href="http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Phat-trien-nhanh-va-ben-vung-la-quan-diem-xuyen-suot-trong-chien-luoc-phat-trien-KTXH-cua-dat-nuoc-ta/20107/33615.vgp">"Phát
triển nhanh và bền vững"</a> của Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng, tôi vô cùng ngạc nhiên khi ông 15 lần nhắc "<em>thực
hiện dân chủ</em>", "<em>mở rộng dân chủ</em>", 3 lần
nhắc thực hiện "<em>quyền làm chủ</em>"! Thử giở gần
chục quyển Nghị quyết Trung ương do Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia ấn hành thì thấy Nghị quyết nào cũng nhiều lần
nhắc đến "<em>thực hiện dân chủ</em>". Ngay Nghị quyết
về công tác tư tưởng và báo chí cũng: "<em>Phải phát huy
dân chủ khai thác mọi tiềm năng sáng tạo của toàn Đảng,
toàn xã hội tạo bước phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực tư
tưởng, lý luận và báo chí.</em>" (trang 19).
Nếu so sánh với nguyên thủ các nước phát triển như Mỹ, Anh,
Pháp, Nhật, Hàn, Singapore… thì sẽ thấy trong diễn văn nhận
chức, thông điệp đầu năm và cả trong đề cương tranh cử,
họ đều chỉ nói những chủ trương, công việc cần phải
làm, không hề nói tới việc "<em>thực hành dân chủ</em>",
"<em>mở rộng dân chủ</em>". Đã vậy, nhiều phát ngôn của
các nước nói trên lại thường chỉ trích Việt Nam không có
dân chủ, nhân quyền! Chống chế lại, nhà nước Việt Nam cho
rằng có hai thứ dân chủ và nhân quyền, của phương Tây và
của Việt Nam. Nặng nề hơn, nhiều nhà lãnh đạo và nhà lý
luận Việt Nam cho rằng "<em>các thế lực thù địch</em>"
đã không ngừng lợi dụng dân chủ và nhân quyền của phương
tây để công kích, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt
Nam.
Đối với nhân dân trong nước, có người đe rằng nếu theo
thứ dân chủ, nhân quyền phương Tây thì sẽ tự đánh mất
mình, sẽ đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia
đình! (<em><strong>Chưa có nhà lý luận nào chứng mính điều
này, ngược lại chỉ thấy đạo đức xã hội Việt Nam băng
hoại chưa từng có suốt quá trình xây dựng đạo đức cách
mạng!</strong></em>).
Đây là một vấn đề vô cùng quan trọng có ảnh hưởng rất
lớn đối với vận mệnh dân tộc trong thời đại toàn cầu
hóa. Dân chủ và Nhân quyền là vấn đề mà nhân loại tiến
bộ đã kiến giải và thực hiện hằng trăm năm rồi, hoặc
chí ít là từ những Công ước của Liên hiệp quốc trong vài
chục năm nay mà chính đại diện Nhà nước Việt Nam cũng đã
đặt bút ký cam kết thực hiện!
<h2>DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN VÀO VIỆT NAM TỪ BAO GIỜ?</h2>
<span class="underlined-text">Dân tộc ta không có truyền thống nhân
quyền và dân chủ</span>. Có lẽ tư tưởng nhân quyền Việt Nam
thể hiện cô đọng ở mỗi một câu tục ngữ "<em>Thương
người như thể thương thân</em>". Một số người cho rằng
Hương ước, Phép vua thua lệ làng, và câu Dân vi quý xã tắc
thứ chi… của Mạnh Tử từ bên Tàu sang là mầm mống dân
chủ! Học giả Phan Kế Bính nhìn khái quát đã viết trong Việt
Nam phong tục: "<em>Khắp nơi, dưới trời, đâu cũng là đất
của nhà vua, suốt mặt đất, ai cũng là tôi tớ của nhà
vua</em>". Trong hồi ký Con Rồng Việt Nam, Bảo Đại miêu tả
cái uy của hoàng đế như sau: "<em>Nghi lễ đã ấn định
rằng, khi quỳ trước nhà vua mà ngẩng đầu lên nhìn là phạm
tội nặng</em>". Bảo Đại kể, sau khi ông thoái vị, trên
đường ra Hà Nội theo triệu tập của Cụ Hồ, đến Quảng
Trị ông rất bất ngờ chứng kiến cảnh nhân dân đông nghẹt
mừng đón ông theo kiểu đón hoàng đế. Tại Đông Hà, đại
diện Ủy ban cách mạng bị tác động bởi lòng sùng kính của
dân chúng toan bỏ nghi thức đón tiếp theo phong cách dân chủ
đã dự định, để trở về với nghi thức cổ xưa khi đón
vua. Bảo Đại biết như vậy là không ổn, nên đã tìm cách
giúp cho các đồng chí ta thoát khỏi tình trạng lúng túng đó.
Ông "<em>đã tới gần họ rất niềm nở, nhưng tôi càng niềm
nở bao nhiêu thì họ càng thêm kính cẩn bấy nhiêu!</em>".
Bảo Đại bình luận: "<em>Quả nhiên, cách mạng không phải
là điều dễ đạt!</em>".
Mãi đến năm 1906 -1908, trí thức Việt Nam mới dấy lên phong
trào Duy Tân (Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng khởi
xướng) tiếp nhận tư tưởng dân chủ phương tây của J. J.
Rousseau, Montesquieu… qua những tác phẩm thời ấy gọi là
"tân thư" của các tác giả Trung Quốc tây học như Khang
Hữu Vi, Lương khải Siêu… Năm 1907, Trường Đông kinh Nghĩa
thục (do các chí sĩ Lương Văn Can, Nguyễn Quyền… sáng lập)
phát hành quyển Văn minh tân học sách (có nghĩa là đường
lối tân học văn minh). Sách này có khoảng 12. 000 từ, đề ra
nội dung "<em>chấn hưng dân khí, khai thông dân trí, mở rộng
nhân quyền, cải thiện dân sinh</em>", với tư tưởng dân
chủ, nhân quyền phương Tây. Sách nêu ra bài học dân chủ của
phương Tây là "<em>Trên có nghị viện duy trì kỷ cương pháp
luật, dưới có báo chí đạo đạt nguyện vọng của hạ
dân</em>" và nêu ra 6 biện pháp thực hiện để Việt Nam theo
kịp văn minh phương Tây.
Tháng 1 năm 1919, Nguyễn Ái Quốc thay mặt Hội những người
Việt Nam yêu nước tại Paris (gồm có Phan Châu Trinh, Phan Văn
Trường, Khánh Ký…) gửi đến Hội nghị Versailles Bản yêu
sách của nhân dân An Nam gồm có 8 điều đòi được thực
hiện dân chủ và nhân quyền như: <em>thả người bản xứ bị
kết án tù chính trị; cho dân thuộc địa được hưởng quyền
pháp lý như người Âu châu; tự do báo chí và tự do ngôn
luận; tự do hội họp và lập hội; tự do cư trú, tự do xuất
dương; tự do học tập, lập trường kỹ thuật; thay chế độ
ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; có đại biểu
thường trực của người bản xứ bầu ra tại nghị viện
Pháp…</em> Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc còn tiếp tục
viết nhiều bài báo đòi thực hiện tự do, dân chủ cho nhân
dân Việt Nam đăng trên tờ Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp,
như bài viết ngày 2 tháng 8 năm 1919 có những câu "<em>Nếu
không có các quyền tự do ấy thiết yếu cho việc truyền bá
những tư tưởng và kiến thức mà đời sống hiện đại đòi
hỏi thì không thể trông mong tiến hành bất cứ một công
cuộc giáo hóa nghiêm chỉnh nào</em>". Những bài viết như
thế truyền về nước góp phần soi sáng dân trí, khích động
dân khí Việt Nam.
Năm 1926, khi cụ Phan Chu Trinh, một trong những lãnh tụ lỗi
lạc của phong trào Duy Tân qua đời tại Sài Gòn, chí sĩ Phan
Bội Châu viết văn tế khóc thương ông có câu: "<em>Một ngòi
lông vừa trống vừa chiêng; Cửa dân chủ khêu đèn sáng
chói</em>". Đó là tư tưởng dân chủ phương Tây bắt đầu
sáng chói trên đất nước ta bởi các chí sĩ Duy tân và Đông
Kinh Nghĩa thục truyền bá, đã dẫn tới việc thành lập Việt
Nam Quốc dân Đảng năm 1927, dựa trên 3 nguyên tắc Tự do, Bình
đẳng, Bác ái, thực hiện khởi nghĩa vũ trang, nhằm
"<em>đánh đuổi thực dân Pháp, đánh đổ ngôi vua, thiết
lập dân quyền.</em>"
Tháng Tám 1945, một cột mốc lịch sử quan trọng đánh dấu
sự ra đời Nhà nước dân chủ cộng hòa với ba tiêu chí độc
lập, tự do, hạnh phúc. Chế độ mới mang tư tưởng dân chủ,
nhân quyền của Việt Nam hay của phương Tây? Mở đầu Tuyên
ngôn Độc lập nước ta, Cụ Hồ trịnh trọng tuyên bố:
<div class="special_quote">"<em>Hỡi đồng bào cả nước,</em>
<em>Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo
hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong
những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc.</em>
<em>Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm
1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là tất
cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân
tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự
do.</em>
<em>Bản tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền của Cách mạng
Pháp năm 1791 cũng nói: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng
về quyền lợi; và phải luôn luôn được tựdo bình đẳng về
quyền lợi</em>".
<em>Đó là những lẽ phải không ai chối cãi
được.</em>"</div>
Năm 1948, với bút danh Trần Dân Tiên, Cụ Hồ bộc bạch rằng
"<em>Cụ Hồ không giấu nổi sự vui sướng</em>" bởi "trong
đời Cụ đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết
được một bản Tuyên ngôn như vậy". Và cho rằng:
"<em><strong>Thật vậy, bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả
của những yêu cầu đã gửi cho Hội nghị Versailles mà Cụ Hồ
đã viết năm 1919</strong></em>″.
Ngày 25 tháng 8 -1945, vua Bảo Đại trong Tuyên ngôn thoái vị có
câu "<em>Chiếu đà dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc
nước ta [...]</em>" và câu cuối cùng là "<em>Việt Nam dân
chủ cộng hòa muôn năm!</em>". Việc chấp nhận tư tưởng dân
chủ từ Cách mạng Tháng Tám đã được Bảo Đại kể lại khi
lần đầu tiếp kiến Cụ Hồ: "<em>Người gầy gò mảnh dẻ,
mắt sáng quắc đầy nhiệt tâm, ông có một nhãn lực lôi
cuốn, vừa đạo mạo vừa độc đáo. Lời nói cũng chan hòa
nhân ái, như bác bỏ mọi bạo động, hận thù. Ông như đã
nắm vững được thực tại và nhu cầu của Việt Nam lúc ấy.
Ông cũng có một nhận xét sắc bén về tiến trình lịch sử,
do sự tự học khá rộng rãi về các thế giới Tây phương,
về Nga và Trung Hoa</em>". Bảo Đại viết những dòng này năm
1979 ở Pháp, tức là ông không có chịu áp lực nào. Là một
người Tây học, vua Bảo Đại hiểu thứ dân chủ mà Cụ Hồ
thực hiện thuộc về giá trị văn minh của toàn nhân loại và
ông tin rằng Cụ Hồ là người "<em>nắm vững được thực
tại và nhu cầu của Việt Nam</em>", cho nên ông phải tuân
theo. Đó cũng là suy nghĩ của tuyệt đại đa số nhân dân
Việt Nam nhất là các nhân sĩ trí thức thời ấy khi kéo về
quy tụ quanh Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Tự do, Dân chủ của bản Tuyên ngôn độc lập sau
đó được ghi nhận trong Hiến pháp 1946 và bước đầu được
thực hiện với Chính phủ liên hiệp và các quyền tự do báo
chí, tự do ngôn luận, tự do sáng tác, tự do lập hội… Các
đảng phái lần đầu tiên được công khai hoạt động. Các
báo có trước cách mạng kể cả tờ Bình Minh thân Nhật vẫn
tồn tại (tờ Bình Minh sa sút từ khi Nhật chưa đầu hàng vì
tâm lý chống phát xít), nay có thêm nhiều tờ báo mới. Những
người lấy lòng quân Lư Hán ra báo Trung Việt tân văn. Nguyễn
Hải Thần ra báo Đồng Minh. Các nhân sĩ yêu nước xuất bản
báo Quốc Gia. Tết 1946 báo này được Chủ tịch Hồ Chí Minh
gửi tặng bài thơ có những câu: "<em>Tự do vàng đỏ một
rừng hoa. Muôn nhà chào đón xuân dân chủ</em>". Từ chiến khu
về có báo Cứu Quốc của Việt Minh, báo Kháng Chiến của Cao
Bắc Lạng, tờ Vui Sống của ngành Y Tế… Dù báo chí có
nhiều khuynh hướng, nhưng người đọc mới trong nô lệ bước
ra vẫn rất tinh tường nhận rõ lằn ranh giữa yêu nước và
phản trắc. Các tờ báo thân Tàu, các tờ báo có quan điểm bè
phái luôn bị ế ẩm. Sau khi Pháp chiếm Hà Nội vẫn còn báo
Bạn Trẻ của tư nhân tản cư ra vùng giải phóng tiếp tục in
báo hằng ngày bằng máy pê-đa-lét đạp chân, phát hành vào
cả nội thành trong nhiều năm (do Thượng sĩ – Nguyễn Đức
Long và Vũ Bằng chủ trương). Vũ Đình Chí (Tam Lang) bị Pháp
bắt giam ở Hà Đông, cho biết trong trại giam ông đã được
đọc báo Bạn Trẻ. Ủy ban kháng chiến khu 3 xếp báo Bạn Trẻ
ở vị trí hàng đầu trong các tờ báo kháng chiến. Về tự do
sáng tạo, tự do ngôn luận và lập hội, có thể kể nhóm thi
sĩ Tượng Trưng của Trần Dần, Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ
Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương thành lập, xuất bản tạp chí
Dạ Đài in Tuyên ngôn:
"<em>Hãy đem tất cả linh hồn, hãy mở tất cả cửa ngách
của tâm tư mà lý hội. Trận gió sẽ lên: tức khắc và đột
nhiên, vì thơ không cần lý luận.</em>"
Tiếc thay, tất cả phải im tiếng, bởi súng đã nổ!
<h2>"NỀN DÂN CHỦ GẤP TRIỆU LẦN HƠN" CŨNG TỪ NGOẠI
NHẬP!</h2>
Từ năm 1950, dưới sức ép của Trung Quốc, đường lối cách
mạng uốn dần theo ý thức hệ cộng sản. Sau giải phóng miền
Bắc, tốc độ chuyển ý thức hệ nhanh tới mức rất nhiều
cán bộ, đảng viên vốn mang tư tưởng tự do, dân chủ của
Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp 1946 đã bị bất ngờ. Trong
bài thơ gửi Lê Đạt, nhà thơ quân đội Trần Dần đang nằm
trong phòng tạm giam viết:
" <em>Bạn nói sai chưa?</em>
" <em>Chế độ mới không bỏ tù tư tưởng…</em> "
Hàng loạt nhà chính trị, luật sư, nhà văn, nhà thơ quá tin
vào nền tự do dân chủ mà mình góp công bồi đắp nay đã ra
hoa kết trái, phải bị bất ngờ hụt chân: Nguyễn Hữu Đang,
Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Đào Duy
Anh, Phan Khôi, Lê Nguyên Chí, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Trần
Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Văn Cao, Nguyễn Sáng, Sĩ Ngọc, Trần
Duy, Quang Dũng, Tử Phác, Như Mai, Trần Lê Văn, Đặng Đình
Hưng, Hoàng Tố Nguyên, Trần Thiếu Bảo… cũng có thể kể cả
Trần Văn Giàu. Sự lệch pha khủng khiếp dễ thấy ở cái tít
vedette trên báo Nhân Văn số 2: "<em>Chúng tôi phỏng vấn Mở
rộng Tự do và Dân chủ</em>". Tất cả những người còn mơ
ngủ này không hiểu rằng gió đã đổi chiều. Miền Bắc Việt
Nam đang "tiến lên chủ nghĩa xã hội… đoàn kết nhất trí
với các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là
Liên Xô vĩ đại"! (Lời nói đầu Hiến pháp sửa đổi 1960).
Một mô hình theo thể chế Xô viết của khuôn mẫu Stalin nhanh
chóng hình thành. Ở đây không còn chỗ cho cái thứ "<em>dân
chủ, tự do tư sản</em>". Chuyên chính vô sản được thiết
lập với bộ mặt mới "dân chủ nhân dân, dưới sự lãnh
đạo của giai cấp công nhân, thông qua Đảng tiên phong của
nó". Một chế độ "<em>dân chủ gấp triệu lần hơn thứ
dân chủ hình thức, giả dối của giai cấp tư sản</em>" đã
hiện diện.
Về chính trị, sau toàn quốc kháng chiến, Việt Nam có 3 Đảng,
nhưng hai đảng Dân chủ và Xã hội ngay khi thành lập đều
tuyên bố chịu sự lãnh đạo của Đảng Lao Động Việt Nam.
Hơn thế nữa, trong ban lãnh đạo của hai Đảng này có nhiều
người là đảng viên cộng sản. (Năm 1988, khi chỉ đạo hai
Đảng này phải kết thúc hoạt động, ông Nguyễn Văn Linh nói
ông rất yên tâm đối với các nhà lãnh đạo của hai Đảng,
nhưng lại không yên tâm đối với một số đảng viên cộng
sản nằm trong hai Đảng này). Sau giải phóng miền Bắc, thể
chế được công khai xác nhận là: "<em>Dưới sự lãnh đạo
sáng suốt của Đảng Lao Động Việt Nam, Chính phủ nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa và chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân
Việt nam đoàn kết rộng rãi trong mặt trận dân tộc thống
nhất, nhất định sẽ giành được thắng lợi vẻ vang trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực
hiện thống nhất nước nhà</em>" (Lời nói đầu Hiến pháp
sửa đổi 1960).
Đúng như cách sắp xếp thứ tự trên, Đảng ở trên nhà
nước. Người ta gọi đó là đảng trị. Nhà nước dù là do
các Ủy viên Bộ Chính trị ngồi ở ghế cao nhất và có đủ
hình thức, bộ, ngành, nhưng Đảng luôn bao biện làm thay. Nhà
nước thụ động chờ đợi Đảng cho chỉ thị. Về danh nghĩa
"<em>Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa</em>", công dân 18 tuổi trở
lên có quyền bầu cử, 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử,
nhưng thực tế không ai có thể tự ứng cử và đề cử vào
các cơ quan dân bầu kể cả mọi đoàn thể quần chúng. Tất
cả đều do "<em>đảng cử dân bầu</em>". Trước "đổi
mới", Đảng chỉ đề cử đúng với số lượng đại biểu
cần bầu mà không cần giới thiệu nhiều hơn dù chỉ một
người để cử tri chọn lựa! Quốc hội Việt Nam từ ngày ấy
chỉ là nơi làm nhiệm vụ hợp pháp hóa các chủ trương của
Đảng, bao giờ phiếu biểu quyết cũng đạt 100%. Trong bài phát
biểu ở một Hội nghị Trung ương Đảng (khóa 3), ông Lê Duẩn
tỏ ý nghi ngờ lý thuyết "<em>nhà nước tiêu vong</em>"; ông
cho rằng nhà nước vô sản chỉ tiêu vong chức năng chuyên
chính sau khi đã thực hiện "<em>thế giới đại đồng</em>",
còn chức năng quản lý xã hội thì càng ngày càng phải tăng
lên. Phải chăng ông cho rằng chức năng "toàn trị" chỉ có
tăng chứ không được giảm?
Các đoàn thể quần chúng như Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội
Phụ nữ, Hội Nông dân… đều do một Ủy viên Trung ương
Đảng làm chủ tịch, bí thư thứ nhất, các phó chủ tịch,
Ủy viên thường vụ Ủy viên ban chấp hành cũng đều phải là
đảng viên trung cao cấp. Chủ tịch Ban chấp hành đoàn thể
cấp cơ sở cũng phải là ủy viên Ban thường vụ, hoặc ủy
viên Ban chấp hành đảng bộ của cấp đó. Tất cả cán bộ
đoàn thể đều hưởng lương từ ngân sách và lên lương lên
bậc giống như công chức nhà nước. Tổng liên đoàn lao động
đã từng đòi cho Chủ tịch công đoàn các thành phố được
hưởng bậc lương tương đương với phó chủ tịch Ủy ban
nhân dân thành phố. Cơ chế chính trị đã biến các tổ chức
dân sự, xã hội, phi chính phủ trở thành tổ chức của hệ
thống chính trị, các đoàn thể là bàn tay nối dài của Đảng
và Chính phủ. Năm 1962, Tổng liên đoàn lao động được giao
quản lý bảo hiểm xã hội với ý nghĩa là thực tập chức
năng quản lý nhà nước!
Các quyền tự do (lập hội, hội họp, ngôn luận, báo chí)
vẫn được ghi nhận ở Hiến pháp, nhưng từ nay phải được
hiểu là quyền của tập thể đoàn viên, hội viên trong tổ
chức chính trị dưới sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện
của Đảng Cộng sản, hoàn toàn không phải là thứ tự do của
từng cá nhân công dân! Báo Tiền Phong là cơ quan ngôn luận
của thanh niên. Báo Thiếu niên tiền phong là của trẻ vị
thành niên. Báo Nhi Đồng là của trẻ nhỏ. Tất cả Tổng biên
tập, Ủy viên Ban biên tập, Trưởng phó phòng đều phải là
đảng viên cộng sản. Hàng tuần các Tổng biên tập được
triệu tập để nghe ý kiến chỉ đạo nội dung thông tin tuyên
truyền của ban Tuyên huấn của Đảng cùng cấp.
Trong cơ chế đó, rất khó tìm thấy một vị lãnh đạo đoàn
thể đặt lợi ích của đoàn viên trước khi nghĩ đến yêu
cầu của Đảng. Một câu hỏi kéo dài trong tổ chức công
đoàn: "Công đoàn chủ yếu là công cụ của Đảng, là
"<em>sợi dây nối liền giữa Đảng với công nhân</em>" hay
trước hết phải là "<em>công cụ bảo vệ quyền lợi của
công nhân?</em>". Thực tế đã trả lời rõ ràng hơn các nghị
quyết: Đã có khoảng 3000 cuộc tự động đình công của công
nhân đòi quyền lợi không báo trước cho công đoàn biết theo
Luật Công đoàn!
Chế độ kinh tế sau 1954 là cải tạo kinh tế quốc dân theo
chủ nghĩa xã hội: Cải cách ruộng đất, đưa nông dân vào
hợp tác xã nông nghiệp. "<em>Hướng dẫn các nhà tư sản dân
tộc đi theo con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình
thức công tư hợp doanh và các hình thức cải tạo khác</em>".
"<em>Kinh tế quốc doanh giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh
tế quốc dân được nhà nước phát triển ưu tiên</em>".
"<em>Nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn giúp đỡ
sự phát triển của kinh tế hợp tác xã</em>". "<em>Nhà
nước nghiêm cấm việc lợi dụng tài sản tư hữu để làm
rối loạn sinh hoạt kinh tế của xã hội, phá hoại kinh tế
nhà nước</em>" (tất cả những câu trong ngoặc kép ở trên
đều trích từ Hiến pháp 1960).
Nền kinh tế theo chế độ xã hội chủ nghĩa đó, sau chiến
tranh khi bị giảm nguồn viện trợ của phe xã hội chủ nghĩa
đã không thể đứng nổi, đưa tới cuộc "<em>xé rào</em>"
rồi "<em>đổi mới</em>", tức là xóa bỏ các nguyên lý kinh
tế xã hội chủ nghĩa, thực hiện kinh tế thị trường. Nhờ
đó đã đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, phát triển
vượt bậc, được WTO chấp nhận vào cuộc toàn cầu hóa.
"<em>Liên xô vĩ đại</em>", nơi sản xuất và xuất cảng các
lý thuyết bài bác tự do dân chủ phương Tây, đã sụp đổ
bởi ý nguyện của nhân dân và số đông đảng viên cộng sản
muốn thoát khỏi "<em>chế độ dân chủ gấp triệu lần
hơn</em>" mà họ phải chịu đựng ngạt thở suốt 70 năm.
Thế nhưng ở Việt Nam có những thế lực vẫn tiếp tục bốc
thơm cho nó, trong đó có nhiều vị mang chức danh giáo sư, học
vị tiến sĩ! Chỉ có điều khác xưa, ngày nay không còn ai
đầy kiêu hãnh hoặc chân thành nhắc lại những danh ngôn của
Lênin về "<em>chuyên chính vô sản</em>", về "<em>nền dân
chủ gấp triệu lần hơn</em>", "<em>tự do báo chí chỉ là
thiên kiến của giai cấp tư sản</em>", mà ngược đời là
phải dùng lại cái vỏ ngôn từ, hình thức của tự do dân
chủ phương Tây để che đậy, trang điểm cho nền tự do, dân
chủ xã hội chủ nghĩa! Có vài cây bút thừa nhận chế độ
chưa có dân chủ, thậm chí là độc tài, nhưng thích hợp với
tình trạng dân trí và cả quan trí chưa cao, hoặc ổn định
chính trị cần cho đất nước còn hơn là dân chủ. Mới đây,
nhà nước xuất bản tạp chí Nhân quyền, điều xưa kia báo
chí vô sản cấm kỵ. Nói như André Menras – Hồ Cương Quyết
đây là "<em>kéo dài hệ thống dưới một bộ mặt
mới</em>"!
(còn tiếp)
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6263), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét