cho đến các
bài nghiên cứu, bình luận về hầu khắp các vấn đề trong
nước, khu vực và thế giới; từ hình ảnh một cá nhân, một
tập thể đến cả các quốc gia, dân tộc… đều được trình
bày với nhiều chiều, nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nói
chung, qua internet dường như chúng ta có được tất cả những
thông tin cần thiết.

Về số người tham gia trao đổi và tiếp nhận thông tin gồm
nhiều thành phần khác nhau với số lượng rất lớn. Theo
thống kê tính đến tháng 9 năm 2009 Việt Nam có 21.963.117
người sử dụng internet, chiếm 25,6% dân số [6], nhiều hơn
bất cứ độc giả của tờ báo nào. Số liệu thống kê khác
cũng cho thấy, 42% dân số ở bốn thành phố lớn của Việt Nam
là TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và Cần Thơ đã truy cập
internet. Thời gian bình quân sử dụng internet mỗi ngày đã tăng
gần gấp đôi, từ 22 phút năm 2006 lên 43 phút năm 2008. Trong khi
đó, thời gian xem tivi hàng ngày đã giảm 21% xuống còn 233 phút
năm 2008[7].

Về giá cả, sử dụng thông tin trên internet giá rẻ hơn. Ví
dụ, một tờ báo Tuổi trẻ giá 2.500đ chúng ta chỉ có thể xem
được những thông tin gói gọn trong đó, song với 2.500đ chúng
ta có thể có 2 tiếng vào mạng để tìm kiếm được rất
nhiều thông tin trên rất nhiều loại báo, thời gian tìm thông
tin cũng nhanh hơn nhiều và có thể kiếm được chùm những
thông tin về vấn đề cần biết.

Về độ sâu của thông tin, cùng lúc, thông tin trên mạng
internet là chuyên sâu và tập trung hơn so với các phương tiện
truyền thông khác. Chỉ bằng vài động tác, các thông tin cần
quan tâm được hiện lên tùy theo từng vấn đề mà có độ
dày đặc, nông sâu từ nhiều nguồn khác nhau. Các chủ thể
khác nhau tham gia có thể trên cùng một vấn đề tự do bày tỏ
ý kiến đưa lại những gợi ý, lời khuyên trong nhiều trường
hợp là rất chí lý. Qua internet chúng ta có thể dễ dàng tìm
kiếm được những tư liệu ở nhiều mức độ và thời gian
khác nhau, đồng thời có thể truy tìm đến cả những tư liệu
gốc có độ chính xác cao qua các thư viện điện tử…

Về tốc độ truyền tin và tiếp nhận, trao đổi tin, thông tin
trên mạng internet do những ưu thế đặc biệt của mình nên
khả năng lan truyền rất nhanh, chỉ cần có một thông tin
được đưa lên mạng thì mọi nơi trên thế giới đều có
thể truy cập và tìm thấy. Do sự kết nối toàn cầu thông qua
internet, khoảng cách giữa con người với con người ở hai
đầu của trái đất chỉ cách nhau vài cái click chuột, thông
tin trao đổi và nhận dễ dàng chỉ trong phần trăm của giây.
Ví dụ: chúng ta muốn tìm một thông tin liên quan đến động
đất năm 2008 ở Trung Quốc, nếu tìm trên báo viết thì phải
mất cả ngày lục lại may ra có thể tìm được, nhưng qua
internet chỉ cần vài từ khóa và một click chuột trong vài giây
chúng ta có thể tìm thấy…

Ngoài ra, xét về lưu trữ thông tin, khả năng lưu trữ thông
tin của internet là rất tốt và lâu dài…

Ngày nay, do sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin, hầu
hết các phương tiện như: Máy tính, điện thoại di động
đều được kết nối internet, kết nối truyền hình và có
thể tham gia các giao lưu trực tuyến… Mọi người ở khắp
nơi trên thế giới đều có thể thực hiện quyền tự do ngôn
luận của mình giúp họ thể hiện, chia sẻ quan điểm, thái
độ, tình cảm về mọi lĩnh vực khác nhau về kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội…

Phân tích trên đây cho thấy thông tin trên mạng internet là một
phương tiện đặc biệt quan trọng, được ưa dùng để cá
nhân thực hiện tự do ngôn luận. Trong mối quan hệ với quyền
này của công dân, internet có vai trò:

Thứ nhất, là phương tiện để kết nối, giúp công dân biết
và hiểu về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước. Ngược lại thông tin trên mạng internet giúp
Đảng, Nhà nước hiểu được thực tế đời sống đất
nước cũng như quan điểm, thái độ, tâm tư, tình cảm của
người dân;

Thứ hai, thông qua các diễn đàn (forum), qua các cổng thông tin
điện tử (Portal), các Website và đặc biệt là qua các blog,
nhân dân thực hiện quyền tự do ngôn luận góp ý, bày tỏ quan
điểm của mình về các vấn đề xã hội. Ở góc độ tích
cực nó tạo ra một cơ chế phản biện tốt cho Đảng và Nhà
nước trong hoạt động của mình để đưa ra những quyết sách
phù hợp nhằm phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh
quốc gia…

Do vậy, tạo lập một chế độ pháp lý thích hợp sẽ làm cho
quyền tự do ngôn luận trên Internet đóng vai trò tích cực trong
xây dựng và phát triển đất nước. Xã hội hiện tại mà
chúng ta đang sống là xã hội thông tin hay nói cách khác, thông
tin từ nhiều phía là không khí để thở của xã hội hiện
đại. Song, trong thực tế, sự vật luôn có tính hai mặt.
internet vừa là nguồn thông tin tốt để con người hoàn thiện
hơn cuộc sống của mình, nhưng nó cũng chứa đựng những
thông tin xấu, ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm, thái
độ và hành vi của con người…Tuy vậy, nhìn chung, thông tin
trên internet lợi nhiều hơn hại. Thông tin được cởi mở,
rộng rãi, nhiều chiều là cơ sở để mỗi công dân phải trở
thành con người chủ động, có năng lực lựa chọn và tự
quyết, khắc phục tình trạng các công dân chỉ được thói
quen suy nghĩ dựa dẫm, thụ động. Điều đó làm cho công dân
miễn dịch hay biết xử lý độc lập với những thông tin
xấu.

Tuy nhiên, đối với nước ta, trong quá trình đi đến chỗ làm
cho công dân có được sự miễn dịch trên, cần đến sự trợ
lực của Nhà nước thông qua hoạt động quản lý thông tin
trên mạng internet. Đó là điều mà bất cứ nhà nước nào
cũng đang thực hiện ở mức độ, cách thức khác nhau. Các câu
hỏi đặt ra là quản lý như thế nào để không cản trở
đến việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân?

<strong>2. Quản lý nhà nước về thông tin trên mạng internet và
bảo đảm quyền tự do ngôn luận ở nước ta hiện nay</strong>

Theo số liệu thống kê, năm 1990, Việt Nam mới có 258 tờ báo
và tạp chí, nay đã tăng gấp 3 lần với 700 cơ quan báo in, 850
ấn phẩm. Cả nước có 68 đài phát thanh, truyền hình ở cấp
trung ương và ở tỉnh thành, 80 báo điện tử, 55 nhà xuất
bản, bên cạnh đó có hàng nghìn trang tin điện tử của các
cơ quan, tổ chức của Nhà nước[8]. Hiện ở Việt Nam có
khoảng 15.000 nhà báo được cấp thẻ hoạt động trong mọi
loại hình báo chí, từ các tờ báo viết hàng ngày cho đến
các tạp chí nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt là các báo
điện tử. Bên cạnh đó còn có hàng nghìn trang thông tin điện
tử của các tổ chức, các doanh nghiệp và hàng trăm nghìn
thậm chí hàng triệu blog của các cá nhân… Thực tiễn cho
thấy các website, và các blog là cơ sở và phương tiện quan
trọng để nhân dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do
thông tin của mình. Tuy nhiên, ở nước ta, internet cũng là một
phương tiện được các thế lực thù địch, tổ chức khủng
bố… lợi dụng để phục vụ cho mục đích đen tối, như:
tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng,
chống phá Nhà nước, kích động thù hằn dân tộc, tôn giáo,
gây diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ, tuyền truyền
văn hóa phẩm đồi trụy, mua bán ma tuý, rửa tiền… làm tha
hóa nhân cách, lối sống của con người… Mặt trái đó của
thông tin trên mạng internet đặt ra trước Nhà nước ta nhiệm
vụ cần phải quản lý thông tin trên mạng và blog.

Quản lý nhà nước nhằm hạn chế phát tác hoặc khử bỏ tác
động của những thông tin xấu trên mạng của Nhà nước ta là
công việc cũng giống như công việc phải làm của các nhà
nước khác. Một học giả người Mỹ nào đó đã từng phát
biểu: thật điên rồ khi không có một quy định pháp luật về
quản lý thông tin trên mạng internet. Tuy nhiên, có quan điểm cho
rằng việc quản lý nhà nước về thông tin trên mạng internet
sẽ ảnh hưởng thậm chí là cản trở việc thực hiện quyền
tự do ngôn luận của người dân. Thực ra thì đây là hai vấn
đề cần phải phân biệt mạch lạc. Nếu quản lý nhà nước
mà dẫn đến chỗ hạn chế quyền tự do ngôn luận của công
dân thì đó là sự quản lý đã gây tác hại, nhưng quản lý
nhà nước đối với thông tin trên mạng trong giới hạn có
thể sẽ không làm ảnh hưởng hoặc cản trở việc thực hiện
quyền tự do ngôn luận, thậm chí ở chừng mực nhất định
quản lý nhà nước góp phần làm cho việc thực hiện quyền
tự do ngôn luận được minh bạch và hữu ích hơn.

Để bảo đảm thực hiện có hiệu quả quyền tự do ngôn
luận của công dân qua internet và khắc phục những tiêu cực
phát sinh từ thông tin trên mạng, hầu khắp các nước trên
thế giới đã và đang ban hành các quy định pháp luật để
quản lý thông tin trên mạng internet[9]. Ở nước ta, Nhà nước
cũng rất quan tâm đến vấn đề này và đã tiến hành các
hoạt động quản lý thông tin trên mạng internet. Nhìn tổng
thể, hoạt động quản lý nhà nước về thông tin trên mạng
internet được triển khai trên các mặt sau:

- Về pháp lý, Nhà nước ban hành đồng bộ các quy định pháp
luật về quản lý thông tin trên mạng, cụ thể là: thứ nhất,
ban hành các quy định cấm đối với một số hành vi nhất
định khi đưa tin trên các trang thông tin điện tử (Website) và
các cổng thông tin điện tử (Portal)[10]. Quy định này cũng áp
dụng cho cả với các blog[11]; thứ hai, ban hành các quy định
pháp luật về xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về quản
lý thông tin trên mạng internet nhẹ thì cảnh cáo, phạt tiền,
buộc cải chính công khai[12], nặng thì có thể bị truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp thông tin và sử dụng thông tin mà gây thiệt hại
cho người khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định
của pháp luật dân sự hiện hành. Đối với người vi phạm
các quy định pháp luật về quản lý thông tin trên mạng là
cán bộ, công chức thì ngoài các trách nhiệm trên, còn có thể
bị xử lý kỷ luật hạ bậc, hạ ngạch, buộc thôi việc…

- Về mặt kỹ thuật và công nghệ, cơ quan quản lý nhà nước
về thông tin trên mạng phối hợp với các cơ quan liên quan và
các trung tâm an ninh mạng[13], với các nhà cung cấp dịch vụ
như Yahoo… để xây dựng nên những phần mền nhằm lọc các
thông tin xấu, nhạy cảm, ví dụ như các văn hóa phẩm đồi
trụy, các tin tặc đột nhập vào hệ thống thông tin ăn cắp
dữ liệu, bí mật quốc gia… Kỹ thuật đó thường được
gọi là bức tường lửa (firewalls).

- Về giáo dục, đẩy mạnh tuyên truyền giúp nhân dân hiểu và
thực hiện đường lối đúng đắn của Đảng, pháp luật
của Nhà nước; vạch trần các âm mưu hoặc các thông tin xuyên
tạc của các thế lực thù địch, cảnh báo cho các cơ quan nhà
nước, tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân biết những thủ
đoạn của các thế lực thù địch…

Nhìn chung, các giải pháp của Nhà nước về quản lý thông tin
trên mạng internet trong thời gian vừa qua đã phát huy tác dụng
tích cực trong việc bảo đảm an ninh mạng và bảo đảm quyền
tự do ngôn luận. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy việc quản
lý nhà nước cũng chưa thật hữu hiệu, chẳng hạn, ở khả
năng phát hiện, ngăn chặn những trang Web hay blog có những
thông tin độc hại, thông tin xâm phạm đến chủ quyền quốc
gia cũng chưa được kịp thời, có những trường hợp thông tin
trên mạng chỉ được phát hiện sau khi đã hoạt động rất
lâu, thậm chí những người đưa thông tin đó có thể đã
đạt được mục đích đề ra[14]. Qua thực tiễn quản lý
thông tin trên internet cũng cho thấy kỹ thuật không phải là
biện pháp tốt nhất để quản lý nhà nước về thông tin trên
mạng bởi tin tặc hay người dân bình thường cũng có thể
vượt qua được dễ dàng và sử dụng kỹ thuật này cũng làm
tăng nguy cơ nghẽn mạng, chậm tốc độ đường truyền dữ
liệu[15]… làm hạn chế quyền ngôn luận trên internet của
người dân.

Một số khiếm khuyết kể trên cho thấy quản lý nhà nước
đối với các thông tin trên internet còn những điểm chưa ổn,
cần những giải pháp khắc phục. Tuy nhiên, nếu chỉ giải
quyết vấn đề này trong phạm vi của "internet" e rằng không
có hiệu quả. Cần ở đây một cái nhìn tổng thể. Để đảm
bảo cho công dân quyền tự do ngôn luận cũng như tiếp cận
thông tin trên internet và ngăn chặn, xử lý nghiêm, kịp thời
các thông tin xấu, theo chúng tôi cần tập trung vào hướng
nhận thức và hoạt động sau đây:

Thứ nhất, cần nhất quán quan điểm rằng quản lý nhà nước
về thông tin trên mạng internet là cần thiết vì lợi ích chính
đáng của cá nhân, lợi ích chung của xã hội, nhưng sự quản
lý đó chỉ có thể là đúng đắn khi dừng đúng ở giới hạn
nhất định. Cái giới hạn mà quản lý nhà nước không được
vượt qua, đó là quyền tự do ngôn luận của công dân. Quản
lý nhà nước đối với các thông tin trên mạng đi đến hạn
chế quyền ngôn luận của công dân thì đó là sự quản lý
cực đoan hoặc thất bại. Qua thực tiễn quản lý nhà nước
trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội những năm
qua, nhận thức chung của xã hội không chấp nhận lối quản
lý theo đó, không quản lý được thì cấm đoán, cản trở.

Thứ hai, quản lý nhà nước đối với các thông tin trên mạng
internet thuần tuý mang tính chất kỹ thuật chặn bắt, loại
bỏ không phải là cách quản lý hay nhất. Ngăn cấm các thông
tin những vấn đề nhạy cảm có thể làm cho thông tin không
được phát tán, gây hiểu lầm hoặc bị xuyên tạc, tránh
phiền nhiễu, nhưng điều đó xét cho cùng không làm cho tư
tưởng của ai đó vững vàng hơn. Cách làm hay hơn chống lại
sự tuyên truyền thông tin xấu phải là bằng cách phản tuyên
truyền có hiệu quả trước các thông tin đó. Đối với các
thông tin xấu, cần có hệ thống các cơ quan tư tưởng, có các
chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực truyền thông tác nghiệp
để phân tích, xử lý các thông tin làm cho nhân dân thấy
được đúng sai và quan trọng hơn là rèn luyện cho họ khả
năng biết lựa chọn, đánh giá thông tin đúng đắn. Cần lưu
ý là với phương tiện internet thì đó là cách tốt nhất, vì
không dễ có thể cấm đoán được khi mỗi người có thể tự
do phát biểu ý kiến trên mạng một cách dễ dàng.

Thứ ba, bên cạnh việc đề cao trách nhiệm chính trị và đạo
đức của người sử dụng quyền tự do ngôn luận, cần thực
thi một chế độ trách nhiệm pháp lý nghiêm minh và kịp thời,
trên nguyên tắc, các thông tin được đưa ra phải đảm bảo
tôn trọng sự thật khách quan, đồng thời những thông tin đó
không được xâm phạm đến lợi ích chính đáng của người
khác không xâm phạm đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng,
sức khỏe cộng đồng, đạo đức xã hội. Khi thông tin đó
không phù hợp với sự thật khách quan hoặc xâm phạm đến
lợi ích chính đáng của người khác, thì điều trước tiên
cần làm là định hướng dư luận xã hội một cách nhanh
chóng, kịp thời và thuyết phục. Bên cạnh đó, Nhà nước
cần xử lý mạnh các hành vi vi phạm pháp luật về thông tin
trên mạng internet. Khi các biện pháp giáo dục, tổ chức…, khi
con người không tự kiềm chế hành vi nguy hại thì biện pháp
cuối cùng là trách nhiệm pháp lý cần phải được thực
hiện. Trách nhiệm pháp lý là một biện pháp cần thiết và có
tác dụng trong đấu tranh phòng, chống việc thực hiện thái
quá quyền tự do ngôn luận.

Thứ tư, để hoàn thiện pháp luật về cung cấp thông tin, về
tiếp cận thông tin, về bảo đảm quyền tự do ngôn luận,
chúng ta cần tiến tới soạn thảo và ban hành Luật về quyền
được thông tin quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ
thể cung cấp thông tin, chủ thể tiếp nhận thông tin, đặc
biệt là thông tin trên mạng. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng
để thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân, đồng
thời có tác dụng giáo dục văn minh trong thông tin mạng. Trọng
tâm của Đạo luật chắc chắn sẽ là giải quyết hài hoà
mối quan hệ giữa quản lý thông tin nói chung, quản lý thông
tin mạng nói riêng và quyền tự do ngôn luận của công dân.
Trong đó, vị trí của quyền tự do ngôn luận của công dân
phải được đặt lên hàng đầu. Đối với internet, nó là
phương tiện mà người ta có thể sử dụng nhằm những mục
đích khác nhau, nhưng đúng như nguyên Phó Thủ tướng Chính
phủ Nguyễn Khánh khẳng định: "Không thể vì có một số
tiêu cực mà không mở internet vì đây là một mũi nhọn trong
phát triển khoa học công nghệ… Không thể nào phát triển
đất nước trong hội nhập quốc tế mà lại không phát triển
internet"[16]. Quản lý thông tin mạng khó khăn hơn nhiều so
với các hình thức truyền thông truyền thống, nhưng thông tin
trên mạng là phương tiện đặc biệt hữu hiệu, cởi mở cho
việc thực hiện quyền tự do ngôn luận mà quản lý nhà nước
phải là công cụ bảo đảm cho sự tự do ấy.

Thứ năm, xét cho cùng, đối với một cơ thể xã hội lành
mạnh thì việc thực hiện tự do ngôn luận và quản lý thông
tin mạng sẽ được tiến hành một cách nhẹ nhàng. Vì vậy,
cần tạo ra môi trường tốt cho việc thực hiện quyền tự do
ngôn luận và tiến hành quản lý nhà nước đối với các
thông tin trên mạng trong giải quyết các vấn đề kinh tế, xã
hội như: nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân
dân; thực hiện phát triển kinh tế hiệu quả theo hướng bền
vững; thực hiện tốt bình đẳng xã hội; thực hiện thực
chất và hiệu quả chủ trương dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra; đấu tranh kiên quyết với tệ quan liêu, tham
nhũng… Có thể nói, đây là "kế lâu bền" cho tự do ngôn
luận và quản lý nhà nước đối với thông tin internet.

<strong>PGS. TS Vũ Thư & NCV Bùi Đức Hiển (Viện Nhà nước và
Pháp luật)</strong>

______________________________________________________________________

Bài đã được đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
3, năm 2010.

[1] Khoản 3, Điều 19 Công ước quyền Dân sự và Chính trị
1966 ghi nhận: "Việc thực hiện những quyền quy định tại
khoản 2 của Điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm
đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất
định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được pháp luật
quy định và chỉ khi để:

a. Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác;

b. Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức
khoẻ hoặc đạo đức của công chúng".

[2] Montesquieu, Tinh thần pháp luật, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1996,
tr. 99.

[3] Internet ngoài những ưu điểm về khả năng truyền đạt
thông tin nhanh nhạy thì nó còn tích hợp được nhiều hình
thức thông tin khác trong nó như: báo nói, báo viết, báo
hình,…

[4] Xem thêm: Mỹ thành lập Cục An ninh mạng internet
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/05/090530_obama_cyber_tsar.shtml.

[5] Xem thờm Điều 3 Nghị định của Chính phủ số
97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2008 về quản lý, cung cấp, sử
dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet.

[6] Số liệu mới nhất của Trung tõm internet Việt Nam (VNNIC)
thuộc Bộ Thụng tin và Truyền thụng. Xem thêm bài của tác
giả Đoàn Trang: internet, tường lửa và sự "không tưởng
trên mạng".
http://www.tuanvietnam.net/2009-11-25-internet-tuong-lua-va-su-khong-tuong-tren-mang-.

[7] Xem Dân trí : http://dantri.com.vn/c119/s119-31755…em-tv-giam.htm
bài "Truy cập internet tăng, xem ti vi giảm" của tác giả Lan
Hương.

[8] Xem bài: Về tình hình đảm bảo quyên con người ở Việt
Nam theo cơ chế kiểm điểm phổ cập định kỳ của Liên hợp
quốc, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật năm 2009, số 6, tr. 4.

[9] Nhà nước Mỹ đang xây dựng đạo luật về Quản lý thông
tin trên mạng và Cục An ninh mạng đã được thành lập dưới
dự chỉ đạo trực tiếp của Tổng thống; Trung Quốc cũng ban
hành các quy định về quản lý thông tin trên mạng và đưa ra
các quy định về "kiểm duyệt", "lọc" thông tin, buộc
các cơ sở cung cấp máy tính phải cài đặt phần mềm ngăn
chặn truy cập các website nhất định; Liên bang Nga cũng đang
tiến hành sửa đổi Luật về Các phương tiện truyền thông
đại chúng nhằm tăng cường quản lý internet và thông tin trên
mạng internet. Nhiều nước khác như Nhật Bản, Anh, Pháp, Hàn
Quốc… cũng có quy định pháp luật tương đối đồng bộ về
vấn đề thông tin trên mạng internet. Xem thêm
http://vietbao.vn/Vi-tinh-Vien-thong/Nga-tang-cuong-quan-ly-internet/65120665/217/;
vi.wikipedia.org/…/Kiểm_duyệt_internet_ở_Cộng
hòa_nhân_dân_Trung_Hoa.

[10] Điều 6, Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm
2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ
internet và thông tin điện tử trên internet.

[11] Xem Mục 3 Thông tư 07/2008/TT-BTTTT hướng dẫn một số nội
dung về hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện
tử cá nhân trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 08
năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch
vụ internet và thông tin điện tử trên internet.

[12] Nghị định số 28/2009/NĐ-CP ngày 20 tháng 3 năm 2009 Quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử
dụng dịch vụ internet và thụng tin điện tử trên internet.

[13] Ví dụ Trung tâm an ninh mạng Bkis của Đại học Bách khoa
đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trong quá trình bảo đảm an ninh mạng, chống lại sự
đột nhập của các hacker vào các cơ quan quan trọng của Nhà
nước ta như: Ngân hàng nhà nước, các tài liệu bí mật quốc
gia.

[14] Ví dụ, vụ Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cũng như vùng
biển phụ cận bằng tiếng Việt trên trang Web chung của Bộ
Thương mại Trung Quốc và Bộ Công Thương Việt Nam, được
đăng tải rất lâu mới được phát hiện, mà người phát
hiện ra không phải là các cơ quan quản lý nhà nước về thông
tin trên mạng mà chính là các blog.

[15] Bộ trưởng Bộ Thông tin – Truyền thông Lê Doãn Hợp đã
phát biểu trước Quốc hội: "Xử lý cỏc biện phỏp kỹ
thuật nhiều thỡ nú lại tạo ra ỏch tắc, nghẽn tắc và ảnh
hưởng tới (sự) thông suốt trong thông tin. Tất nhiên khi cần
làm thỡ vẫn phải làm nhưng đây không phải là giải pháp
tối ưu". Xem thêm:
http://www.baomoi.com/Info/Quan-ly-internet-bang-ky-thuat-khong-phai-la-toi-uu/76/3510892.epi

[16] Xem Đoan Trang, internet, tường lửa và sự "không tưởng
trên mạng".
http://www.tuanvietnam.net/2009-11-25-internet-tuong-lua-va-su-khong-tuong-tren-mang

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6183), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét