Bài học lịch sử về sự sụp đổ của Đảng CS Liên Xô (8): Những vi phạm về nguyên tắc xây dựng Đảng

Ngay từ khi lãnh đạo phong trào vô sản quốc tế, đặc biệt
là phong trào của Đảng Xã hội dân chủ Đức, Marx và Engels
đã đưa ra và vận dụng các nội dung cơ bản của nguyên tắc
tập trung dân chủ. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng và xây
dựng Đảng ở Nga, Lenin đã kế thừa và phát huy tư tưởng
này.

Tháng 12-1905, Hội nghị thứ nhất Đảng Bolshevik đã lần đầu
áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ và nêu rõ trong nghị
quyết: Nguyên tắc chế độ tập trung dân chủ không có gì
phải tranh cãi. Tháng 4-1906, theo đề nghị của Lenin, Đại hội
đại biểu thống nhất lần thứ 4 Đảng Bolshevik thông qua
điều lệ tổ chức, trong đó điều hai quy định: Mọi tổ
chức của Đảng đều được xây dựng trên nguyên tắc tập
trung dân chủ. Đây là lần đầu tiên nguyên tắc tập trung dân
chủ được xác định trong điều lệ Đảng. Tháng 7-1920,
điều lệ gia nhập Quốc tế Cộng sản do Lenin quy định:
Đảng gia nhập Quốc tế Cộng sản cần được xây dựng trên
nguyên tắc tập trung dân chủ. Kể từ đó, nguyên tắc tập
trung dân chủ trở thành nguyên tắc phổ biến mà ĐCS các
nước trên thế giới đều tuân thủ.

Khi Lenin còn sống, Đảng thực hiện chế độ lãnh đạo tập
thể. Hạt nhân lãnh đạo của Đảng là BCH T.Ư Đảng. Khi đó,
số ủy viên T.Ư còn ít, tổ chức hội nghị tương đối dễ
dàng và thực hiện chế độ lãnh đạo tập thể theo hình
thức: khi quyết định một vấn đề nào đó, mỗi một ủy
viên đều có quyền bình đẳng phát biểu ý kiến. Sau khi thảo
luận kỹ càng sẽ tiến hành bỏ phiếu và thông qua theo đa
số. Mỗi một ủy viên chỉ có một phiếu biểu quyết. Trong
các cuộc họp của Đảng, báo cáo của Lenin thường nhận
được sự đánh giá cao của đa số các đại biểu. Tuy nhiên,
cũng có một số ít phê bình gay gắt báo cáo của Lenin và Lenin
luôn lắng nghe một cách nghiêm túc. Đảng có lãnh tụ và lãnh
đạo các cấp, nhưng không có sự sùng bái cá nhân đối với
họ. Mỗi một đảng viên được hưởng đầy đủ các quyền
quy định trong điều lệ Đảng. Trong Đảng không chia ngôi thứ
cao cấp, và tuyệt đối không có đảng viên đặc biệt. Cơ
quan lãnh đạo và lãnh đạo các cấp của Đảng được bầu
lên đều thông qua bầu cử, phải báo cáo công tác trước
đảng viên và có thể bị bãi miễn. Lenin cho rằng: Trong Đảng
có quyền tự do thảo luận, phê bình và phát biểu ý kiến.
Nếu không có quyền tự do thảo luận và phê bình thì giai cấp
vô sản sẽ không sẽ không thể nhất trí trong hành động.
Trong các cuộc họp Đảng khi đó, không có sự tung hô, tâng
bốc. Vấn đề góp ý, phê bình tự nhiên như việc con người
hít thở khí trời vậy.

Năm 1921, khi giải tán phe đối lập trong Đảng, Lenin đã yêu
cầu phải xem xét nghiêm túc những vấn đề mà phe đối lập
đặc biệt quan tâm cũng như ý kiến thiết thực của họ
chống lại tình trạng quan liêu, phát huy dân chủ và tinh thần
tự chủ của công nhân. Song song với việc nhấn mạnh tính dân
chủ trong đảng, trong đó có việc bảo vệ quyền lợi của
bất kỳ thiểu số nào, Lenin còn nhấn mạnh tới tính tập
trung trong Đảng, đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc "thiểu
số phục tùng đa số", "bộ phận phục tùng tổng thể".
Tuyệt đối không cho phép trong Đảng xuất hiện hoạt động
phe phái, cũng như khuynh hướng vô chính phủ. Lenin nêu rõ:
Nhất trí trong hành động, tự do trong thảo luận và phê bình,
đây là kỷ luật mà chính đảng dân chủ giai cấp tiên tiến
cần phải có. Đặc biệt, sau khi Cách mạng Tháng Mười thắng
lợi, trong bối cảnh nước ngoài can thiệp vũ trang, nội chiến
trong nước phức tạp, các thế lực thù địch trong và ngoài
nước sử dụng mọi thủ đoạn phá hoại đoàn kết trong
Đảng, tư tưởng "phi vô sản" tràn lan trong Đảng, Lenin đã
đặc biệt nhấn mạnh tính tập trung, đoàn kết, kỷ luật.
Người nói: Giai cấp vô sản thực hiện tập trung vô điều
kiện là một trong những điều kiện cơ bản để chiến thắng
giai cấp tư sản. Bất kỳ ai, dù chỉ là một chút lơi lỏng
kỷ luật thép của chính đảng giai cấp vô sản thì người
đó trên thực tế đã tiếp tay cho giai cấp tư sản chống lại
giai cấp vô sản. Đây chính là hình thái gốc của nguyên tắc
tập trung dân chủ mà Lenin đề xướng, xây dựng và hướng
dẫn thực hiện.

Sau Cách mạng tháng Mười, do sự can thiệp vũ trang của chủ
nghĩa đế quốc và sự phá hoại của bọn phản cách mạng
trong nước, Đảng Bolshevik không thể không áp dụng chế độ
tập trung cao độ, quyền lực tối cao tập trung vào Bộ Chính
trị T.Ư Đảng, chế độ ủy nhiệm cán bộ lãnh đạo Đảng,
chính quyền thay thế cho chế độ bầu cử trong thực hiện
mệnh lệnh chiến đấu. Điều này bảo đảm cho chính quyền
Xô Viết non trẻ vượt qua được những thử thách gay gắt,
song cũng để lại một hệ lụy là đời sống dân chủ trong
Đảng bị suy yếu, quyền dân chủ của đảng viên bị hạn
chế, dẫn đến khuynh hướng một số tổ chức Đảng và cá
biệt một vài lãnh đạo có tính chuyên quyền, độc đoán,
đòi hỏi đặc quyền, quan liêu, xa rời quần chúng.

Trước tình hình đó, Lenin muốn xây dựng một cơ quan giám sát
trong Đảng có tính độc lập, có uy tín cao để tăng cường
và hoàn thiện chế độ giám sát trong Đảng, bảo đảm quán
triệt chế độ tập trung dân chủ trong Đảng. Từ Đại hội
IX đến đại hội XII, dưới sự chỉ đạo của Lenin, việc
xây dựng cơ chế giám sát trong Đảng có sự phát triển rất
lớn. Lenin đã đích thân chủ trì Đại hội X, Đại hội XI
Đảng CS Liên Xô lần lượt thông qua Nghị quyết về Ủy ban
Giám sát và Điều lệ Ủy ban Giám sát. Năm 1923, khi lâm bệnh
nặng, Lenin vẫn viết bài Chúng ta cần làm gì để cải tổ
Viện kiểm sát công nông cho Đại hội XII, trong đó trình bày
một cách khoa học về tư tưởng giám sát và chế độ giám
sát của Đảng và Chính phủ.

Đại hội đại biểu XI là Đại hội cuối cùng Lenin tham gia.
Dưới dự lãnh đạo của Người, Đại hội đã xây dựng
được một hệ thống giám sát trong Đảng tương đối hoàn
chỉnh, đó là thành lập Ủy ban Kiểm tra T.Ư và Ủy ban Giám
sát T.Ư. Đồng thời quy định các ủy viên trong hai ủy ban này
phải có 10 năm tuổi đảng trở lên. Ủy ban Kiểm tra T.Ư gồm
ba người, chủ yếu phụ trách công tác kiểm tra cơ quan trung
ương và Ban Bí thư, cũng như kiểm tra tình hình sử dụng kinh
phí T.Ư. Ủy ban Giám sát T.Ư và Ủy ban Giám sát các cấp do
đại hội đảng các cấp bầu ra, chủ yếu phụ trách công tác
giám sát của tổ chức các cấp tương ứng.

Thời kỳ đầu, Stalin làm Tổng Bí thư, chế độ tập trung dân
chủ và các chế độ giám sát liên quan tiếp tục được quán
triệt tốt. Khi họp Bộ Chính trị, Stalin thường không nói gì,
ông ngậm tẩu đi đi, lại lại chung quanh bàn họp, chăm chú
lắng nghe từng đồng chí phát biểu. Cuối cùng ông mới lên
tiếng, quyết định sau khi bàn thảo. Năm 1936, Hiến pháp Liên
Xô sau khi được toàn dân thảo luận trong năm tháng rưỡi
được trình lên Đại hội đại biểu Liên bang Xô Viết thông
qua. Đêm 21-6-1941, đêm trước ngày phát-xít Đức tiến công
Liên Xô, Stalin đã chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị đến
tận sáng. Sau Đại hội XVII của Đảng CS Liên Xô vào năm 1934,
vị trí của Stalin trong Đảng vững như bàn thạch, uy tín của
ông không ai sánh kịp, lời khen ngợi dành cho ông không ngớt.
Trong nhiều vấn đề, ông bắt đầu tỏ ra quá tự tin, thậm
chí độc đoán.

Rồi đại hội Đảng không thể diễn ra theo đúng định kỳ,
Đại hội XVIII diễn ra vào năm 1938 và phải 13 năm sau, Đại
hội XIX mới được tổ chức. Đương nhiên, chiến tranh là
một nhân tố khiến cho việc tổ chức đại hội bị hoãn
lại, nhưng nhân tố mang tính quyết định vẫn là do sinh hoạt
chính trị trong Đảng không thường xuyên. Một minh chứng nữa
là sau chiến tranh, từ năm 1947 đến năm 1952 không có một hội
nghị toàn thể T.Ư nào được tổ chức. Trong các văn bản
của Bộ Chính trị Đảng CS Liên Xô năm 1934 rất khó có thể
tìm được một nghị quyết do các ủy viên Bộ Chính trị
biểu quyết thông qua, mà đa số nghị quyết là do Stalin trình
bày miệng sau đó thư ký chép lại. Trên rất nhiều văn kiện
trong tháng 9, còn đặc biệt chú thích "chưa trưng cầu ý
kiến". Tuy nhiên, cũng không thể dựa vào đó mà kết luận
rằng, mọi quyết sách trong thời gian này đều là kết quả
từ sự độc đoán của Stalin. Zhukov, lãnh đạo cao cấp của
Đảng và quân đội Liên Xô đã viết trong hồi ký: Trong suốt
thời kỳ chiến tranh, Bộ Chính trị T.Ư Đảng, Ban Tổ chức
T.Ư Đảng và Ban Bí thư đã họp tổng cộng hơn 200 lần để
nghiên cứu thảo luận về những vấn đề trọng đại như:
quốc phòng, ngoại giao, phát triển kinh tế. Ủy ban Quốc phòng
do Stalin lãnh đạo đã đưa ra hơn 10.000 nghị quyết. Trong Ủy
ban Quốc phòng, thường xuyên có những ý kiến trái ngược
nhau. Nếu không đạt được ý kiến nhất trí thì ngay lập
tức hai bên tranh luận cử đại diện tham gia một ủy ban
chuyên môn, chịu trách nhiệm đưa ra kiến nghị đã được
hiệp thương nhất trí để bàn thảo tại hội nghị lần sau.

Từ thời Stalin, chế độ giám sát đồng bộ tương đối hoàn
chỉnh do Lenin đích thân xây dựng đã không được thực hiện
một cách triệt để. Đến năm 1934, Điều lệ Đảng do Đại
hội XVII thông qua đã đưa ra quy định mới về chức năng của
Ủy ban Giám sát. Theo đó, Ủy ban này có ba quyền hạn: giám
sát việc thực hiện các nghị quyết của BCH T.Ư, xem xét và
xử lý những phần tử vi phạm kỷ luật Đảng, xem xét và xử
Íy những phần tử vi phạm đạo đức Đảng. Nghĩa là cơ quan
giám sát chỉ giới hạn trong việc kiểm tra hoạt động của
tổ chức cấp dưới, giám sát hoạt động của những phe đối
lập và đảng viên bất đồng ý kiến. Về căn bản, cơ quan
giám sát không thể giám sát cơ quan lãnh đạo và thành viên cơ
quan lãnh đạo thuộc tổ chức đảng ngang cấp. Tính nghiêm
trọng của vấn đề còn thể hiện ở chỗ, bản thân cơ quan
giám sát được giao trọng trách điều tra, xử lý chủ nghĩa
quan liêu lại cũng bị nhiễm căn bệnh quan liêu. Việc giám sát
các tổ chức đảng và các cán bộ cấp dưới thường được
tiến hành chiếu lệ. Kiểu kiểm tra qua loa, chiếu lệ diễn ra
ngày càng nhiều, gây phản cảm cho cấp dưới.

Sinh hoạt dân chủ trong Đảng không thường xuyên, công tác
giám sát trong Đảng không được thực hiện nghiêm chỉnh đã
tạo điều kiện cho các hoạt động tiêu cực trong đảng phát
triển. Khi thảo luận Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội
XVIII, các ủy viên trong Bộ Chính trị chỉ có khen và khen.
Stalin nói: Báo cáo các đồng chí thảo luận đã bị bỏ, báo
cáo mới sửa các đồng chí còn chưa xem. Sau một lát lúng
túng, Beria, con người rất giỏi nịnh bợ, nói: Bản thân bản
báo cáo này đã quá hay, tin rằng sau khi được đồng chí Stalin
sửa chữa báo cáo sẽ còn tuyệt vời hơn nữa (!) Hồi ấy,
trong Đảng CS Liên Xô, mọi người hầu như không nói thật.
Trên đây chỉ là một thí dụ về thói nịnh bợ, nói vuốt
đuôi. Đối với những đồng chí có ý kiến bất đồng trong
Đảng, Stalin đã có lúc sai lầm khi áp dụng phương thức đấu
tranh tàn khốc, đấu tranh thẳng thừng, mở rộng, thậm chí là
mở rộng nghiêm trọng phạm vi đối tượng bị công kích. Bởi
vậy rất khó có thể nghe tiếng nói khác trong Đảng và quyền
giải thích chân lý luôn bị cá nhân.

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6173), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét