Việc giàn khoan Haiyang Shiyou 981 được đưa vào vùng đặc
quyền kinh tế của Việt Nam cho thấy Hà Nội đã thất bại
trong việc dùng "đồng chí" và "phi liên kết" làm đối
sách cho sự bành trướng trên biển của Bắc Kinh.
Vài năm gần đây, Việt Nam đã chuyển bước nhất định để
tạo vị thế mới. Tuy vậy, sau những thắng lợi ngoại giao
từ ghế chủ tịch luân phiên ASEAN (2010), đến khi Hoa Kỳ xoay
trục, được sự hỗ trợ của một số lập luận cũ và mới,
Hà Nội chỉ duy trì đường hướng mới ở mức tối thiểu
để "cân bằng" với các bên, và càng xác quyết con đường
phi đồng minh.
Trước khi bàn đến các lập luận ấy, cần nhắc lại rằng
lịch sử và thực tế đã cho thấy <em>đồng minh là một
<strong>nhu cầu </strong>và<strong> quan hệ khách quan</strong> ở
mọi thời đại, mọi lãnh thổ, mọi chế độ xã hội</em>. Nó
có thể là một liên minh chính thức về nhiều mặt, theo mục
tiêu chiến lược, mà cũng có thể chỉ là sự gắn kết không
chính thức hoặc tùy vào mục tiêu tình thế, dựa trên những
chia sẻ về giá trị, quyền lợi, hoặc chỉ là động thái
sách lược, chiến thuật. Nó có thể là một liên minh chính
trị, một khối quân sự, kinh tế, hay những dạng đồng minh
về thể chế, văn hóa… Và quan hệ đồng chí cũng chỉ là
một biến thể trong sự đa dạng đó.
Từ sau Thế chiến thứ II, ngoài con số rất hiếm hoi quốc gia
được thừa nhận trung lập, còn lại, tùy tương quan và giai
đoạn, không một không gian địa lý nào tránh khỏi thế liên
kết ngoại biên, theo hình thức này hay hình thức khác.
Khi chưa có sự việc nghiêm trọng hiện nay tại Biển Đông,
các ý kiến đứng trên cương vị chính thống đã không bác
cách tiếp cận đồng chí. Ngược lại, có nhiều khẳng định,
rằng Việt Nam không cần đến đồng minh, vì quyết định là
ở nội lực.
<strong>1. Hiểu nội lực và ngoại lực như thế nào?</strong>
Phát triển nội lực để xây dựng một quốc gia thịnh
vượng, đủ sức đối mặt với mọi thách thức, là quan
điểm hoàn toàn đúng. Nhưng nói rộng ra, rằng phải tự lực
chứ không cần đến ngoại lực, không cần đến đồng minh,
là hoàn toàn sai.
Về nhận thức, lập luận mở rộng đó phản ánh một tư duy
phi lịch sử và phi thực tế.
Về chiến lược, nó <em>lấy</em> <em>cái dài hạn thay cho cái
cấp bách, nhầm lẫn giữa tương quan kinh tế – xã hội với
tương quan chính trị – quân sự</em>, bởi nội lực là cái
trường kỳ của mọi quốc gia, và khoảng cách giữa các nước
về nguồn lực này không phải một sớm một chiều mà rút
ngắn, trong khi vấn đề chủ quyền liên quan đến Trung Quốc
lại rất cấp bách.
Về chiến thuật, chỉ nhắm đến nội lực (vốn rất thua
kém) thì chẳng khác nào <em>tự trói tay</em> trước một đối
thủ vừa vũ trang hiện đại đầy mình, vừa đủ thế và lực
để phân hóa sự liên kết khả dĩ của đối phương.
Bên cạnh đó, nhấn mạnh nội lực để bác bỏ đồng minh,
xem nó chỉ là ngoại lực, là cách hiểu siêu hình.
Lẽ nào trong hai cuộc chiến chống Pháp và Mỹ, chỉ bằng
nội lực riêng có mà Việt Nam đã thắng? Đương nhiên là
không. Hậu thuẫn và viện trợ của các đồng minh Liên Xô,
Đông Âu, Trung Quốc, nếu chỉ là ngoại lực thuần túy, tự
nó sẽ chẳng mang ý nghĩa gì. Chỉ khi người Việt
<strong><em>chuyển hóa thành cái của mình</em></strong>, không xem
chúng là bất đắc dĩ hay thiếu hữu dụng, thì mới có được
thành quả như đã thấy.
Tương tự, từ sau đổi mới, nếu xem đầu tư nước ngoài là
như một ngoại lực chẳng đặng đừng (phải chấp nhận tư
bản nước ngoài vào bóc lột), chứ không xem như
<strong><em>một nguồn lực nội tại hóa</em></strong>, thì chắc
chắn bộ mặt đất nước đã không như ngày nay.
<strong><em>Quan hệ đồng minh, khi xác lập đầy đủ và vận
hành hiệu quả, sẽ trở thành</em></strong><em> <strong>một cấu
thành của nguồn lực chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự
của quốc gia</strong></em>. Vấn đề là, thay vì giữ nhận thức
sai lầm khi tách bạch nội lực và ngoại lực, người làm
chiến lược cần tính toán, vận dụng nguồn lực đặc biệt
này sao cho tối ưu.
Nhưng không dừng ở vấn đề nội lực, có lập luận cho
rằng sự liên kết vẫn không bảo đảm được cho đất nước
khi gặp nguy, bởi đồng minh cũng chỉ nhắm đến quyền lợi
của họ chứ không vì quyền lợi của ta. Hai dẫn chứng
thuyết phục là hải chiến Hoàng Sa năm 1974 bị Hoa Kỳ làm
ngơ, và chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 bị Liên Xô
tảng lờ.
<strong>2. Đồng minh để làm gì và quyền lợi trong quan hệ
đó ra sao?</strong>
Cho rằng xác lập đồng minh là để được lập tức can
thiệp quân sự, như nhiệm vụ thường trực và bất biến của
họ, là cách nghĩ thiếu trách nhiệm với chính mình và người
khác.
Trừ khi chiến tranh đã là <em>tất yếu và toàn cục</em> vì
một hay nhiều bên đã có chủ đích, không quốc gia nào lại
muốn những xung đột<em> nhất thời và cục bộ</em> trở thành
nguyên cớ để khơi mào một cuộc chiến diện rộng, có sự
tham gia trực tiếp của các bên thứ ba. Với những chuyển
biến của cục diện thế giới từ sau chiến tranh lạnh,
người làm chiến lược có lý trí khó mà nghĩ rằng tạo quan
hệ đồng minh là để đối tác tức thì tham chiến cho mình,
bất kể nguyên nhân, thời cuộc và chiến cuộc.
Vậy, phải chăng có đồng minh cũng như không, nên không cần
phải có? Không, mà chính liên kết ngoại biên là nhằm hạn
chế nguy cơ chiến tranh, bởi <strong><em>quan hệ đồng minh là
để gia tăng vị thế và giảm thiểu nguy cơ hay thiệt hại cho
các quốc gia của liên minh, chứ không phải để can thiệp vô
tội vạ, làm tăng nguy cơ cho nước khác và giảm đi cơ hội
hòa hoãn</em></strong>.
Cho nên, đồng minh không phải là loại quan hệ đơn chiều,
chỉ để hưởng sự bảo vệ ở quốc gia này và phải đi bảo
vệ ở quốc gia khác. Mà, vì quyền lợi của chính mình,<em>
<strong>nhận định và xử trí chuẩn xác về chiến lược, sách
lược và chiến thuật</strong> là điều trước tiên phải có
của quốc gia liên hệ trong vụ việc; và cùng với nó, tương
tác đồng minh là điều kiện không thể thiếu, vì đó không
những là <strong>thế lực răn đe từ xa</strong>, hỗ trợ phòng
vệ, mà còn là <strong>lực lượng trực tiếp hậu
thuẫn</strong> về ngoại giao và quốc phòng, chính trị và kinh
tế, khi lâm sự</em>.
Đặt hai sự kiện Việt Nam bị đồng minh phớt lờ trong cách
nhìn ấy, có lẽ sẽ phần nào khách quan hơn.
Đứng trên lập trường của người Việt, ta không thể không
bất bình trước những gì đã diễn ra. Nhưng cũng cần nhìn
rộng hơn, vào thời cuộc và vị thế của hai đồng minh đó,
tại thời điểm của mỗi sự kiện.
Về vai trò của Hoa Kỳ trong hải chiến Hoàng Sa, đã có <a
href="http://www.danchimviet.info/archives/83580/tran-hoang-sa-trong-chien-tranh-lanh-toan-cau/2014/02">ý
kiến</a> cho rằng một mặt, sa lầy trong chiến tranh Việt Nam,
Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris (27/01/1973) để chấm dứt sự tham
chiến của mình; mặt khác, trước sự suy tàn kinh tế của
khối Xô Viết và xu hướng tư bản hóa của Hoa Lục, nước
Mỹ vừa chọn người đồng chí trở mặt của Liên Xô, vừa
chấp nhận thua sách lược tại Việt Nam để sẽ thắng chiến
lược trên thế giới, qua việc tập trung nguồn lực cho sự
diệt vong khả dĩ của khối Đông Âu.
Chúng ta hiện không đủ dữ liệu để kết luận chắc chắn,
nên vẫn không loại trừ việc Hoa Kỳ đã bỏ mặc Hoàng Sa
chỉ vì sự tàn tạ của họ bởi chiến tranh, nhưng khả năng
toàn cục như vừa nói cũng là một lý giải cần được nghiên
cứu thấu đáo và có thể chấp nhận.
Khác với trường hợp Hoa Kỳ, nại Liên Xô ra để biện hộ
cho quan điểm phi đồng minh, là vô lý và bất công. Họ không
can thiệp trực tiếp nhưng vẫn <a
href="http://dantri.com.vn/the-gioi/lien-xo-chia-lua-voi-viet-nam-trong-chien-tranh-bien-gioi-the-nao-727510.htm">hết
lòng ủng hộ</a> Việt Nam trong thời gian ấy. Bên cạnh đó,
còn có những khía cạnh khác cần nhìn vào.
Không thể phủ nhận rằng cuộc chiến biên giới phía Bắc có
liên hệ tới việc Việt Nam đưa quân vào Kampuchea, ít ra là
nguyên cớ đối với Trung Quốc. Với người Việt, hành động
của mình là hợp lý. Dù thế, thử hỏi, sau khi ký Hiệp ước
Hữu nghị và Hợp tác với Liên Xô (08/11/1978), Hà Nội hành
động quân sự nhưng có tham vấn trước với đồng minh không,
hay chỉ nghĩ rằng ở tình huống nào cũng không thể bị Moscow
bỏ mặc? Nếu đã tự mình đưa ra quyết sách, không tính đến
tình thế của đồng minh, thì không thể trách cứ họ.
Xét trên toàn cục, đấy là thời kỳ mà các khó khăn đã
tích tụ sâu rộng ở Liên Xô, và bản thân họ cũng đang trong
tình trạng rất dễ bùng nổ tại biên giới với Trung Quốc.
Vả lại, chỉ có dân chúng Việt Nam khi ấy không biết rằng
một tháng là hạn định mà Đặng Tiểu Bình đã đặt ra cho
vụ thử lửa này. Do vậy, xét mọi mặt, việc Liên Xô không
can thiệp quân sự là xác đáng.
Nhìn hai sự kiện vừa nói theo kiểu một chiều để cho rằng
đồng minh chỉ vì lợi ích của riêng họ mà thôi, thì cũng
chính là đang xác tín rằng <em>bản thân ta chỉ đứng trên
lợi ích của riêng mình để phán xét</em>.
Từ cổ chí kim, có nước nào không đứng trên lợi ích của
chính mình và đặt nó lên hàng đầu không? Việt Nam không vì
lợi ích của chính mình và không đặt nó lên hàng đầu chăng?
Chỉ cần trả lời hai câu hỏi ấy, sẽ lập tức thấy rằng
luận cứ đồng minh chỉ vì quyền lợi riêng của họ, ngay từ
việc đặt thành vấn đề, đã là không đúng. Nó phản ánh
cái <em>tâm thức lấy mình làm trung tâm</em>, <strong><em>đem
quyền lợi của mình ra làm đơn vị đo lường cho người
khác</em></strong>. Và đương nhiên, với thước đo ấy, sẽ
không một quốc gia nào đáp ứng được.
Trong mọi sự vụ liên quốc gia, cái được xét để xác lập
hoặc định hình quan hệ, là quyền lợi và mục tiêu chung.
Nếu có thiện chí, các bên liên quan sẽ điều tiết để các
quyền lợi trở nên hài hòa, bởi giữa các chủ thể khác nhau,
không thể có quyền lợi nào trùng khít vào nhau, mà chỉ có
sự đan xen, giao thoa với nhau. Do vậy, nếu đã nhìn nhận
quyền lợi chung, vấn đề là <em>cần chủ động thích ứng,
vận dụng và mở rộng nó, thay vì cứ bất động mà đòi hỏi
người khác phải vì quyền lợi của riêng mình</em>.
Mặt khác, cùng một quốc gia sẽ có những quyền lợi chung
khác nhau với những nước khác nhau, và chúng có thể xung khắc
nhau. Nên, cùng lúc, sẽ có nhiều loại liên hệ đồng minh, tùy
theo thực tế và nhu cầu. Từ đây, điều quan trọng là nhận
thức về các quyền lợi ấy ra sao để xác định các nội
dung, hình thức của liên kết, mà <em>mấu chốt là xử trí
tương quan giữa các liên hệ để xác định</em> <strong><em>đâu
là loại đồng minh có tính quyết định</em></strong>. Trừ thời
kỳ đối lập toàn cầu giữa hai hệ thống xã hội, với sự
thống lĩnh của quyền lợi chung về hệ tư tưởng,
<strong><em>tự thân việc liên kết ngoại biên đã là và luôn
là vấn đề về quyền lợi của quốc gia, dân
tộc</em></strong>. Nên ngay trong giai đoạn phân cực đó, ta cũng
thấy nổi bật những trường hợp trái khoáy làm nên lịch
sử:
Liên bang Xô Viết có thể gia nhập khối Đồng minh của kẻ
thù không đội trời chung về ý thức hệ khi bị nước Đức
phát-xít tấn công. Tương ứng, để bảo vệ không gian tự do,
phương Tây sẵn sàng là bạn chiến đấu của kẻ luôn muốn
đào huyệt chôn mình.
Sau cuộc chiến tàn khốc, ở châu Á, Nhật đã nhanh chóng xóa
đi mối thâm thù để xác lập đồng minh với chủ nhân hai
quả bom nguyên tử ném xuống đất nước mình, bởi quốc gia
ấy không những trợ giúp kiến thiết hậu chiến mà còn bảo
đảm cho họ trước mọi đe dọa quân sự.
Còn Trung Hoa xã hội chủ nghĩa, đầu những năm 1970, đã đến
với phương Tây như một đồng minh chính trị quyết định
để chống lại Liên Xô, đồng thời cũng là đối tác hiệu
năng cho nền kinh tế ọp ẹp của mình. Và cùng lúc, Hoa Kỳ
phớt lờ quan hệ đồng minh thể chế với Đài Loan để chọn
Hoa Lục làm "đối tác chiến lược toàn diện".
Thế nhưng hòn đảo ấy không vì sự "phản bội" này mà
mãi "tổn thương", mãi "dự phòng" điều tương tự và
cự tuyệt liên kết để khiến mình có thể cô độc. Họ
không vì sự thay đổi nhất định của đồng minh trước tình
thế chiến lược mới, không vì sự tương đồng văn hóa,
lịch sử với Trung Quốc để bám lấy những cái chung thiếu
thực chất so với nền tự do và ý tưởng độc lập mà họ
theo đuổi. Từ khi Hoa Kỳ hậu thuẫn Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa giữ ghế tại Liên Hiệp quốc (1971) thay Trung Hoa Dân quốc,
cùng với việc tăng cường nội lực từ nền kinh tế tự do
và hoàn thiện nền chính trị dân chủ, Đài tiếp tục giữ
vững thế liên minh vốn có. Điều đó đã giúp họ hùng mạnh
cả về kinh tế lẫn quân sự, là một trong bốn con rồng châu
Á, và sớm trở thành thế lực hải quân trong vùng.
Những ví dụ gần gũi trên cho thấy cách xử trí kinh điển
về đồng minh, bao gồm cả yếu tố "đồng chí" ở mỗi
bên. Họ không lấy hệ tư tưởng làm tâm điểm, mà là
<strong><em>tình thế và vị thế</em></strong>. Họ không lấy
"anh em" hay "láng giềng" làm chuẩn, mà là <em>quyền lợi
<strong>thiết thực</strong> và sự bảo an</em>. Họ không "ghi
vào tâm khảm" một sự biến lịch sử để co thủ, mà
<em>nhanh chóng</em> <strong><em>thích ứng</em></strong><em> với hiện
thực để bảo đảm <strong>hữu hiệu</strong></em> cho mình.
Trong khi đó, ở Việt Nam, sự cố bị bỏ rơi và nỗi e ngại
quyền lợi riêng của đồng minh cứ ám thị không ít người.
Gần đây, từ khi Hoa Kỳ xoay trục, nỗi ám ảnh đó lại
được bổ sung bằng việc cho rằng chúng ta là bên thứ ba của
cuộc chơi nước lớn, phải tránh bị lôi kéo để không trở
thành nạn nhân.
<strong>3. Xác lập vị thế bên thứ ba bằng mong muốn hay thực
tế?</strong>
Ý kiến cho rằng Việt Nam là bên thứ ba xuất phát từ tầm
toàn cầu của vấn đề, là cuộc đua ngôi vị bá chủ giữa
Hoa Kỳ và Hoa Lục. Xét về quyền lợi của riêng họ trong vị
thế đó, đúng là Việt Nam ở ngoài cuộc. Nhưng xét giữa ta
với từng siêu cường, và giữa ta với tương quan chung, thì
không hẳn như vậy.
Với kết thúc của chiến tranh lạnh và do tương quan cụ thể
với đồng minh, Hoa Kỳ đã rời khỏi Đông Nam Á qua việc
đóng cửa căn cứ không quân Clark (1991) và căn cứ hải quân
Subic (1992) ở Philippines. Nga cũng hành động tương tự ở Cam
Ranh (1993)<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftn1">[1]</a>.
Cơ may bình yên của vùng dường như tiến triển thêm sau khi
<em>Tuyên bố về Ứng xử của các bên tại biển Nam Trung
Hoa</em> ra đời (2002).
Phần Việt Nam, sau khi rút khỏi Kampuchea (1989), đã bình
thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991) và Hoa Kỳ (1995), gia
nhập ASEAN (1995), củng cố nền hòa bình qua Hiệp ước Biên
giới trên đất liền (1999), Hiệp định Phân định vịnh Bắc
Bộ và Hiệp định Hợp tác Nghề cá (2000) ký với Trung Quốc.
Nhưng chính từ khi hai hiệp định sau có hiệu lực (2004), Hoa
Lục khởi sự lối hành xử ngang tàng trên biển.
Ngày 08/01/2005, cảnh sát biển Trung Quốc xả súng vào tàu của
ngư dân Thanh Hóa tại vùng đánh cá chung. Chín người chết,
bảy người bị thương cùng tám người khác bị bắt về Hải
Nam, mà theo họ, là kết quả từ hành động "ăn cướp có
vũ trang nghiêm trọng trên biển" của ba tàu Việt Nam. Sự
việc đã mở ra thời kỳ mới giữa hai nước: tranh chấp trên
biển thay cho trên bộ.
Năm 2008, trong cuộc gặp vào những tháng đầu năm với Tư
lệnh vùng Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, Đô đốc Timothy Keating,
giới chức tương nhiệm Hoa Lục đã bán chính thức đề nghị
hai nước cùng chia đôi Thái Bình Dương<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftn2"><sup><sup>[2]</sup></sup></a>.
Đến tháng Ba 2009, cục diện bắt đầu thay đổi từ sau vụ
đối đầu Impeccable.
Tháng Năm 2009, Hoa Lục chính thức hóa trước thế giới về
lãnh hải đường chín đoạn, bằng bản đồ đệ trình cho
Liên hiệp quốc.
Tháng Ba 2010, Trung Quốc thông báo với Hoa Kỳ, xem "Nam Hải"
là lợi ích cốt lõi. Đáp lại, tháng Bảy 2010, Ngoại trưởng
Hillary Clinton loan báo tại Đối thoại Sangri-La, xem hòa bình,
ổn định và tự do đi lại ở Biển Đông là lợi ích quốc
gia.
Năm sau, trong vùng biển Việt Nam, tàu Trung Quốc cắt cáp tàu
Bình Minh 02 (26/05/2011) và tàu Viking II (09/06/2011).
Tháng Tám 2011, Trợ lý Ngoại trưởng Kurt Campbell nói Hoa Kỳ
cần chuyển hướng, từ các thách thức ngắn hạn ở Trung
Đông sang các quan ngại lâu dài ở châu Á – Thái Bình Dương.
Đến ngày 11/10/2011, Hillary Cliton công bố bài viết <em>Thế kỷ
Thái Bình Dương của Hoa Kỳ</em> (America's Pacific Century).
Tháng Mười một 2011, Tổng thống Barak Obama khẳng định châu
Á – Thái Bình Dương là ưu tiên hàng đầu trong chính sách an
ninh, cùng lúc với thỏa thuận triển khai 2.500 quân tại căn
cứ Darwin, Australia.
Tháng Một 2012, Mỹ công bố chiến lược quốc phòng mới,
giảm chi tiêu và chuyển hướng sang châu Á.
Tháng Sáu 2012, Việt Nam thông qua Luật Biển. Trung Quốc đáp
lại bằng việc ồ ạt thực hiện các chương trình phát triển
Tam Sa. Trước căng thẳng đó, tháng Bảy cùng năm, ASEAN bắt
đầu "chính thức hóa" sự chia rẽ khi lần đầu tiên, hội
nghị ngoại trưởng của khối không ra được tuyên bố chung do
không thống nhất về vấn đề Biển Đông.
Trung tuần tháng Mười một 2012, Đại hội XVIII Đảng Cộng
sản Trung Quốc xác định xây dựng một cường quốc biển.
Ngày 30/11/2012, tàu Bình Minh 02 lại bị tàu Trung Quốc cắt cáp.
Tháng Một 2013, Tổng thống Obama ký đạo luật chi tiêu quốc
phòng của năm, có điều khoản thể hiện việc Hoa Kỳ từ bỏ
lập trường trung lập trong tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư tại
Đông Bắc Á.
Ngày 22/01/2013, Philippines loan báo kiện Trung Quốc ra Trọng tài
Liên hiệp quốc về tranh chấp biển. Trước đó, tháng Sáu
2012, bãi cạn Scarborough rơi vào tay nước lớn sau khi Philippines
lỡ "mềm dẻo" mà tin vào kiểu đàm phán để áp đặt một
chiều của Trung Quốc, tin vào lời hứa cùng rút lực lượng
hai bên khỏi bãi, vốn đã căng thẳng từ khi họ đưa tàu vào
hồi tháng Tư. Tháng Năm 2013, tiếp tục trả đủa vụ kiện,
Trung Quốc đưa tàu chiến và hải giám vào bãi Second Thomas,
nhưng chiếm đoạt bất thành.
Đầu tháng Sáu 2013, tại Đối thoại Shangri-La, Bộ trưởng
Quốc phòng Chuck Hagel loan báo chuyển sáu mươi phần trăm lực
lượng hải quân và không quân về khu vực Thái Bình Dương. Hoa
Kỳ căn bản hoàn chỉnh kế hoạch xoay trục.
Ngày 22/11/2013, Trung Quốc tuyên bố vùng nhận dạng phòng không
trên biển Hoa Đông. Bốn ngày sau, Hoa Kỳ điều hai máy bay B52
xâm nhập vào đó.
Hạ tuần tháng Tư 2014, vài giờ trước khi Tổng thống Obama
đặt chân đến Philippines (sau chặng dừng chân tại Nhật, Nam
Hàn và Malaysia), quan chức Mỹ – Phi ký thỏa thuận an ninh
mới, cho phép Mỹ sử dụng một số căn cứ quân sự hướng ra
Biển Đông.
Obama vừa rời khỏi châu Á, với các vị trí liên minh tối
thiểu dọc biển Hoa Đông và Biển Đông đã chính thức hóa
(Nhật – Phi – Úc) mà không có một quốc gia chủ yếu trong
tranh chấp, sự vụ giàn khoan 981 xảy đến cho chính nước đó.
Tiến trình trên cho thấy Hoa Kỳ không phải là người khơi
mào cuộc đấu hiện nay ở châu Á – Thái Bình Dương. Ngoài
điểm nóng Bắc Hàn và trách nhiệm với nước Nhật chịu sự
giải giáp, họ đã triệt thoát khỏi Đông Nam Á. Nếu không vì
thách thức mới, không hẳn họ lại muốn tốn hao nguồn lực
cho nó khi đã hao mòn bởi sự can thiệp vào Afghanistan và Iraq,
bởi cuộc chiến chống khủng bố, và đặc biệt, khi địa vị
kinh tế đã không còn như trước. Họ như một <em>thế lực
bên ngoài <strong>phải</strong> trở thành người trong cuộc, mà
mục đích can dự là để duy trì trật tự thế giới đã
có</em>.
Còn Việt Nam, trong các xung đột liên quốc gia có tầm khu vực
suốt mấy mươi năm qua, đã và vẫn là một bên chủ yếu.
<em>Chúng ta là <strong>người trong cuộc tại chỗ</strong>, có
<strong>quyền lợi trực tiếp</strong> trong tranh chấp, có
<strong>mục tiêu đa dạng, cụ thể và thiết thân</strong> hơn
các thế lực bên ngoài</em>. Chủ quyền bị đe dọa, tài nguyên
bị xâm phạm, môi trường sinh sống ngàn đời của người dân
ven biển bị thu hẹp đáng kể…, liệu ta có thể trở thành
"bên thứ ba" để một "bên thứ hai" khác đối diện mà
xử trí?
Trừ khi không xem quốc gia-dân tộc là tiên quyết mà vẫn cho
rằng Trung Quốc thắng thế sẽ giúp chủ nghĩa xã hội vững
mạnh, thì ở tầm toàn cầu, ai lãnh đạo thế giới chăng
nữa, Việt Nam cũng không liên can. Vì dù Hoa Kỳ hay Hoa Lục,
với thực tế lịch sử đã trải qua, người Việt biết rằng
nước nhỏ cần uyển chuyển trước nước lớn để bảo đảm
cho môi trường phát triển của mình.
Thế nhưng, sẽ có sự khác biệt hết sức lớn đối với
Việt Nam khi một trong hai quốc gia này chi phối trật tự thế
giới. Phần Hoa Kỳ, với cựu thù, họ không đối nghịch về
lãnh thổ hay chủ quyền biển. Phần Trung Hoa, với người bạn
hữu hảo, ngoài vấn đề lãnh thổ trên bộ đã im ắng, nay
họ đang manh tâm cướp đoạt biển đảo. Trừ khi từ bỏ ý
đồ thống lĩnh hoặc chiếm lĩnh xa bờ, nhà Hán của thế kỷ
XXI sẽ không bao giờ ngừng việc khuất phục đồng chí phương
Nam, như là điều kiện tiên quyết để thực hiện chiến
lược biển của mình. Như vậy, ngay từ những bước đầu
tiên của cuộc tranh đua hải dương, biểu hiện quan trọng
nhất của tranh đua toàn cầu Mỹ – Trung, liệu ta có thể là
kẻ vô can không?
Nếu chặt khúc toàn cục để lấy cái ngọn, tức sự cạnh
tranh ngôi vị toàn cầu, thì chúng ta là người bên ngoài. Nhưng
khi xét trong tiến trình tổng thể, từ điểm xuất phát, thì
rõ ràng ta đứng bên trong. Thậm chí, cho dù chỉ xét cái kết
cục tận cùng, giả định rằng Hoa Lục sẽ bá chủ, thì trên
con đường đi đến đó, chủ quyền của Việt Nam đã bị họ
bước qua để đi tiếp. Và tại thời điểm lên ngôi của họ,
Việt Nam hoặc phải tự tay dâng lấy toàn bộ biển đảo và
độc lập của mình, chịu sự đồng hóa, hoặc phải đối
diện với những "trừng phạt" trực tiếp và tàn khốc.
Nhưng dù chưa tính đến viễn cảnh đó, thì với tương quan
Việt – Trung trong bối cảnh hải dương khu vực và thế giới,
có đưa yếu tố Mỹ vào hay không cũng không thay đổi được
thực tế là Việt Nam đương nhiên ở vào thế đối nghịch
với Trung Quốc, trừ khi nước nhỏ có ý tưởng phục tùng.
Với tương quan Mỹ – Trung, trong cuộc đấu ngôi vị thế
giới, có đưa yếu tố Việt vào hay không cũng thay đổi
được thực tế là phương Nam nằm trong số những đối
tượng chính yếu mà phương Bắc phải khuất phục để xác
quyết vị thế toàn cầu mới.
Như thế, giống như trường hợp vai trò đúng của nội lực
bị viện dẫn sai trong tương quan với ngoại lực, ý kiến về
bên thứ ba xuất phát từ sự thật cạnh tranh chiến lược Mỹ
– Trung để kết luận "giả tưởng" rằng chúng ta chỉ là
người bên ngoài.
<strong>4. Các bên thứ ba tương tự giúp gì được cho bên thứ
ba Việt Nam?</strong>
Sau khi Việt Nam và Indonesia nối tiếp nhau giữ ghế chủ tịch
khối Đông Nam Á, Hoa Kỳ bắt đầu có những bước đi cụ
thể nhằm chuyển hướng quân sự. Từ thời điểm đó, không
hẹn mà gặp, các nước có chung nền "văn minh lúa nước"
bèn quay về lo cho mảnh ruộng, ao làng bình yên của mình, thay
vì cho biển lớn đang dậy sóng.
Kampuchea công khai ủng hộ Trung Quốc trong tranh chấp.
Lào chăm chút cho các đập thủy điện trên dòng Mekong, vốn
có thể gây hại lớn nhất cho đồng minh truyền thống của
mình.
Malaysia nay hòa hoãn hơn nhiều, thậm chí còn thẳng thừng "<a
href="http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130905-chau-a-my-chuyen-truc-nhung-asean-bi-trung-quoc-chia-re">Kẻ
thù của quý vị không có nghĩa là kẻ thù của chúng
tôi</a>", trong khi trước đó còn <a
href="http://www.thanhnien.com.vn/pages/20111023/malaysia-keu-goi-doan-ket-ve-bien-dong.aspx">kêu
gọi ASEAN đoàn kết trong tranh chấp</a>.
Singapore luôn kêu gọi Mỹ quay lại vùng nhưng tự mình không
đóng vai trò tích cực hơn trong khối, thậm chí khó chịu với
Philippines khi nước này kiện Trung Quốc ra toàn quốc tế.
Thailand và Myanmar không cần lo toan với vị trí cách xa Biển
Đông. Brunei không phải toan tính với một mẩu biển lọt giữa
Malaysia.
Indonesia là quốc gia biển không có mặt trong tranh chấp và
giữ thế lớn nhất trong tiểu vùng, thì cần giữ thái độ
không nghiêng về ai để còn làm trung gian giữa các bên.
Việt Nam, dù là một bên tranh chấp chính nhưng luôn kiên trì
con đường riêng với bên kia.
Còn lại mỗi Philippines, không từ bỏ giải pháp chính trị
nhưng tiến hành đồng thời cả biện pháp pháp lý lẫn xúc
tiến liên minh quân sự.
Trước sự tích cực hơn của Mỹ, thay vì tiếp tục giữ thế
tiến công ngoại giao trong hai năm 2010 và 2011 để hợp lực,
hầu hết các nước ASEAN dường như đều "nhận ra" chỗ
đứng bên ngoài của mình trong bàn cờ chiến lược Mỹ –
Trung. Nhưng cách nghĩ đó là tiếp cận rất tai hại cho ASEAN,
cho các nước trong tranh chấp Biển Đông và cho Việt Nam.
Việt Nam thấy rằng mình là bên thứ ba, muốn đứng ngoài
những gì được cho là không liên quan đến lợi ích của mình,
sao trách được Kampuchea khi họ hoàn toàn là người ngoài cuộc
trong tranh chấp Việt – Trung, sao trách được họ đã chọn
lấy nước lớn, vì với bên thứ ba, hà cớ gì phải chọn bên
yếu hơn để mình mất đi lợi ích mà còn rước họa vào
thân?
Việt Nam xem mình là bên thứ ba, sao tránh được Singapore,
Malaysia, Indonesia sẽ là người ngoài cuộc khi mà tranh chấp ở
bắc và trung phần Biển Đông là của người khác, còn mình
đã ở vị trí luôn được đồng minh bảo đảm an ninh, nhờ
tuyến lưu thông qua các eo Malacca, Sunda và Lombok.
Các nước ASEAN khác cũng có quyền lợi riêng tương tự, tùy
vị thế của họ, mà với tư cách bên thứ ba, Việt Nam không
thể trông mong nhiều.
Trong khi hối thúc Mỹ nhập cuộc thì trừ Philippines, các
nước ASEAN, kể cả Việt Nam, lại từng bước biến mình thành
người ngoài cuộc trước bối cảnh của khu vực và của chính
mình, bằng những động thái thiếu thực chất. Trước vai trò
không thể né tránh của cường quốc, họ nuôi hy vọng chuyển
gánh nặng sang Hoa Kỳ, còn mình trở thành bên thứ ba, đi dây
để hưởng lợi.
Nhưng, không giống các nước trong khu vực, Việt Nam vừa rất
khác về quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ, vừa sử dụng một
chiến lược chú trọng chiều rộng ngoại giao, thiếu chiều
sâu chính trị và quân sự trong tương quan với bên ngoài, nên
khó mà hưởng lợi tương tự như họ.
Đối với Mỹ, nếu Việt Nam cho rằng mình đứng ngoài chuyển
biến chiến lược chung, và cũng muốn họ thuần túy là bên
thứ ba trong vấn đề giữa Việt Nam và Trung Quốc để giữ
sự hòa hiếu với phương Bắc, thì Hoa Kỳ sao phải cố xem
mình như người trong cuộc? Và theo đó, họ đương nhiên chỉ
cần can dự một cách tối thiểu về ngoại giao vì cho dù trên
toàn cục, nhắm đến tự do hàng hải và kiềm chế đối thủ,
thì với những tranh chấp cục bộ mà mình không có liên hệ
đồng minh, họ cũng phải giữ sự hòa hoãn cho riêng mình khi
còn có thể.
Thế giới ngày nay đầy những ràng buộc, và chúng đều tác
động đến quyền lợi và an ninh của từng quốc gia liên quan,
tùy theo mức độ liên hệ. Nên dù có cố dựa vào cái lợi
ích và an ninh chung để thủ lợi cho mình, thì cũng sẽ chẳng
ai hy sinh quyền lợi và an ninh của họ để nhập cuộc nếu
bản thân người trong cuộc mà còn không dám vào cuộc.
Cái nhận thức kiểu trục lợi của nhiều nước ASEAN và
Việt Nam là một vấn đề có hai khía cạnh. Một mặt, họ
muốn <em>biến nhân tố bên ngoài thành nhân tố bên trong nhưng
lại chuyển nhân tố bên trong thành nhân tố bên ngoài</em>.
Điều đó hoàn toàn bất khả, vì vị thế trong hay ngoài, ngoài
thế và lực, còn gắn liền với vị trí của mỗi đối
tượng: <em>cái có vị trí bên ngoài có thể mang vị thế bên
trong, nhưng cái tại chỗ không thể dời khỏi vị trí ấy để
thành cái bên ngoài</em>. Mặt khác, dù <em>muốn người ngoài
cuộc giữ vị thế trong cuộc nhưng họ lại muốn kẻ đấy
đứng ở bên ngoài chứ không có vị trí tại chỗ</em>. Mà vị
trí ấy, ngoài sự hiện diện về chính trị, kinh tế, còn
phải đứng chân quân sự tại khu vực, tức có sự <em>liên
minh cơ hữu và hiện diện thường trực hay bán thường
trực</em> của đồng minh.
Như vậy, cũng giống trường hợp nội lực và ngoại lực,
quan niệm rạch ròi về bên thứ ba nhằm tách khỏi thời cuộc
mà mình vốn dĩ đã ít nhiều liên đới, là <em>không thấy
được sự hàm chứa vị trí của nhau giữa các bên trong từng
quan hệ và tổng thể quan hệ, không thấy sự chuyển hóa giữa
trong và ngoài, tại chỗ và từ xa, bên này và bên kia, để
hợp lực và củng cố vị thế cho chính mình và cho các bên có
cùng lợi ích</em>.
Quan niệm đó không những làm giảm hiệu năng đương cự của
cả các chủ thể trong khu vực lẫn từ bên ngoài, vừa có thể
được vận dụng để thúc đẩy chủ trương song phương mà
phương Bắc kiên trì với từng nước nhỏ phía nam.
Vì quyền lợi, các nước ít nhiều liên quan đều tìm cách
xác lập vị trí bên thứ ba, xem như cách để bảo toàn và
thăng tiến nó. Nhưng kỳ thực, vai trò ngoài cuộc ảo đó lại
là yếu tố phá hoại chính quyền lợi mà họ muốn bảo vệ.
Nhưng dù sao, đến đây, lại liên quan đến quyền lợi, hẳn
có người vẫn chưa dứt được boăn khoăn về nó trong quan hệ
đồng minh.
<strong>5. Quyến lợi trong quan hệ đồng minh ra sao? (2)</strong>
Quyền lợi của mỗi quốc gia và liên quốc gia
<strong><em>không</em></strong><em> phải là cái bất biến và phi
thời gian</em>. Tùy theo giai đoạn lịch sử, bối cảnh
địa-chính trị và vị thế của mỗi nước mà các quyền lợi
ấy sẽ biến chuyển. Do vậy, đồng minh là quan hệ luôn tồn
tại cùng lịch sử loài người, nhưng <em>các quan hệ đồng
minh cụ thể lại là cái luôn thay đổi</em>, dù ít hay nhiều,
dù mau hay chậm, tạo nên sự đa dạng của loại liên hệ này.
Xem quyền lợi của mình nằm ngoài tổng thể quyền lợi chung
của đồng minh (đã định hình hay tiềm tàng) đã là sai lầm.
Lấy quyền lợi ấy làm cái bất di bất dịch mà các quốc gia
đồng minh phải đáp ứng đầy đủ và dưới mọi hoàn cảnh,
thì càng sai lầm hơn. Bởi, <strong><em>vấn đề không phải ở
việc cố định một lần về quyền lợi và đồng minh, mà là
hòa hợp các quyền lợi đó trong thế linh hoạt của mình
trước các tình thế chiến lược ở mỗi thời đoạn lịch
sử, để phục vụ cho một quyền lợi tối thượng, là sự
tồn vong của dân tộc</em></strong>.
Các trường hợp trong thế chiến thứ II, trường hợp Trung
Quốc trong tương quan với Liên Xô và Mỹ, trường hợp Đài
Loan trong quan hệ với Hoa Lục và Hoa Kỳ, chính là sự hòa hợp
và linh hoạt đó. Các trường hợp gần gũi khác cũng vậy.
Ở thế kỷ trước, trong bối cảnh "bóng ma cộng sản"
đang lan tràn, các nước Đông Nam Á đã lập tức liên kết
với nhau và liên minh chặt chẽ với Hoa Kỳ để ngăn chặn.
Đến khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, họ lại công khai hất
cẳng Mỹ khỏi khu vực. Thậm chí, khi nổi lên bốn con rồng
châu Á, trên khắp Đông Nam và Đông Bắc Á đã xuất hiện tâm
lý bài phương Tây, đề cao các giá trị châu Á với xu hướng
gắn kết với Trung Hoa.
Cùng thời kỳ, ngay cả đối với nước Nhật, cũng đã có ý
kiến cho rằng sẽ hình thành một khối liên kết với Trung
Quốc để đối trọng với Mỹ và châu Âu. Trên thực tế, đã
có những xê dịch đầu tiên cho điều ấy khi quốc gia Tây
phương Đông Bắc Á này khởi động tiến trình thoát khỏi các
căn cứ quân sự Mỹ, mà cho đến chính phủ tiền nhiệm của
Shinzo Abe vẫn còn loay hoay toan tính.
Ấy thế mà, vào lúc này, Singapore, quốc gia Đông Nam Á từng
ồn ào nhất về giá trị của châu lục và hô hào nhiều nhất
cho một tiểu vùng không có Mỹ, lại là nước sớm nhất và
không ngớt lời, không nhỏ lời kêu gọi "đế quốc" quay
lại, đồng thời chấp nhận những đợt lưu trú không thường
xuyên và bán chính thức của lực lượng Hoa Kỳ, để ngăn
ngừa từ xa và từ sớm người bạn ít nhiều cùng chủng tộc
và mới ngày nào còn cùng chung giá trị.
Phải chăng họ kêu gọi Hoa Kỳ quay lại mà không biết rằng
sẽ có những tác động chính trị, xã hội cho đất nước
mình? Phải chăng Nước Mỹ quay lại mà không biết rằng họ
đã từng hất mình đi khi xong việc?
Rồi thêm, giới nắm quyền ở Phnom Penh hiện nay quay lưng lại
đồng minh mà họ hàm ơn việc thoát khỏi nạn diệt chủng,
để đi với đồng minh mới – vốn là kẻ đầu trò từng
đẩy đất nước vào cảnh gần như diệt vong – chẳng phải
là kẻ xa lạ hay các thế hệ sau, mà cũng chính là những con
người của cuối thập niên 1970 nặng tình với Việt Nam.
Xung quanh là thế. Chỉ có Việt Nam, đứng trước kẻ đe dọa
"trực tiếp và nguy hiểm nhất" đối với chủ quyền biển,
trong tình thế cấp bách, là cứ mãi tính toán cho trọn vẹn,
tròn trịa mọi thứ quyền lợi, kể cả những cái hoàn toàn
nằm ngoài phạm trù quốc gia-dân tộc.
Khi đặt quyền lợi trong quan hệ đồng minh, mấu chốt không
phải là tiêu chí về một sự bảo đảm hoàn hảo cho nó suốt
cả quá khứ, hiện tại, tương lai, và bất biến trong mọi
tình huống, là điều chỉ có trong bối cảnh tương tự như
điều kiện lý tưởng của môi trường thực nghiệm khoa học
tự nhiên; mà cốt yếu là quyền lợi đó như thế nào và
được xét ra sao, trong từng bối cảnh lịch sử-cụ thể. Theo
đó, có hai vấn đề cần giải quyết:
- Đâu là quyền lợi quyết định trong số những quyền lợi
có chung với các bên tương tác, để từ đó <em>xác định
đồng minh</em>: có xác lập đồng minh hay không và những đồng
minh nào là khả dĩ, loại đồng minh nào đi với đối tác
nào…
- Theo diễn biến lịch sử và chiến lược, quyền lợi riêng
và quyền lợi chung sẽ biến chuyển như thế nào, từ đó mà
<em>thẩm định (các) liên hệ đồng minh</em> đã có và hướng
xử trí tiếp theo: tách đồng minh cũ, tạo đồng minh mới
(hoặc không), hay thay đổi nội dung, hình thức của liên kết
đã có và sẽ có.
Như vậy, ở tầm chiến lược, đối diện với bất kỳ quốc
gia nào cũng không thể nhận thức quan hệ đối tác hay đồng
minh bằng câu chữ tuyên truyền hoặc khái niệm đạo đức<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftn3">[3]</a>.
Cũng <em>không phải tạo lập đồng minh là thụ động, để
đồng minh quyết định thu nhận và sắp đặt quan hệ cho mình,
càng <strong>không phải là dựa dẫm một chiều</strong> để
phải nơm nớp lo đến ngày mình sẽ bị bỏ rơi hay bỏ rơi
người khác</em>. Ngược lại, <em>chính mình phải chủ
động<strong> xác lập </strong>và<strong> điều chỉnh </strong>các
quan hệ đối tác và đồng minh trên cơ sở<strong> tương thích
quyền lợi </strong>và <strong>điều kiện lịch sử</strong></em>.
Do sự tương thích và điều kiện đó, nên đồng thời, liên
hệ đồng minh cũng <em>không phải là cái chủ quan, muốn có hay
muốn không mà được, không phải là cái muốn đeo bám thì
đeo, muốn bỏ rơi thì bỏ</em>.
Một đồng minh trên cơ sở địa lý hay dân tộc, thể chế hay
quân sự, một khi đã không muốn giữ tương tác như giữa các
đối tác bình đẳng, mà chuyển thành quan hệ giữa người
khuất phục và kẻ bị khuất phục, thì phía yếu hơn chỉ có
một con đường để tránh họa nô lệ, là từ vị thế của
mình mà xác lập các quan hệ ngoại biên khác nhằm đương cự
lại, chứ không thể viện dẫn tình nghĩa quá khứ hay chính
nghĩa cao đẹp mà giữ được độc lập và chủ quyền. Lịch
sử các dân tộc không hề thiếu dẫn chứng về sự xoay
chuyển này.
Đồng thời, một bên của liên minh cơ hữu hay đồng minh giá
trị, khi vẫn có chung quyền lợi, chung các giá trị thực
chất, và vẫn giữ vị thế mà tương tác chung cần đến, thì
đối tác của nó, dù lớn mạnh hơn cũng không thể rời bỏ.
Trở lại các ví dụ gần gũi, ta sẽ thấy.
So với tiềm năng khổng lồ của Hoa Lục, Đài Loan không là
gì, vậy sao Hoa Kỳ không buông hẳn để đổi lấy niềm tin
chiến lược của đối tác lớn về sự chân thành đối với
chính sách một nước Trung Hoa? Vào năm 1979, khi căng thẳng
chiến tranh lạnh lên cao do sự can dự của Liên Xô vào nội
tình Afghanistan, trong hoàn cảnh cần định hình một mặt trận
thống nhất giữa Hoa Kỳ, Tây Âu, Nhật Bản và Trung Quốc để
chống lại, nước Mỹ vẫn đi trước một bước để giữ
vững cam kết đồng minh với Đài Loan. Tháng Tư 1979, Đạo
luật Quan hệ với Đài Loan (Taiwan Relations Act) có hiệu lực,
nhìn nhận quan hệ thực tế với Đài cùng với các điều
khoản nhằm giúp nơi này tăng cường năng lực tự vệ, đồng
thời cho phép can thiệp quân sự nếu hòn đảo bị tấn công.
So quan hệ tay ba Mỹ – Trung – Nhật trên bình diện chung hay
trong tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư, cũng tương tự như thế.
Cái mà Hoa Kỳ không thể buông rơi quan hệ đồng minh với
Đài Loan và Nhật Bản không phải chỉ là vị trí địa lý
của họ. Nhìn sang Myanmar để so thì điều đấy quá rõ. Nước
này có vị trí quan trọng với cả Trung Quốc, Ấn Độ và Hoa
Kỳ, lẫn với các nước Đông Nam Á giáp giới, nhưng không vì
thế mà Mỹ muốn có họ bằng mọi giá. Chỉ sau khi Naypyidaw có
những bước đi vững chắc từ bỏ nền độc tài quân sự,
quan hệ thân thiện hơn mới được xác lập.
Từ đó có thể thấy, <em>dù là nước nhỏ và yếu hơn trong
quan hệ đồng minh hay trong thế trận chiến lược, thì vấn
đề là ở chỗ <strong>nước đó như thế nào và có gì để
đồng minh hay đối tác phải giữ lấy</strong>, chứ không phải
chỉ tìm kiếm sự an toàn (đối với mối đe dọa và với nguy
cơ bị bỏ rơi) bằng cách cho rằng mình có thể nằm ngoài quan
hệ và thế trận ấy mà "khai thác" nó cho lợi ích
riêng</em>.
<strong>6. Tránh né quan hệ đồng minh, được gì?</strong>
Dù không muốn tạo quan hệ đồng minh, có đúng là Hà Nội
chủ trương "trung lập" bằng chính sách "ba không"?
Không kể lịch sử từ năm 1954 đến khi khối xã hội chủ
nghĩa Đông Âu tan rã, không kể Hội nghị Thành Đô năm 1990
mở ra một giai đoạn đồng minh mới với phương Bắc, Việt
Nam hiện nay cũng chưa bao giờ ngừng theo đuổi chính sách liên
kết, ngấm ngầm và có chọn lọc.
Trước đe dọa ẩn tàng về một vùng biển bị xâu xé khi các
thế lực dồn về Biển Đông để ngăn chặn Trung Quốc, Hà
Nội đã chủ động, đi trước, nhằm xoay chuyển chính tình
thế đó theo hướng có lợi. Đồng thời với việc đẩy mạnh
giao lưu với hải quân các nước tại các hải cảng của mình,
Việt Nam cũng tăng cường chia sẻ nguồn lực biển với các
quốc gia thân hữu để họ hiện diện tại Biển Đông. Đây
là đối sách sáng tạo và đúng đắn, chỉ có điều, với
mặt thứ nhất, đó chỉ là những liên hệ phi quân sự và
thuần túy về chiều rộng; với mặt thứ hai, đã nhầm lẫn
đối tượng để hướng đến, bởi vẫn đứng trên sự lựa
chọn cảm tính.
Trọng tâm đầu tiên của Hà Nội là New Delhi, vốn là người
bạn luôn dành ủng hộ cho Việt Nam trong thời chiến cũng như
thời bình, và cũng là một bên xung khắc trên bộ với Trung
Quốc, nay lại bị đe dọa lấn sân ở Ấn Độ Dương. Trong
tương lai, việc Ấn Độ khai triển đối ứng tại vùng biển
phía nam của Hoa Lục là khả dĩ. Và chính Việt Nam đã thúc
đẩy điều đó bằng việc liên tục đưa ra các đề nghị
thăm dò, khai thác dầu khí. Hà Nội muốn đặt quyền lợi kinh
tế vào tay New Delhi để họ phải bảo vệ nó, qua đó mà can
dự sâu hơn vào vùng biển này. Xa hơn một bước, Việt Nam đã
mời <a
href="http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20110626-an-do-tim-cach-xac-lap-su-hien-dien-tai-bien-dong">hải
quân Ấn "ướm chân" tại vịnh Nha Trang</a><a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftn4">[4]</a>,
nơi mà cho đến gần đây, không một tàu quân sự của quốc
gia nào khác được tiếp cận<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftn5">[5]</a>.
Dù vậy, ngoài những tuyên bố mang tính ngoại giao như các
đối tác khác về tự do hàng hải và an ninh khu vực, phía Ấn
cũng công khai rõ về giới hạn vai trò của mình. Tại Hội
nghị Cấp cao kỷ niệm 20 năm Quan hệ Đối thoại ASEAN – Ấn
Độ ở New Delhi (20-21/12/2012), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng <a
href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/12/121221_asean_india_summit.shtml">kêu
gọi nước chủ nhà hậu thuẫn ASEAN</a> trong vấn đề Biển
Đông, nhưng Ngoại trưởng Ấn Salman Khurshid lại cho rằng chủ
quyền <a
href="http://newstrackindia.com/newsdetails/2012/12/21/100-India-cautious-over-South-China-Sea-as-ASEAN-demands-Indias-intervention.html">phải
được giải quyết giữa các nước tranh chấp</a>. Trước đó,
trong cuộc họp báo vào tháng Tám 2012, Tư lệnh hải quân Ấn,
<a
href="http://timesofindia.indiatimes.com/india/Indias-elusive-nuclear-triad-will-be-operational-soon-Navy-chief/articleshow/15396539.cms">Đô
đốc Nirmal Verma cho biết</a>, dù có sự tái cân bằng chiến
lược của Hoa Kỳ cùng với việc Trung Quốc tăng cường sức
mạnh và quyết đoán hơn trên biển, lợi ích hải dương của
Ấn Độ vẫn ở khu vực từ eo Malacca đến Vùng Vịnh, kéo dài
xuống mũi Hảo Vọng. Ông nói thêm, Ấn sẽ không tích cực
triển khai quân sự ở Biển Đông, đồng thời cho rằng dù có
tranh cãi, các bên ở vùng biển này vẫn phải bảo đảm cho
thông thương quốc tế.
Không phải New Delhi co thủ, mà là Hà Nội đã tính toán quá
đà. Các nhà làm chiến lược của Việt Nam muốn "đi tắt
đón đầu", "đốt cháy giai đoạn" trong khi chưa phải lúc
để Ấn Độ trực tiếp can thiệp ở vùng biển Đông Nam Á.
Họ vẫn đang theo đúng "lịch trình" hữu dụng, là trước
mắt, cần tập trung cho khu vực <a
href="http://www.indiandefencereview.com/news/andaman-and-nicobar-islands-a-security-challenge-for-india/">vịnh
Bengal và biển Andaman</a> như là chiến lược hữu hiệu để <a
href="http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-Quoc-phong/An-Do-thiet-lap-cum-can-cu-chot-chat-loi-ra-vao-bien-Dong-post82670.gd">chốt
chặn</a> một đầu Biển Đông, ở nơi vừa cách không xa
Malacca, vừa trực diện với kênh Kra dự phóng. Đối sách này
còn là sự phân bố lực lượng hợp lý khi mà ngoài 60 phần
trăm hải quân Mỹ sẽ tập trung cho châu Á-Thái Bình Dương,
vùng biển Đông Bắc Á và Đông Nam Á lại có một trục liên
hoàn Nhật – Phi – Úc, trong khi tại Ấn Độ Dương, ngoài
lực lượng Mỹ có thể sẽ giảm bớt, chỉ có hải quân Ấn
thường trực.
Đối với Nga, Việt Nam cũng có sai lầm tương tự. Con át chủ
bài Cam Ranh luôn được bắn tin là rộng cửa mở cho Nga. Sau khi
thông qua Luật Biển (21/06/2012) và tình hình căng thẳng quanh
"Tam Sa", trong chuyến thăm đồng minh khắng khít một thời
(26-30/07/2012), Chủ tịch Trương Tấn Sang đã <a
href="http://www.voatiengviet.com/content/viet-nam-san-sang-cho-nga-mo-can-cu-hai-quan-o-cam-ranh/1447736.html">mở
lời về Cam Ranh</a>, cùng với <a
href="http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20120727-nga-thuong-luong-mo-lai-can-cu-quan-su-o-viet-nam-va-cuba">khẳng
định thuận lợi</a> của Tổng tham mưu trưởng Hải quân Nga.
Tuy nhiên, <a
href="http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20120728-nga-bac-bo-thong-tin-ve-viec-mo-lai-can-cu-o-viet-nam">Bộ
Quốc phòng Nga đã lập tức bác bỏ</a> khả năng này.
Nga đã giữ im lặng trong lúc Biển Đông sôi động nhiều năm
qua. Lần đầu lên tiếng của họ lại là quan điểm có lợi
cho sự tự tung tự tác của Trung Quốc dưới chiêu bài quen
thuộc của giới ủng hộ sự độc tài quốc gia và quốc tế:
chống can thiệp. Khi tình hình Scarborough đang căng thẳng, ngày
20/05/2012, Đại sứ Nga tại Philippines, Nikolay Kudashev, nói rằng
<a
href="http://vov.vn/thegioi/lan-dau-tien-nga-len-tieng-ve-tinh-hinh-bien-dong-210053.vov">lập
trường chính thức</a> của nước ông là phản đối can thiệp
của nước ngoài vào Biển Đông, vì đó là chuyện nội bộ
của các nước có tranh chấp mà cả Mỹ và Nga đều không liên
quan. Lần thứ hai lên tiếng của họ là mới đây, sau khi Hoa
Kỳ, EU, Nhật Bản, Ấn Độ, Philippines… đều ít nhiều chỉ
trích Trung Quốc trong vụ đưa giàn khoan vào thềm lục địa
Việt Nam, thì duy nhất một lần vào ngày 16/05/2014, Người phát
ngôn Bộ Ngoại giao Nga mới cất tiếng, thể hiện thái độ <a
href="http://tuoitre.vn/The-gioi/607590/nga-len-tieng-ve-vu%C2%A0trung-quoc-dat-gian-khoan-trai-phep.html">tuyệt
đối đứng ngoài</a>, theo công thức ngắn gọn có sẵn, kêu
gọi kiềm chế và hy vọng hai bên đàm phán hòa bình.
Khách quan mà nói, về mặt chiến lược và lợi ích quốc gia,
Nga không sai, mà là Việt Nam đã lượng định không đúng. Trong
khi điều tiên quyết đối với Moscow trước khi có thể chuyển
hướng, là củng cố và giành lại không gian hậu Xô Viết trong
chừng mực có thể, thì Hà Nội lại muốn họ quay về Đông
Nam Á. Nước Nga thời Putin chỉ tận dụng thế mạnh dầu khí
và vũ khí nhằm lấy lại vị thế về kinh tế và chính trị
phục vụ cho mục tiêu vừa nói. Họ hiện là thế lực duy
nhất trên thế giới vừa là "lái dầu" vừa là "lái
súng" tầm cỡ. Với họ, Việt Nam cũng chỉ là một bên hợp
tác về dầu khí và là khách hàng lớn về vũ khí, như mọi
đối tác loại này của họ, kể cả Trung Quốc. Nên với hai
bên tranh chấp, họ có thể hữu nghị và nhận tiền mua bán
từ cả hai, mà không thể nào "thiên vị" cho một bên. Đó
là chưa kể, Trung Quốc là đối tác có vị thế và tiềm lực
mà họ cần đến, nhiều hơn là điều tương tự có ở đối
tác nhỏ hơn<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftn6">[6]</a>.
Vậy mà nước Việt đương thời vẫn mãi lấy tiêu chí
"thủy chung" để hy vọng vào một thế lực thân Việt Nam
nhất hiện diện ở Biển Đông, vừa để kiềm chế Hoa Lục
vừa để cân bằng với Hoa Kỳ<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftn7">[7]</a>.
Tất nhiên, về chiến thuật ngoại giao, Hà Nội nói rằng tàu
của thân hữu vào Nha Trang hay Cam Ranh để thăm hữu nghị hay
nhận dịch vụ hậu cần. Nhưng về toan tính chiến lược,
khoảng cách giữa căn cứ sửa chữa quân sự và căn cứ quân
sự chẳng có gì xa xôi, vấn đề chỉ là có đi đến nhất
trí và đạt được thỏa thuận đằng sau những ngôn từ
ngoại giao hay không. Với Ấn và Nga, lời đáp từ phía họ là
không.
Việc nhắm đến Ấn và Nga không phải chỉ vì những tương
đồng dễ thấy, mà còn bởi đây là những thay thế sáng giá
nhất cho Nhật và Mỹ, là những đối tác sẵn lòng tạo thế
liên minh hơn.
Đối với Nhật, truyền thống cương cường, sự hào phóng,
nhanh nhạy, chủ động hỗ trợ nước nhỏ, cùng với vị trí
địa lý rất thuận lợi khi cơ động vào vùng biển Đông Nam
Á, chỉ thua Ấn ở mỗi nền quốc phòng còn bị ràng buộc
bởi một hiến pháp thuần phòng vệ (mà thực tế đang tiến
đến tháo gỡ), cũng không khiến Hà Nội đặt nặng hơn Ấn.
Khi so với Nga, Hoa Kỳ cũng tương tự vậy, trong khi đây là
<em>quốc gia duy nhất <strong>đủ sức</strong> và <strong>sẵn
sàng</strong> đối trọng, điều phối các liên hệ đa quốc
nhắm vào các thách thức quốc tế. Họ đương nhiên không
phải là đối tác duy nhất trong chiến lược kiềm chế tham
vọng lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng là đối tác <strong>khả
dụng nhất</strong> và <strong>quyết định nhất</strong></em>.
Lẩn tránh đồng minh khả thi để theo đuổi đồng minh bất
khả thi là thực chất và đích đến của chiến lược phi liên
kết của Việt Nam.
Chối bỏ quan hệ đồng minh trên lý thuyết nhưng thực tế
lại huy động và trông chờ sự can dự rộng rãi, cũng như
vận động sự hiện diện có chọn lọc của các thế lực
khác, là đối sách mà Hà Nội cho là hữu hiệu nhất. Nó vừa
tránh công khai liên kết để không kinh động đến Bắc Kinh,
vừa bảo toàn được các quyền lợi "ý thức hệ", vừa có
được các liên hệ rộng cho sự ủng hộ ngoại giao, vừa tạo
quan hệ thực chất với những đối tác đặc biệt riêng có
để nhận sự hậu thuẫn chính trị và quân sự, vừa tranh
thủ được thời gian để tăng cường thực lực.
Trong số đó, chỉ có mục tiêu về các quyền lợi phi quốc
gia-dân tộc là đạt được. Ngoài ra, tất cả đều dừng lại
ở mức chung chung (đối với bên ngoài) hoặc chưa thể đạt
mức cần thiết (đối với thế và lực bên trong).
Mục tiêu kiềm chế Trung Quốc đã không đạt được, ngoài
khoảng thời gian 2012-2013 có sự êm thắm tạm thời. Nhưng
thật ra, đó cũng là hai năm mà Bắc Kinh triển khai thành công
đối sách phân hóa ASEAN, và cũng thành công khi đẩy Hà Nội
sâu vào thế tự tin, cả trong quan hệ với Trung Quốc<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftn8">[8]</a>
lẫn trong chính sách "phi liên kết". Phần mình, họ không
ngây thơ tin vào chủ trương "trung hòa" giữa các thế lực
của Hà Nội.
Mục tiêu nhắm đến các quốc gia thân hữu đã không đạt
được, ngoài sự lên tiếng hết sức chừng mực.
Mục tiêu đối với các đối tác chiến lược đủ loại khác
cũng đã không đạt được, ngoài những tiếng nói ngoại giao
đề cập đến khía cạnh có liên quan đến trật tự toàn
cầu.
Kết quả:
- Đối với Việt Nam, khi vô sự là những giao dịch tiền bạc
và ca tụng ngoại giao, khi hữu sự là sự cô độc về lực
lượng và hành động.
- Các ngỏ quan trọng quanh rìa đông nam biển Đông Nam Á đã
được "đón lỏng", từ sự quyết đoán trong thế liên minh
của các quốc gia. Ngoài Nhật Bản ở rìa cực bắc, quay mặt
vào Biển Đông và dễ tiếp cận Hoàng Sa, Trường Sa là chuỗi
các căn cứ hải quân và không quân tại Philippines, nay đã
được trao quyền sử dụng cho Hoa Kỳ. Cực nam là các cơ sở
quân sự tại Úc, đất nước đang ngày càng ra mặt ủng hộ
đồng minh. Tây nam là eo Malacca mà cả Hoa Kỳ và Ấn Độ đều
không bao giờ sao nhãng. Cực tây là chuỗi căn cứ của Ấn
tại hai quần đảo Andaman và Nicobar.
- Không kể phần dọc theo Trung Quốc, rìa tây Biển Đông,
đồng thời cũng là mạn đông kéo dài suốt Việt Nam, là vùng
duy nhất hở sườn, mà Hải Dương 981 và Nam Hải 9 đang giúp
phô bày.
- Mối liên kết đa quốc ở rìa đông nam Biển Đông vừa đủ
khả năng tập hợp thêm lực lượng mà cũng đủ sức bảo vệ
sự thông thương, khi cần. Sự phi liên kết ở rìa tây thì
đang trực diện với nguy cơ bị cướp đoạt tài nguyên và ngư
trường, mà chính quyền sở tại không thể bảo đảm điều
tối thiểu là sự an toàn sinh kế của người dân nước mình.
Rõ ràng, trong đối sách với phương Bắc, thực tế đã hiển
hiện: chần chừ chỉ có chết.
<strong>7. Chần chừ chỉ có chết: lời kết không cần đặt
dấu hỏi</strong>
Tất nhiên, tới đây, Việt Nam vẫn cần thực hiện các đối
sách một cách khôn khéo, nhưng điều đó không thể theo lối
cũ được nữa.
Trong những ngày này, Hà Nội đã nhanh chóng thể hiện chiều
hướng liên kết với Manila, cũng như có động thái mới với
Washington. Nhưng định hướng ấy cần tiếp tục đi vào chiều
sâu và thực tế, chứ không thể dừng lại ở mức dùng quan
hệ với Hoa Kỳ và các quốc gia có thể liên minh khác như một
phương tiện để giữ lấy quan hệ đồng chí với Hoa Lục.
Với nước lớn, không bao giờ muộn khi có thêm đồng minh.
Nhưng với nước nhỏ, sẽ quá muộn khi các ưu thế tuột vào
tay người khác, trong khi nó có thể đã là thế và lực mới
của mình nếu không chần chừ.
Thời điểm mà Hà Nội không còn thể đi dây hữu hiệu nữa,
nay đã đến.
Thời điểm của cục diện Philippines có thể sẽ đến khi họ
nổi lên như tác nhân chính thay cho Việt Nam, bởi họ vừa là
bên chủ động pháp lý kiện Trung Quốc, vừa là nhân tố quân
sự tích cực trong kế hoạch cân bằng chiến lược, vừa là
chủ thể chính trị đi đầu, dứt khoát và mạnh mẽ đấu
tranh với các hành động thay đổi nguyên trạng Trường Sa từ
phương Bắc. Với vai trò đó, sự hậu thuẫn của đồng minh
và quốc tế sẽ tập trung cho họ.
Thời điểm mà Đài Loan xác quyết vị thế của mình trong
tranh chấp có thể sẽ đến nếu họ được sự ủng hộ để
trở thành một bên của tiến trình COC.
Thời điểm mà Hoàng Sa và Trường Sa, với tư cách yếu tố
độc lập tương đối, chi phối lại các chủ thể tranh chấp
cũng đang đến khi Trung Quốc đẩy mạnh phát triển "Tam Sa"
và (có thể) hải đảo hóa những nơi đã cưỡng đoạt ở
Trường Sa.
Trong viễn cảnh đó, nếu Việt Nam tiếp tục thụ động với
những chủ trương như hiện nay, thì khả năng Biển Đông bị
xâu xé cũng sẽ đến, vì thế giới sẽ không để Trung Quốc
độc chiếm vùng biển này. Khi ấy, Hà Nội khó mà lại chuyển
hung thành kiết được nữa. Một khi các liên minh trong vùng
chính thức định hình và hiện diện đầy đủ ở những
điểm xung yếu mà không có Việt Nam, với những trải nghiệm
trong quan hệ với Hà Nội, có phần chắc các nước này cũng
sẽ buông đầu dây phía họ, như Bắc Kinh đã vừa buông.
Trước việc Bắc Kinh dùng hệ thống giàn khoan làm công cụ
xâm lược biển, duyên hải phía đông đang phơi ra như một
khoảng trống quân sự mà Việt Nam sẽ không thể tự mình lấp
đầy. Hà Nội không nên hy vọng rằng việc tập trung của các
thế lực khác ở những nơi khác quanh Biển Đông sẽ khiến Hoa
Lục quay sang đối phó, từ đó mà xuống thang với láng giềng
phương Nam. Thực tế trước nay là, dù vẫn đối ứng với
thế lực lớn, họ sẽ lấy những thế lực nhỏ, yếu làm
mục tiêu hàng đầu.
Để hóa giải sự thất thế đó, kiện ra tòa án quốc tế,
một khi Hoa Lục không thừa nhận, sẽ vô hiệu đối với họ.
Nhưng cũng chính vì thế, giải pháp pháp lý này trở thành một
giải pháp chính trị và ngoại giao hữu hiệu mà Hà Nội không
nên chần chừ, thay vì việc chọn tâm điểm là sự <a
href="http://tuoitre.vn/The-gioi/614354/eu-can-can-thiep-vu-trung-quoc-dat-gian-khoan-trai-phep.html">vận
động</a> <a
href="http://www.vietnamplus.vn/quoc-hoi-bo-dao-nha-ung-ho-viet-nam-trong-van-de-bien-dong/267784.vnp">ngoại
giao</a> <a
href="http://www.vietnamplus.vn/viet-nam-keu-goi-uzbekistan-ung-ho-trong-van-de-bien-dong/268038.vnp">tràn
lan</a>, thiếu hiệu quả.
Giải pháp chính trị hàng đầu là bộ Quy tắc Ứng xử Biển
Đông, thì đang bị Bắc Kinh hủy hoại ngay từ trong tiến trình
ỳ ạch của nó, bằng cách trì hoãn và dùng sức mạnh tạo
nên hiện trạng mới có lợi cho mình. Họ đang đi trước
nhiều bước để một khi COC hình thành, sẽ phải ghi nhận sự
xâm thực đó bằng tiêu chí giữ nguyên hiện trạng.
Cùng lúc, trung tâm chính trị hàng đầu cho việc xử lý tranh
chấp, là ASEAN, cũng bị Hoa Lục phân hóa và tự phân hóa, bị
trói tay và giảm hiệu năng bằng nguyên tắc đồng thuận cả
khối.
Giải pháp kinh tế chống Trung Quốc, sẽ không ai tính đến
chừng nào Hoa Lục còn chưa tấn công quân sự trên diện rộng
nhắm vào đồng minh của các thế lực lớn.
Còn lại là giải pháp quân sự, cũng sẽ không ai tính đến
với tư cách là hành động đối ứng cho sự xâm thực phi quân
sự hoặc trấn áp cục bộ của Trung Quốc. Thế nhưng, nó luôn
được tính đến với tư cách phòng vệ và răn đe từ xa, vừa
để ngăn ngừa xung đột vừa tạo đủ lực cho xung đột, nếu
buộc phải vậy. Sự răn đe đó, một nước nhỏ, yếu cả
thế và lực không thể một mình mà làm được, không thể vài
năm hay chục năm mà làm được, trong khi nguy cơ thì chực chờ
ngay trước mắt.
Dù sao, với tất cả những điều trên, để giữ môi trường
hòa bình của mỗi nước, của khu vực và thế giới, hướng
chiến lược cần theo đuổi vẫn là ASEAN thực hiện vai trò
trung tâm chính trị, kiên trì với COC, song hành cùng giải pháp
pháp lý ở mỗi quốc gia và trong thế liên minh<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftn9">[9]</a>.
Đồng thời, tổ chức này cũng cần trở thành trung tâm quân
sự của tiểu vùng để hoàn thiện vị thế của một bên
đối tác, trực tiếp chịu trách nhiệm về an ninh của chính
mình. Phần Hoa Kỳ, với vai trò của đồng minh trụ cột, là
người điều phối về chính trị, ngoại giao, quân sự với
các thế lực trong và ngoài vùng có can dự, và là lực lượng
quân sự tối hậu làm rào chắn cuối cùng, mà các quốc gia có
tranh chấp với Trung Quốc cần liên kết.
Việt Nam không thể nằm ngoài thế chiến lược chung đó mà
nghĩ rằng vừa duy trì được mọi quan hệ tốt đẹp, vừa tự
một mình bảo đảm được hòa bình, chủ quyền và an ninh,
trong cái thế trọng sức mạnh mà Hoa Lục đã đặt mọi phía
vào đó.
Ngoài nội lực cần một quyết tâm chính trị cao nhất mới
có thể tạo đà phát triển trọn vẹn, không thể giữ được
chủ quyền và nền độc lập bằng sự đơn thương độc mã
của chính nghĩa suông và ngoại giao câu chữ. Nghĩ rằng có
thể thắng Trung Quốc nhờ mặt trận lòng người mở ra bên
trong nó và trong lòng nhân dân thế giới, như đã từng làm
với nước Mỹ, là điều tuyệt đối không tưởng. Hoa Lục
toàn trị của thế kỷ XXI không phải là Hoa Kỳ dân chủ của
thế kỷ XX để mà phải chịu áp lực của công luận trong và
ngoài nước và chịu sự phán xét trực tiếp của người dân
nước mình.
Một khi nội lực chỉ là sự hô hào mà không được thực
tế hóa bằng những chuyển biến triệt để và toàn diện,
một khi chính nghĩa và ngoại giao còn chưa được vật chất
hóa bằng sức mạnh của sự liên kết đúng đối tượng, thì
chỉ là tự ta đang vô hiệu hóa mình bằng công cụ tuyên
truyền.
<em>15/05 – 30/06/2014</em>
© 2014 Lê Tuấn Huy & pro&contra
<br clear="all">
<hr width="33%"> <a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftnref1">[1]</a>
Sau khi không thống nhất giá mới với Việt Nam, Nga không tiếp
tục thuê Cam Ranh. Nhưng hai bên đồng ý để lưu trú lại một
tổ thu thập tín hiệu vô tuyến hướng ra Biển Đông, chủ
yếu nhắm vào Trung Quốc, duy trì đến năm 2002.
<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftnref2">[2]</a>
Hiện vẫn chưa có thông tin chính xác, nhưng qua đối chiếu, có
thể đó là cuộc gặp được nhắc đến trong một <a
href="http://www.usni.org/events/afceausni-2008-west-conference-and-exposition/on-scene-report/2008-02-05">bản
tin</a> của Viện Hải quân Hoa Kỳ vào tháng Hai 2008.
<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftnref3">[3]</a>
Kiểu như "tình hữu nghị là tài sản quý báu", "người
bạn thủy chung"…
<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftnref4">[4]</a>
Chuyến thăm Nha Trang và Hải Phòng của tàu INS Airavat
(19-22/07/2011) là kết quả chuyến đi trước đó của Đô đốc
hải quân Nguyễn Văn Hiến đến Ấn. Hải trình này đã khiến
phương Bắc khó chịu và phản ứng theo kiểu của họ: trên
đường về, ở Biển Đông, INS Airavat nhận được tín hiệu
vô tuyến từ tàu không được nhận dạng của Trung Quốc, <a
href="http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20110901-bao-chi-tiet-lo-hai-quan-trung-quoc-can-duong-chien-ham-an-do-tai-bien-dong">yêu
cầu tàu Ấn xác định danh tính</a> và lý do hiện diện trong
vùng biển "của họ".
<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftnref5">[5]</a>
Cập nhật: Vừa mới đây, ngày 24/06/2014, tàu vận tải nặng
USNS Cesar Chavez (T-AKE 14) của hải quân Hoa Kỳ đã từ Philippines
vào <a
href="http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/614393/tau-van-tai-cua-hai-quan-my-vao-vinh-nha-trang.html">neo
tại vịnh Nha Trang trong 15 ngày</a>, để Công ty TNHH một thành
viên nhà máy đóng tàu Cam Ranh bảo dưỡng.
<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftnref6">[6]</a>
Cách đặt vấn đề <a
href="http://thediplomat.com/2014/06/why-doesnt-russia-support-china-in-the-south-china-sea/">tại
sao Nga không ủng hộ Trung Quốc ở Biển Đông</a>, là nhầm
chủ thể. Mức độ xung khắc và xung đột giữa họ với nhau
trong quá khứ khiến Kremlin thừa biết Trung Quốc là như thế
nào. Mà các chiến lược gia Trung Nam Hải hẳn cũng đủ tầm
để lượng định về các thế lực trên thế giới, và biết
rằng họ không trông chờ sự hậu thuẫn của Nga. Câu hỏi
"tại sao" ấy nên được đặt ra với Việt Nam thì đúng
hơn.
<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftnref7">[7]</a>
Cập nhật: Sau <a
href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2014/05/140521_china_russia_deal.shtml">hợp
đồng dầu khí 400 tỷ dollar</a> Tổng thống Putin đạt được
tại Bắc Kinh vào hạ tuần tháng Năm 2014, chỉ với việc ba
tàu của Hạm đội Thái Bình Dương Nga sau hải trình công vụ
ở Ấn Độ Dương trở về, ghé vào Cam Ranh ba ngày
(17-20/06/2014) để nhận dịch vụ hậu cần, mà Đại sứ Việt
Nam tại Nga đã lại lập tức lên tiếng <a
href="http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140620-viet-nam-cho-nga-uu-tien-su-dung-cang-cam-ranh">mời
Nga ưu tiên sử dụng Cam Ranh</a>. Và chỉ vài ngày sau, Đặc sứ
của Chính phủ được gửi sang để hội đàm với đại diện
Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Nga, mở lời ủng hộ họ
trong vai trò tại châu Á-Thái Bình Dương. <a
href="http://www.vietnamplus.vn/nga-ung-ho-giai-quyet-hoa-binh-cac-tranh-chap-o-chau-a/267853.vnp">Câu
trả lời của họ</a> vẫn là công thức về "nguyên tắc
không can thiệp" và đàm phán hòa bình giữa các bên tranh
chấp.
<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftnref8">[8]</a>
Sự tự tin về sự gần gũi này vừa được thể hiện, vừa
là kết quả từ các chuyến thăm liên tục của lãnh đạo hai
nước: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc,
11-15/10/2011. Tổng Bí thư Tập Cận Bình thăm Việt Nam,
20-22/12/2011. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Trung Quốc,
19-21/06/2013. Thủ tướng Lý Khắc Cường thăm Việt Nam,
13-15/10/2013.
<a
href="file:///C:/Users/nam/Dropbox/LTH,%20Dong%20minh.docx#_ftnref9">[9]</a>
Ý kiến về một <a
href="http://motthegioi.vn/tieu-diem/tq-banh-truong-can-hinh-thanh-mot-lien-minh-phap-ly-83140.html">liên
minh pháp lý Việt Nam – Nhật Bản – Philippines</a> nên được
chú ý thích đáng.
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://www.danluan.org/tin-tuc/20140702/le-tuan-huy-lai-noi-ve-dong-minh),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét