Chu Chi Nam - Phải chăng chiến tranh lạnh đã chấm dứt

Một câu hỏi được đặt ra bởi Karl Marx, sau đó được nối
tiếp bởi các đàn em từ Lénine qua Staline tới Mao, Lưu Thiếu
Kỳ, Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, là:

"Cuộc tranh hùng tư bản – cộng sản, ai thắng ai ? "

Câu trả lời của người cộng sản, bắt đầu từ Marx, là
người cộng sản chắc chắn sẽ thắng.

Có người cho rằng cuộc tranh hùng này, dưới hình thức
Chiến tranh Lạnh, đã chấm dứt với sự sụp đổ của Liên
sô. Có ý kiến lại cho rằng Chiến tranh Lạnh vẫn chưa chấm
dứt, vẫn tiếp tục với cuộc tranh hùng Hoa kỳ – Trung cộng,
Hoa kỳ – Nga, điểm nóng mới đây với vấn đề vũ khí hóa
học ở Syrie. Và câu hỏi vẫn tiếp tục, đó là: "Trong
cuộc tranh hùng này, ai sẽ thắng ai ?"

Chúng ta hãy cùng nhau xem xét vấn đề trên từ đầu cho tới
ngày hôm nay.

Cộng sản, nếu chúng ta lấy mốc thời gian là năm 1848, khi
quyển Tuyên Ngôn thư Đảng cộng sản, viết bởi K. Marx,
được xuất bản ở Anh vào năm này, cho tới nay là 165 năm;
nếu chúng ta lấy mốc thời gian là năm 1917, khi Lénine cướp
được chính quyền ở Nga, thì là 96 năm. Trong thời gian đó,
có nhiều biến cố lịch sử đã xẩy ra, và quả thực trong
đó có cuộc tranh hùng tư bản và cộng sản.

Theo lời tiên tri của Marx và những người cộng sản, thì tư
bản chắc chắn sẽ thua. Karl Marx viết: <em>"Vũ khí mà giai
cấp tư bản dùng để hạ bệ chế độ phong kiến sẽ quay
trở lại chống họ ngày hôm nay. " Giai cấp tư bản không
những tạo ra những vũ khí tiêu diệt họ, mà còn tạo ra
những người sử dụng vũ khí này: thợ thuyền hiện đại,
giai cấp vô sản "</em> (K. Marx – le manifeste du Parti communiste
– trang 27 – Nhà xuất bản Union générale d'editions – Paris
1962).

Từ đó Marx đưa ra tư tưởng cách mạng tất yếu, không thể
tránh được, theo đó, trong xã hội tư bản, giai cấp chủ ngày
càng ít và càng giầu, giai cấp thợ ngày càng đông và càng
nghèo; hố ngăn cách giầu nghèo ngày một lớn, tất yếu sẽ
dẫn đến cách mạng.

Marx cho rằng cách mạng cộng sản sẽ xẩy ra ở những nước
kỹ nghệ tân tiến, vì chỉ ở những nước này mới có giai
tầng thợ thuyền. Lúc đầu Marx hy vọng ở Anh, sau đó quay sang
Đức. Nhưng Marx (1818 – 1883) chờ đợi cách mạng cho tới khi
chết. (1)

Ba mươi bốn năm sau, Lénine cướp chính quyền ở Nga, thực
hiện lý thuyết của Marx, vì vẫn tin tưởng cách mạng cộng
sản tất yếu, vẫn nghĩ rằng cộng sản sẽ thắng tư bản.
Lénine viết: <em>"Tụi tư bản vừa ngu lại vừa tham. Chúng ngu
và tham ở chỗ, người ta mua dây thừng để treo cổ chúng,
thế mà chúng vẫn sản xuất và bán cho người ta."</em>

Chính vì vậy mà Lénine đã thành lập ra Đệ Tam Quốc Tế
Cộng sản vào tháng 3 năm 1919, cho rằng Đệ Nhị Quốc tế
Cộng sản, được thành lập trước đó vào tháng 7/1889, bởi
những đảng Xã hội, Dân chủ Xã hội, với những người như
Bernstein, Kautski, Lassalle, đã bị đầu độc bởi tư bản; vì
Đệ Nhị, mặc dầu vẫn giữ tư tưởng giai cấp, nhưng bãi
bỏ quan niệm độc tài vô sản của Marx, điều mà Lénine
chống lại.

Đệ Nhị sau trở thành Quốc tế Xã hội (Internationale
Socialiste), từ năm 1939, như chúng ta thấy ngày hôm nay.

Lúc đầu Lénine nghĩ rằng có thể làm cách mạng ở Âu châu,
nhưng những cuộc nổi dậy ở Âu châu như ở Đức năm 1919,
ở Hung gia Lợi năm 1918, đều thất bại. Lénine nghĩ ra phương
pháp xuất cảng cách mạng sang những nước chậm tiến, qua câu
nói ở Đại hội của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản kỳ IV:
<em>"Cách mạng cộng sản sẽ qua cửa ngõ Tân đề ly (Ấn
độ), Bắc kinh (Tàu), rồi mới tới Paris và Luân đôn"</em>.
Rồi Lénine chết năm 1924.

Ở đây, tôi không nói nhiều đến những cuộc đấu đá nội
bộ trong đảng Cộng sản Liên sô. Chúng ta chỉ nên biết là
Đảng và Nhà nước do Lénine lập ra, mà bà Rosa Luxembourg,
người của Đệ Nhị, bạn của Lénine, đã viết cho ông, ngay
từ lúc đầu vào năm 1919: <em>"Cái Đảng và Nhà nước mà
Anh</em> (tức Lénine, lời tác giả bài này) <em>lập lên, Anh
bảo là để phục vụ thợ thuyền và nhân dân. Nhưng trên
thực tế, nó chẳng phục vụ một ai, vì nó đã đi ngược
lại những nguyên tắc căn bản của xã hội chủ nghĩa: đó
là tôn trọng tự do và dân chủ."</em>

Cái Đảng và nhà nước này nó còn là một chiến trường
để những người cộng sản đấu đá, thanh trừng, giết hại
nhau, ngay từ cuối đời Lénine.

Thật vậy, Lénine chết vào năm 1924, nhưng từ những năm 22,
23, Lénine đã bệnh nặng, liệt nửa người, do mắc bệnh giang
mai, đã ăn sâu vào hệ thần kinh và óc, mà lúc đó chưa có
thuốc trụ sinh, người ta chỉ chữa cầm chừng, giảm đau qua
việc cho uống "độc dược". Người lo chăm nom Lénine, không
ai hơn là Stalin, lúc đó đang làm thư ký đảng. Khi Staline biết
rằng Lénine không còn tin mình nữa, đang tìm cách loại mình ra
khỏi Trung Ương Đảng, thì Staline đã cho Lénine uống liều
độc dược cao, đưa đến cái chết. Đây là chính vợ của
Lénine tố cáo. Sau khi Lénine chết, những cuộc cuộc đấu đá
trong Đảng không ngừng xẩy ra. Đầu tiên là đấu đá giữa
Staline và Trotski, sau đó đến những cuộc thanh trừng nội bộ
do Staline thực hiện, đưa đến việc loại trừ 90% những
người trong Trung ương Đảng, 90% sĩ quan cao cấp trong quân
đội, đưa đến 20 triệu người chết (theo Stéphane Courtois,
Nicolac Werth v.v.. – Le livre noire du communisme – Crimes, terreur,
répression – trang 8 – nhà xuất bản Robert Laffont – 1997 –
Paris).

Trở về cuộc tranh hùng tư bản – cộng sản, chúng ta nên
nhớ là ngay sau khi Lénine cướp được chính quyền thì Anh,
Pháp, Hoa kỳ v. v.., gửi quân đến Nga giúp đỡ những người
Bạch Nga, nhằm lấy lại chính quyền, nhưng thất bại, đi
đến sự hòa hoãn tư bản – cộng sản. Bởi lẽ đó, Liên sô
đã ký Hiệp Ước thân thiện, buôn bán với Anh năm 1921. Ngay
thời điểm này, Lénine đã ý thức rõ sự không tưởng của
lý thuyết Marx, trong thời gian áp dụng lý thuyết này 3 năm từ
1918 đến 1921, đưa đến nạn đói, vì sự phản đối của
dân, vì cảnh <em>"Cha chung không ai khóc. Ruộng chung không ai
cày. Nhà chung không người chăm sóc"</em>. Chính vì vậy mà
Lénine đã phải cho ra Chính Sách Kinh tế mới (NEP). Lénine còn
nghĩ mình sai lầm qua việc cho Đảng đứng trên mọi tổ chức,
ngay cả trên Nhà nước và Quân đội, mà lúc đó người nắm
nhà nước và quân đội là Trotski ; và người nắm đảng là
Staline. Chính vì vậy mà Lénine muốn loại bỏ Staline lúc sau
này, nhưng không kịp, thì chết. Từ đó sự đấu đá giữa
Trotski và Staline đã được định sẵn là Trotski thua, vì Staline
nắm Đảng, cao hơn mọi tổ chức.

Tình hình thế giới lúc bấy giờ, ngoài sự thanh trừng đẫm
máu ở Liên Sô, người ta phải kể đến sự lên nắm quyền
của Phát xít Ý, của Mussolini vào năm 1923, và của Phát xít
Hitler vào năm 1933 ở Đức.

Rồi Đại Chiến thứ Nhì (1939 – 1945) xẩy ra.

Trong thời gian đại chiến, sự hợp tác tư bản – cộng sản
lại xẩy ra qua việc hợp tác Hoa kỳ, Anh và Liên sô để diệt
Phát xít. Sau khi đại chiến chấm dứt, thì chiến tranh giữa
tư bản và cộng sản lại tái diễn, dưới hình thức Chiến
tranh Lạnh.

Có người nói Chiến tranh Lạnh bắt đầu từ năm 1947, khi
Churchil, Thủ tướng Anh, đọc bài diễn văn ở một đại học
Hoa kỳ nói rằng: <em>"Bức màn sắt đã buông xuống ngăn
chặn 2 thế giới tự do và cộng sản"</em>. Nhưng thực ra thì
Chiến tranh Lạnh đã bắt đầu ngay lúc còn Đại Chiến thứ
Nhì, ngay sau khi Hội Nghi Yalta, họp từ ngày 4 đến ngày
11/2/1945, gồm có Roosevelt, Staline và Churchill; vì trong Hội Nghị
này, Roosevelt đã nhượng bộ Staline quá nhiều, như nhiều
người sau này than trách, và ngay sau hội nghị, trước khi chết
vào ngày 12/4/1945, 2 tháng sau khi dự Hội nghị, qua những bức
thư của Roosevelt gửi cho vợ và bạn bè thân, theo đó, ông đã
bất mãn, vì nhận thấy rằng Staline đã đồng ý trên lý
thuyết ở bàn hội nghị, nhưng trên thực tế làm hoàn toàn
trái lại. Chỉ lấy thí dụ điển hình là nước Ba Lan, theo
nguyên tắc, thì sau khi thoát khỏi Đức Quốc xã, phải có một
cuộc bầu cử tự do để chọn ra người đại diện cho dân
tộc này. Nhưng Staline đã ngầm giúp đở đảng cộng sản, xúi
dục đảng này nổi lên cướp chính quyền. Không những thế,
khi tràn quân sang Ba lan, Staline còn cho quân đội Liên sô ăn
mặc giả dạng quân đội phát xít, tìm cách thủ tiêu hơn 20
000 sĩ quan quân đội quốc gia Ba lan chống Đức. Sự kiện này
chính Gorbatchev, Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên sô, tiết
lộ sau này.

Có người còn cho rằng Chiến tranh Lạnh bắt đầu ở Hội
Nghị Potsdam, họp từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/ 1945, giữa Truman,
Staline và Churchill, qua 2 sự việc: 1) họ cho rằng tại hội
nghị này, người Cố vấn cho Tổng thống Truman là ông Paul
Nitzé, Chủ tịch Hội đồng An ninh quốc gia và cũng là tác
giả của Chiến Lược Be Bờ (Containment Policy) suốt trong thời
Gian Chiến tranh lạnh, đã suy nghĩ về chiến lược này, ngay
trong hội nghị ; 2) Sự việc thứ hai đó là chính trong Hội
nghị này, Truman đã báo cho Staline về việc Hoa kỳ có bom
nguyên tử.

Thật vậy, Paul Nitzé đã mang theo quyển truyện Trại Súc Vật
(Animal Farm) của văn hào người Anh Georges Orwells, cũng là quyển
sách gối đầu giường của ông; và có người nói rằng chính
ông đã đưa cho Staline đọc.

Theo quyển truyện, và người đọc nhận ra rằng văn hào Anh
này đã chỉ trích và nhạo báng cộng sản. Theo đó, trong một
trại súc vật nọ, nào là heo, gà, trâu, ngựa v.v…, có một
con heo già kia, mà người ta đoán ngay ra rằng đó là ám chỉ K.
Marx, vì con heo này vừa già, vừa lười biếng, vừa ở dơ, hay
ngủ trưa. Trong một giấc ngủ vào một đêm nọ, nó đã nằm
mơ tới thiên đàng súc vật, trong đó mọi con vật đều sung
sướng, ăn uống đầy đủ, không phải làm việc cực nhọc,
còn được nghe âm nhạc, như nghe tiếng mẹ heo già ru con. Khi
bừng mắt dậy, con heo già nhận thấy thực tế quá trái
ngược và đau khổ. Nó suy nghĩ tìm ra nguyên nhân. Sau cùng nó
đã tìm ra: đó là vì con người, tại con người bóc lột súc
vật. Nó đã qui tụ súc vật lại để thuyết phục và hô hào
nổi lên làm cách mạng súc vật. Lúc đầu ông chủ trại có
kháng cự nhưng sức mạnh súc vật quá mạnh, ông đành buông
tay.

Nhờ kho thóc do ông chủ để lại còn nhiều, nên thời đầu
cách mạng, súc vật ăn uống hỉ hả, chia chác công bằng.
Nhưng rồi sau đó, vì súc vật không biết làm kinh tế, kho thóc

Georges Orwells còn viết quyển truyện mang tên số "1984", tố
cáo sự độc tài của chế độ cộng sản và ông tiên đoán
chế độ này sẽ sụp đổ vào năm 1984, nên quyển truyện mang
tên như vậy.

Chính Paul Nitzé, với sự cộng tác của Georges Kennan, Thứ
Trưởng Ngoại giao thời bấy giờ, đã lấy ý từ quyển
truyện "Trại xúc vật" này, để làm ra Chính Sách Be Bờ
(Containment Policy), được gói ghém trong Chỉ thị mang tên Chỉ
thị số 56 của Hội đồng An ninh Quốc gia, mà tất cả những
nhà ngoại giao Hoa kỳ, suốt trong thời gian Chiến tranh Lạnh,
coi như kim chỉ nam cho chính sách ngoại giao, và chỉ khi chiến
tranh này chấm dứt, Chỉ thị này mới được tiết lộ ra
ngoài.

Theo đó: Phải kiên nhẫn chờ đợi. Cố làm thế nào để
Liên Sô không dùng các nước Tây Âu để bắt chẹt Hoa kỳ.
Phải hành xử khéo léo để đưa Liên Sô trở lại con đường
tự do, dân chủ với cộng đồng thế giới. Phải làm thế nào
để ngăn chặn cộng sản tràn xuống vùng Đông Nam Á. Có
người cho rằng Chính Sách Marshall, giúp đỡ kinh tế Tây Âu,
để các nước này không bị lâm vào tình trạng đói nghèo,
khủng hoảng kinh tế, bị những đảng cộng sản lợi dụng,
xúi dục thợ thuyền đình công cũng như Chính sách Dominos ở
Đông Nam Á ngăn chặn cộng sản, cả hai đều lấy ý từ Chính
sách Be Bờ.

Về việc Truman tiết lộ Hoa kỳ có bom nguyên tử cho Staline,
rồi sau đó, 2 trái nguyên tử thả xuống Hiroshima ngày 06/8/1945
và 9/8, ba ngày sau, xuống Nagashaki, có người đặt câu hỏi
tại sao Hoa kỳ làm vậy. Có nhiều câu trả lời, đại để là
3 câu chính: Vì Hoa kỳ muốn trả thù Nhật đã oanh tạc Trân
Châu Cảng trước đó vào ngày 7/12/1941, mà không tuyên chiến
với Hoa Kỳ; có người nghĩ rằng là để chấm dứt chiến
tranh sớm, tiết kiệm sương máu cho lính Hoa kỳ; người khác
lại cho rằng là để cảnh cáo Liên Sô, phải giữ lời hứa,
không thể xua quân chiếm đất thêm như đã hứa trong 2 hội
nghị.

Qua nhiều tài liệu lịch sử, thì trước khi 2 trái bom được
thả, Liên Sô đã sửa soạn và định đổ bộ quân lên một
số hòn đảo của Nhật gần với Liên Sô, nhưng sau đó phải
ngưng. Theo tôi nghĩ thì có cả 3 lý do.

Sở dĩ tôi nói rằng Chiến tranh Lạnh đã bắt đầu ngay trong
Hội Nghị Potsdam là vì 2 lý do: Truman báo cho Staline rằng Hoa
kỳ đã có bom nguyên tử, vừa để thông báo, vừa để cảnh
cáo; và lý do nữa là Paul Nitzé đã suy ngẫm, ít nhất là từ
lúc đó, về Chiến lược Be Bờ qua quyển truyện Trại súc
vật vừa nói. Nếu nói từ cuối Thế Chiến thứ Hai đến lúc
Liên Sô sụp đổ vào đầu năm 1991, thì như vậy là 46 năm,
gần nửa thế kỷ. Trong thời gian nửa thế kỷ đó, cuộc tranh
hùng tư bản – cộng sản đã diễn ra dưới hình thức mà
người ta gọi là Chiến tranh Lạnh. Trong cuộc chiến này, với
thời gian lâu dài như vậy, tất nhiên có nhiều biến cố lịch
sữ, chính trị, kinh tế và quân sự, có nhiều sự lên xuống,
lúc thì người ta nghĩ bên này thắng, lúc thì người ta nghĩ
ngược lại bên kia thắng. Cả 2 bên đều dùng chiến lược
để đương đầu với nhau.

Có thể nói lúc đầu là phía cộng sản, đứng đầu bởi
Liên Sô, dùng chiến lược tấn công, còn phía tư bản, đứng
đầu bởi Hoa Kỳ dùng chiến lược phòng thủ, vì Chính sách Be
bờ (Containment Policy) có nghĩa là phòng thủ, người ta tấn
công, mình phòng thủ, be bờ để đỡ vỡ phòng tuyến. Nhưng
sau đó, ngược lại, Hoa Kỳ dùng chiến lược tấn công và
Liên sô dùng chiến lược phòng thủ. Chiến tranh Lạnh có thể
được chia ra một cách rất tương đối làm 2 thời kỳ: Thời
kỳ đầu từ cuối Thế Chiến đến năm 1975 với mốc điểm
của Hội Nghị Helsinski (1975); thời kỳ thứ nhì từ năm 1975
tới năm 1991.

Thời gian đầu của Chiến tranh Lạnh: Ở đây, có người lấy
mốc điểm thời gian là 1972, từ cuộc gặp gỡ Nixon – Mao ở
Bắc kinh, điều này cũng không sai; nhưng tôi lấy mốc điểm
là 1975, với Hội nghị về An ninh và hợp tác châu Âu họp ở
Helsinki, thủ đô nước Phần Lan, mà bản văn kiện được ký
vào ngày 1/8/1975, bởi tất cả những nước Âu châu, thêm sự
có mặt của Hoa Kỳ và Gia nã đại. Theo tôi đây là mốc
điểm mà Liên Sô gần như chính thức từ bỏ mộng tranh hùng
thế giới, từ thế công sang thế thủ, chấp nhận, và yêu
cầu thế giới chấp nhận những phần đất mà mình đã chiếm
được, tiêu biểu là phần đất chiếm của Ba Lan. Như chúng ta
vừa trình bày, thời gian đầu của Chiến tranh Lạnh, cộng
sản Liên Sô dùng chiến lược tấn công, mà người ta có thể
nói tiêu biểu là cuộc phong tỏa thành phố Bá Linh vào năm
1948. Sau Thế Chiến, nước Đức bị chia hai, một bên tư bản,
một bên cộng sản. Nhưng một điều oái oăm là thủ đô Bá
linh, nơi có đại diện của 4 cường quốc thắng trận là Hoa
Kỳ, Liên Sô, Anh và Pháp, lại nằm trong phần đất thuộc về
cộng sản Đông Đức.

Để bắt đầu chiến lược tấn công của mình, Liên Sô phong
tỏa Bá linh, có nghĩa là chặn đường tiếp tế bằng đường
bộ cho 3 Phái đoàn Hoa Kỳ, Anh, Pháp ở Bá linh và cả người
dân sống dưới sự ảnh hưởng của 3 phái đoàn này, bắt
buộc Hoa kỳ phải mở cầu không vận để tiếp viện.

Lúc này cũng là lúc chiến tranh quốc cộng giữa Tưởng Giới
Thạch và Mao Trạch Đông đang diễn ra khốc liệt ở Tàu. Có
người cho rằng cuộc phong tỏa Bá linh có ảnh hưởng đến
cuộc nội chiến Tầu và cũng là một trong những nguyên nhân
chính đưa đến sự thất bại của Tưởng Giới Thạch. Điều
này không sai. Bản cũ soạn lại, trên lý thuyết và nguyên
tắc, thì Staline công nhận Tưởng Giới Thạch là đại diện
chính thức của Tàu, quyền giải giới quân đội Nhật ở Tàu
là thuộc về Tưởng. Tuy nhiên ở Mãn Châu, vùng đất gần
Liên Sô, Staline đã ngầm báo cho quân đội cộng sản Tàu của
Mao gửi quân tới sớm để nẫng tay trên Tưởng Giới Thạch.
Chúng ta lấy một thí dụ đơn giản là trường hợp ông vua
cuối cùng đời Mãn Thanh, được Nhật dựng lên từ năm 1933
ở vùng này, sau đó, do quân đội Liên Sô đến trước, đã
bắt ông này về Nga, sau mãi tới năm 1950, mới thả về Tàu cho
Mao Trạch Đông.

Staline đã giải giới quân Nhật sớm ở Mãn Châu rồi trao vũ
khí cho quân của Mao. Tưởng Giới Thạch có gửi những đoàn
quân tinh nhuệ tới vùng này, nhưng đã trễ, bị lâm vào hoàn
cảnh sa lầy, bị quân của Mao bao vây, đường tiếp tế bằng
xe lửa và xe hơi rất khó khăn, vì thường bị quân cộng sản
chặn đánh, cướp phá. Chỉ còn con đường tiếp viện bằng
hàng không và chỉ trông cậy vào Hoa kỳ. Tuy nhiên chính phủ
Hoa kỳ, sau khi Nhật đầu hàng, thì coi như Đại chiến thứ
Nhì chấm dứt, ngân sách quốc phòng bị cắt giảm, thêm vào
đó không quân còn phải tiếp viện cho Bá linh. Tiếp theo vụ
phong tỏa Bá linh năm 1948, là vụ sụp đổ chính quyền Tưởng
Giới Thạch ở lục địa 1949.

Đây là một biến cố lịch sử vô cùng to lớn, cán cân
chiến lược, quân sự ngả hẳn về phía cộng sản, vì ngoài
những phần đất chiếm được ở Đông Âu, Hàn Quốc và Việt
Nam, nay có thêm một phần đất lớn như nước Tàu với một
dân số cả nửa tỷ dân lúc bấy giờ. Tiếp theo cuộc nắm
quyền của Mao, là chiến tranh Triều Tiên năm1950, quân đội
của Kim Nhật Thành đã tràn xuống phía nam. Để ngăn chặn, Hoa
Kỳ bắt buộc phải đổ quân vào bán đảo này. Để cân bằng
lại, Trung cộng cũng gửi quân sang giúp Bắc Triều Tiên. Chiến
tranh Triều Tiên, có nhà bình luận cho rằng việc Mao chiến
thắng Tưởng quá lẹ, lại cướp được nhiều võ khi, khiến
quân đội Mao trở nên lớn mạnh, được biểu hiện qua cuộc
diễu binh chiến thắng liền sau đó, làm cho Staline đã nghĩ
đến việc thế giới cộng sản sẽ bị hiểm họa chia hai, như
chúng ta thấy sau này. Vì vậy Staline xúi dục Kim Nhật Thành
gây chiến ở Triều Tiên, vừa làm cho Mỹ khó khăn, vừa làm
cho Trung cộng, nước sát bên cạnh, cũng phải gửi quân sang
để giúp Kim Nhật Thành, làm cho Trung cộng không có thời giờ
để lo chấn chỉnh, kiến thiết, xây dựng để lớn mạnh,
để có thể tranh quyền lãnh đạo thế giới cộng sản với
Liên sô. Việc gửi quân sang Triều Tiên đã có 2 khuynh hướng
ở Bộ chính trị Trung cộng, như nhiều nhà báo tiết lộ sau
này: phe phản đối có Mao; phe ủng hộ, có tướng Bành Đức
Hoài, mà sau đó Mao đã phê bình họ Bành: <em>"Ông ấy vẫn
còn giữ bản tính của một người quân phiệt và tiểu tư
sản"</em>.

Chiến tranh Triều Tiên kéo dài từ ngày 25/6/1950 đến ngày
27/7/1953. Theo như tinh thần Hội nghị Yalta (tháng 2/1945), thì
Triều Tiên được đặt dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp
Quốc trong 5 năm, phía bắc dưới sự bảo trợ của Liên Sô,
phía nam dưới sự bảo trợ của Anh, lấy vĩ tuyến thứ 38 làm
ranh giới. Cũng theo tinh thần Hội Nghị Yalta, Việt Nam cũng
vậy, cũng được đặt dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp
Quốc trong vòng 5 năm, sau đó thì được độc lập, miền Bắc
dưới sự bảo trợ của chính quyền Tưởng Giới Thạch, miền
Nam dưới sự bảo trợ của Anh, lấy vĩ tuyến thứ 16 làm
giới tuyến. Đó là trên nguyên tắc và lý thuyết ở hội
nghị, nhưng trên thực tế, Staline và Đệ Tam quốc tế Cộng
sản đã xúi giục đảng cộng sản ở những nước địa
phương nổi lên cướp chính quyền và gây hấn chiến tranh.
Staline chết ngày 5/3/1953.

Nhiều người cho rằng lịch sử là hữu lý, cá nhân không
đóng vai trò quan trọng. Nhưng không hoàn toàn như vậy. Trong
thời gian Chiến tranh Lạnh, những lãnh đạo của các cường
quốc, nhất là Hoa Kỳ và Liên Sô giữ một vai trò rất quan
trọng. Khrouschev (1953 – 1964), sau khi cùng Béria, đầu độc
Staline chết, theo lời tố cáo của con Staline, lại cho tay em
bắt Béria và xử tử ông này, lên nắm quyền ở Liên Sô, vì
nhận thấy những sự sai trái không tưởng của lý thuyết Marx,
thấy chủ nghĩa tôn thờ cá nhân quá độ của Staline, nên chủ
trương bên trong đóng cửa để sửa sai, bên ngoài hòa hoãn
với tư bản. Phía Hoa kỳ, Truman (1945-1952), đảng Dân chủ, bị
thất cử cuối năm 1951, Eishenhower (1952 – 1960), đảng Cộng
hòa, lên thay thế, cũng chủ trương hòa hoãn, trong cuộc tranh
cử đã hứa với dân Mỹ là sẽ triệu hồi quân đội ở
Triều tiên về nước. Chính vì vậy mà có cuộc Họp Thượng
đỉnh, bốn cường quốc Hoa Kỳ, Liên Sô, Anh, Pháp ở Berlin
vào năm 1953. Sau đó 4 cường quốc đồng ý họp lại ở Genève
để giải quyết vấn đề Triều Tiên vào cùng năm. Theo lời
yêu cầu của Pháp, với sự đồng ý của Liên Sô, với điều
kiện là phải có sự hiện diện của Trung cộng, Hội nghị
Genève về Triều Tiên quay sang bàn về Đông Dương, mà dân
Việt ai cũng biết đó là Hội nghị chia đôi nước Việt Nam
lấy vĩ tuyến thứ 17 làn ranh giới.

Tuy nhiên sự hòa hoãn cũng chỉ được một thời gian, rồi
cuộc tranh hùng tư bản – cộng sản lại trở nên căng thẳng:
căng thẳng vì Việt cộng gửi quân vào miền Nam, thành lập ra
cái gọi là Mặt trận giải phóng, căng thẳng vì Kennedy
(1960-1963) lên thay thế Eisenhower, sau đó gửi quân sang Cuba
định lật đổ Fidel Castro, nhưng thất bại trong vụ vịnh Con
heo 1960; sau đó Khrouschev đặt những giàn hỏa tiễn ở Cuba,
Kennedy ép buộc Liên Sô phải rút khỏi, nếu không thì sẽ có
chiến tranh thứ 3. Bên cạnh đó có sự tranh chấp Nga Hoa ngày
càng trở nên cao độ. Thêm vào đó có cuộc đảo chính ở
miền Nam Việt Nam 1963.

Vì tình hình phía tư bản có vẻ bất ổn, phe bảo thủ, muốn
trở lại Chiến tranh Lạnh đã thắng thế ở Trung ương Đảng
Cộng sản Liên sô, đưa đến việc Khrouschev bị hạ bệ năm
1964 và Brejnev lên thay. Brejnev đã đưa ra một kế sách gồm 2
sách lược đại ý như sau: Đừng nghĩ rằng phía cộng sản
yếu và phía tư bản mạnh, mà ngược lại cần quên đi khó
khăn nội bộ, phải tấn công tư bản ở mọi nơi để đưa
cộng sản chiến thắng trên toàn thế giới. Đó là thượng
sách. Trung sách là cùng lắm sẽ chia đôi thế giới, lấy trục
Sài gòn, Phnom Pen, Bangkok, Kaboul, Moscou làm giới tuyến, phía
đông thuộc về cộng sản, phía tây thuộc về tư bản. Kế
sách này đã làm mê hoặc Trung Uơng đảng, chính vì vậy mà
Khrouschev bị hạ bệ, Brejnev lên thay. Theo kế sách này thì Liên
Sô dùng 3 con chốt chính: ở Âu châu là Đông Đức, ở nam Mỹ
là Cuba và ở Á châu là Việt Nam. Lê Duẫn, Tổng bí thư đảng
Cộng sản Việt nam, lúc đó đã hết sức tin tưởng vào Liên
Sô, vào Brejnev. Ông đã viết trong tờ báo Học tập, sau này
mang tên là Tạp Chí Cộng sản, số tháng 2/1964, trang 1 đến
trang 20, nói về Nghị quyết của Hội Nghị Trung Ương Đảng
lần thứ 9 (khóa 3), bài viết có tựa đề: "Một vài vấn
đề trong nhiệm vụ quốc tế của đảng ta", với những
đọan như sau:

<em>"Nhìn tổng quát tình hình thế giới, phân tích những
đặc điểm và những qui luật phát triển của ba vùng</em>
(vùng cộng sản, vùng tư bản, vùng các nước thứ ba – lời
chú thích của tác giả bài này), <em>chúng ta thấy rằng, lực
lượng của cách mạng, lực lượng của chủ nghĩa xã hội và
của hòa bình hơn hẳn lực lượng của đế quốc phản động
và chiến tranh. Chúng ta mạnh hơn địch. Vì vậy cách mạng
không phải ở thế thủ, chiến lược cách mạng không nên ở
thế thủ; mà cách mạng đang ở thế tấn công; chiến lược
cách mạng nên là chiến lược tấn công, phá từng chính sách
chiến tranh một, đi đến phá toàn bộ kế hoạch gây chiến
tranh của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu, nhằm đánh
lùi từng bước và đánh đổ từng bộ phận chủ nghĩa đế
quốc, đi đến thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa đế quốc"</em>.
Cuộc Họp Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 9
(Khóa 3) là đúng vào đầu năm 1964, ngay sau cuộc đảo chính
11/11/1963, đưa đến cái chết của 2 nhà lãnh đạo miền Nam
Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Sau đó 3 tuần thì Kennedy bị
ám sát ở Texas. Điều này chứng tỏ một lần nữa cộng sản
Việt Nam quyết chiếm đánh miền Nam, nên những con bài như
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ là cái
bình phong và những người chủ trương trung lập miền Nam và
hơn thế nữa chủ trương trung lập Đông Dương qua diễn văn
của tướng de Gaulle ở Phnom Penh vào năm 1965 chỉ là ảo
tưởng.

Theo trên, Brejnev lên ngôi với kế hoạch gồm 2 kế sách,
thượng sách là toàn thắng, trung sách là chia đôi thế giới.

Thượng sách này được sửa sọan trong vòng 4 năm và đợt
tấn công tư bản đầu tiên và lớn nhất là vào năm 1968, mà
chúng ta thấy có vụ tấn công Tết Mậu Thân 68 ở Việt Nam.
Trong khi đó ở Âu châu và ngay ở Hoa Kỳ, những tình báo của
Đông Đức, Liên Sô thâm nhập vào những phong trào phản
chiến, cùng với những người, những tổ chức, những đảng
cộng sản sẵn có, nổi lên biểu tình ở khắp nơi, từ Âu
châu cho tới Mỹ châu. Cộng thêm với những cuộc đảo chính
của những phần tử quân đội, thân cộng sản, ở Phi châu và
những cuộc ám sát các chủ tịch, những chủ nhân các hãng
xưởng như ở bên Ý và bên Đức.

Phải công nhận rằng Thượng sách của Brejnev có mang lại
một số kết quả ngoạn mục bề ngoài vào lúc ban đầu, nhưng
cũng không thể làm sụp đổ được chế độ tư bản. Trong khi
đó thì những khó khăn nội bộ của cộng sản, ngay từ chính
Liên Sô, ngày càng trở nên trầm trọng, việc tranh chấp Nga –
Hoa nổ ra càng lớn, kinh tế đình trệ, dân tình chán nản, tham
nhũng hối lộ lan tràn, để đến nỗi trước khi chết, Brejnev
phải than lên: <em>"Xã hội chủ nghĩa gì mà 1/3 xe chạy ngoài
đường là ăn cắp xăng của công, 1/3 bằng cấp là bằng cấp
giả, công chức đến sở làm việc là để chỉ có mặt, sau
đó là đi coi hát hay làm việc riêng"</em>. Brejnev chết năm
1983. Chiến lược tấn công tư bản của Brejnev ngừng vào năm
1972, trở về thế thủ, khi có cuộc gặp gỡ giữa Nixon và Mao
ở Bắc Kinh, rồi có bản Tuyên bố chung ở Thượng hải. Từ
thời điểm này, một cách tổng quát và tương đối, người ta
có thể nói là tư bản, dẫn đầu bởi Hoa Kỳ, đã từ bỏ
chiến lược phòng thủ, để bước sang chiến lược tấn công
cộng sản. Hoa Kỳ cũng tấn công cộng sản trên 3 bình diện:
ý thức hệ, kinh tế và quân sự.

Về ý thức hệ, Hoa Kỳ tăng cường những đài tiếng nói tự
do về phía cộng sản, chứng minh cho người dân cộng sản và
thế giới thấy rằng:

a) Lý thuyết Mác Lê chỉ là ảo tưởng, không đưa đến việc
giải phóng con người mà chỉ đưa đến sự đàn áp, tù đày,
chém giết, không những người dân mà ngay cả đối với
người cộng sản qua những sự đấu đá nội bộ. Chính ở
điểm này mà có người cho rằng sự phản công của tư bản
bắt đầu từ tháng 8/1975, với Hội nghị An ninh châu Âu, vì
ở hội nghị này Liên Sô chấp nhận không phá sóng những đài
tiếng nói tự do, chấp nhận có giao thương kinh tế; nhưng
ngược lại Âu châu và thế giới phải chấp nhận biên giới
sẵn có của Liên Sô, đó là biên giới với Ba Lan, vì vào Đệ
Nhị thế Chiến, Liên Sô đã chiếm một phần đất phía đông
của Ba Lan. Một viên tướng Liên Sô, trong phe bảo thủ, chống
Hội nghị này, đã nói:<em> "Với Hội nghị Helsinski, địch
thủ đã chọc thủng phòng tuyến của chúng ta"</em>.

b) Lý thuyết Mác Lê không những không dẫn đến thiên đàng
cộng sản, mà dẫn đến các nước anh em cộng sản cắn quái
lẫn nhau, không phải là "Môi hở, răng lạnh", mà là răng
cắn vào môi, như vụ tranh chấp Nga – Hoa ; tranh chấp Việt –
Hoa, đánh nhau ở biên giới năm 1979; tranh chấp Việt – Căm
bốt, cộng sản Việt Nam xua quân đánh Căm bốt năm 1978.

c) Về kinh tế, tư bản tìm cách buôn bán với cộng sản, bắt
đầu bằng coca cola, quần jeans, rồi đi đến lập các hãng
xưởng, để biến kinh tế cộng sản từ kinh tế quốc doanh,
thành kinh tế tư doanh làm kinh tế từ từ vuột khỏi tay nhà
nước.

d) Về quân sự, thì Hoa kỳ tìm cách làm cho cộng sản Việt
Nam sa lầy ở Căm bốt, cộng sản Liên Sô sa lầy ở A phú hãn,
khai thác tối đa sự bất đồng giữa cộng sản Liên Sô và
cộng sản Trung quốc.

Quả thật phía cộng sản bị vô cùng khó khăn, sa lầy không
những ở thế giới mà sa lầy trong chính nội bộ của mình:
kinh tế, xã hội, chính trị trở nên trì trệ, khó khăn ở ngay
chính tại Liên bang Cộng Hòa xã hội Chủ nghĩa Sô Viết, sa
lầy giữa anh em với nhau. Chính vì vậy, mà khi lên ngôi năm
1964, Brejnev lạc quan bao nhiêu, thì trước khi chết, năm 1983,
lại bi quan bấy nhiêu, nên mới có lời than như trên.

Bejnev chết, kế tiếp là Andropov (1983 -1984), rồi Tchernenko (1984
– 1985), hai người này nắm quyền không được lâu, trong vòng
không đầy 3 năm, thì năm 1985 Gorbatchev lên, đưa đến sự sụp
đổ của Liên Sô và các nước Đông Âu, khi Gorbatchev tuyên bố
từ chức Chủ tịch Liên bang Sô Viết vào đầu năm 1991.

Có người cho rằng Gorbachev không phải là cộng sản thì không
đúng. Gorbatchev lên nhận lãnh một gia tài cộng sản đầy
thối nát và khó khăn. Khrouschev chủ trương chính sách sửa sai
nội bộ, nghĩ rằng hãy hòa hoãn với tư bản và đặt ưu tiên
cho sự sửa sai trong nước trước. Nhưng ngược lại, Brejnev cho
rằng chính sách này không đúng, hãy dập đi khó khăn nội bộ,
tấn công tư bản trước, sau khi toàn thắng, rồi trở về sửa
sai cũng chưa muộn. Vì lẽ đó mà Brejnev đã dồn hết nỗ lực
trong cuộc chạy đua vũ trang, sản xuất đầu đạn nguyên tử
hơn cả Hoa Kỳ, sản xuất mỗi năm 7.000 chiếc xe tăng, bằng
tổng số còn lại của toàn thế giới kể cả Hoa Kỳ, bỏ
tiền giúp đỡ những đảng cộng sản, những tổ chức phản
chiến, khủng bố, giết người trên toàn thế giới, lâm vào
cảnh "Con ếch muốn to bằng con bò", thi đua tiêu tiền với
kẻ giầu, thi đua chạy với anh lực sĩ khỏe, dài hơi. Chính
vì vậy nên khi Liên Sô ngừng chạy đua vũ trang thì hết hơi
và quị ngã. Thực tế, ít nhất là cho tới năm 1991, khi đế
quốc cộng sản Liên Sô sụp đổ, cho thấy cộng sản đã thua.
Tuy nhiên, có người cho rằng cuộc tranh hùng tư bản – cộng
sản đã chấm dứt. Nhưng có người lại cho rằng chiến tranh
lạnh chưa chấm dứt và vẫn tiếp tục kéo dài với cuộc tranh
hùng Mỹ – Trung và gần đây nhất với sự đối đầu Mỹ –
Nga qua vụ Syrie.

Những người cho rằng, từ năm 1991 cho tới nay không còn cuộc
tranh hùng tư bản cộng sản nữa, hay nói khác đi là không còn
Chiến tranh Lạnh nữa, với những lý do như sau:

Thế giới cộng sản, với sự lãnh đạo của Liên Sô, với
khí thế mạnh mẽ và to lớn như vậy, nhất là sau Đệ Nhị
Thế Chiến, cộng với Phong trào Độc lập, thế mà còn thua,
nay mấy nước cộng sản còn lại, tiêu biểu là Trung cộng và
Việt Nam, không dám nghĩ mình là cộng sản, không có lãnh
đạo, ngay cả Trung cộng cũng không dám nhận vai trò này,
huống chi những nước như Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba, thì làm sao
dám đương đầu với tư bản, trở về Chiến tranh Lạnh.

Tuy nhiên gần đây, với vấn đề vũ khí hóa học ở Syrie, có
người cho rằng Chiến tranh Lạnh lại trở lại, qua sự đối
đầu Nga – Mỹ: một bên là Hoa Kỳ và Pháp muốn dùng bom hay
hỏa tiễn để oanh tạc những căn cứ dự trữ hay chế tạo
vũ khí hóa học của Tổng thống Assad, bên kia Nga và Trung cộng
nhất định phản đối. Sự kiện này làm cho bang giao giữa Hoa
Kỳ và Nga trở nên khó khăn, Tổng thống Obama không muốn gặp
riêng Tổng thống Putin, trong cuộc Họp Thượng đỉnh G8, rồi
G20 ở tại Saint Péterbourg thuộc Nga.

Chúng ta hãy cùng nhau xét phải chăng thực sự có Chiến tranh
Lạnh giữa Hoa Kỳ – Nga, rồi Hoa kỳ – Trung cộng:

Sự đối đầu Nga – Mỹ qua vấn đề Syrie:

Syrie là một quốc gia Trung Đông, phía bắc giáp Thổ nhĩ Kỳ,
phía nam giáp Arabie Sahoudite, phía đông giáp Iran, Irak và phía
tây nhìn ra địa trung hải, thủ đô là Damas. Diện tích vào
khỏang 185 000 Km2, bằng hơn ½ Việt Nam, dân số là 22,5 triệu
dân vào khoảng ¼ Việt Nam, sản lượng hàng năm tính theo đầu
người là 3 050 $, tổng sản lượng là gần 65 tỷ $. Lãnh đạo
Syrie là một chế độ độc tài quân phiệt hữu, cha truyền con
nối, từ bố đến con cách đây cả ba bốn chục năm, chẳng
khác nào chế độ độc tài cộng sản tả của Bắc Hàn. Chế
độ này vô cùng tàn bạo, đàn áp dân và giết đối lập
không gớm tay, tuy nhiên vẫn khoác áo chủ nhĩa dân tộc và
chủ nghĩa Ả rập. Nội chiến Syrie bắt đầu cách đây hơn 2
năm, vào mùa Cách mạng Ả rập, với những cuộc cách mạng
đã xẩy ra ở một số nước Ả rập, như Lybien, Ai cập,
Tunisie. Nó bắt đầu bằng một cuộc biểu tình của dân ở
thủ đô Damas. Chính quyền của Tổng thống Assad đã dùng công
an, cảnh sát và quân đội đàn áp một cách dã man. Cuộc nội
chiến bắt đầu từ đó và kéo dài cho tới bây giờ, đã làm
cho 110 000 người chết, cả triệu người phải đi tỵ nạn.
Nhưng biến cố làm rúng động thế giới, đó là vụ dùng vũ
khí hóa học để giết dân vào ngày 21 tháng 8 vừa qua.

Hoa Kỳ và Pháp có một thái độ cứng rắn, kết án chính
quyền Assad là thủ phạm dùng vũ khí hóa học, muốn trả đũa
lại. Anh lúc đầu ủng hộ, nhưng chính quyền Anh của Thủ
tướng Cameron đã yêu cầu Quốc hội biểu quyết xem có nên can
thiệp hay không. Kết quả là không.

Nga và Trung cộng hoàn toàn ủng hộ chính quyền Assad, chống
sự can thiệp bằng võ lực của Hoa Kỳ và Pháp. Tình hình đã
trở nên căng thẳng vì thế có người cho rằng Chiến tranh
Lạnh đã trở lại giữa Hoa Kỳ và Nga. Mặc dù có sự căng
thẳng giữa bang giao Nga – Mỹ, nhưng nói rằng chiến tranh
lạnh đã trở lại với Nga – Mỹ thì không đúng. Vì nhiều
lý do:

Lý do thứ nhất là Nga hiện nay không còn là một siêu cường
hạng nhất nữa, mà chỉ là một cường quốc bậc trung. Một
vài con số thống kê có thể làm sáng tỏ như tổng sản
lượng của Nga là 1875 tỷ, trong khi đó của Hoa Kỳ là 15 000
tỷ. Nga thua cả Trung cộng, 7 000 tỷ, Nhật, 5 000 tỷ, Đức, 3
000 tỷ, Pháp 2 600 tỷ. Ngân sách quốc phòng của Nga là 53 tỷ,
trong khi của Mỹ là 750 tỷ, chỉ gần bằng số lẻ. Kinh tế
Nga gần như kiệt quệ, không có khả năng cạnh tranh, chỉ dựa
vào việc xuất cảng dầu và khí đốt. Chính quyền thì thối
nát, tham nhũng từ trên xuống dưới. Thời gian qua uy tín của
Putin đối với dân Nga đã xuống thấp nên Putin tỏ vẻ ra
đương đầu với Obama, đương đầu với Hoa Kỳ là vì chính
trị nội bộ, vì uy tín cá nhân, muốn làm ra vẻ Nga vẫn là
một đại cường quốc với mục đích làm tăng uy tín của
mình.

Lý do địa lý chiến lược: Lúc còn chiến tranh lạnh, không
những còn khối Liên Sô và cộng sản, quân đội Nga đóng tại
Đông Đức, Ba lan, sát nách với Tây Đức, chỉ trong một thời
gian rất ngắn là quân đội Nga có thể đe dọa các nước Tây
Âu, và những căn cứ quân sự của Mỹ ở những nước này,
nhất là ở Tây Đức. Nay các nước quanh Nga như Ukhaine, Géorgie
v.v… đã độc lập, quân Nga để đe dọa các nước Tây Âu,
phải di chuyển một chặng đường dài. Nói như một nhà nghiên
cứu quân sự là với một ngân sách quốc phòng 53 tỷ, Nga chỉ
đủ dùng để bảo trì một kho vũ khí khổng lồ do Liên Sô cũ
để lại, không còn sức để bung ra ngoài, nói chi đương đầu
với Mỹ hay trở về Chiến tranh Lạnh.

Về phía Hoa kỳ thì ông Obama rất đắn đo trong việc can
thiệp quân sự vào Syrie vì ông không muốn trở thành hình ảnh
một tổng thống "chiến tranh", như nhiều lần ông tuyên
bố, vì qua kinh nghiệm Irak, A phú hãn và gần nhất là kinh
nghiệm ở Tunisie và Ai cập, sau các cuộc cách mạng, phe Hồi
giáo cực đoan lên nắm quyền. Tình hình ở Syrie còn phức tạp
hơn nhiều. Phe chống lại chính quyền Assad thì năm phe bảy
cánh, mà trong đó những lực lượng khủng bố lại có ưu
thế. Tuy nhiên Obama bị đứng trước một tình trạng khó xử.
Là một đại cường quốc dân chủ mà làm ngơ trước sự
kiện một chính phủ độc tài tàn sát dân mình qua nội chiến
đã lên đến cả trăm ngàn người chết và cả triệu người
phải đi tỵ nạn. Thêm vào đó, tuy chưa rõ là phía nào dùng
vũ khí hóa học, nhưng sự kiện là có việc dùng vũ khí hóa
học vào ngày 21/8 vừa qua, đưa đến cả ngàn người chết.
Chính vì lẽ này mà phe Cộng hòa ở Thượng cũng như Hạ viện
tố cáo Obama không có một đường lối rõ rệt ở Trung Đông,
không dám lấy quyết định, quá chần chờ.

Để trả lời lại, Obama yêu cầu thông qua Quốc hội để
quyết định có oanh tạc Syrie hay không. Việc này là một mũi
tên nhằm nhiều mục đích: Về phương diện quốc tế chứng
tỏ Hoa kỳ là một nước dân chủ, mặc dầu tổng thống có
quyền quyết định ngoại giao, nhưng vẫn hỏi ý kiến cơ quan
lập pháp, khác với một số quốc gia, cơ quan hành pháp lấy
quyết định một mình. Về phương diện quốc nội, những
Nghị sĩ của Đảng Cộng hòa thường trách cứ Obama là không
cứng rắn, quá mềm yếu, không chứng tỏ được là một đại
cường dân chủ trước sự kiện một chính quyền độc tài
đàn áp giết dân của họ, và hơn thế nữa lại vi phạm luật
quốc tế đã được qui định cả trăm năm nay là việc cấm
dùng vũ khí hóa học. Nếu quốc hội bỏ phiếu chấp nhận,
thì đó là một thành công của Obama. Nếu không thì ông có
thế tố cáo ngược lại các nghị sĩ Cộng hòa đã tố cáo
ông trước đây. Việc này Obama nhằm tạo uy thế cho đảng Dân
chủ để sửa sọan cho việc bầu cử lại quốc hội vào năm
2014. Tuy nhiên gần đây Nga đã ép được tổng thống Assad của
Syrie chấp nhận phê chuẩn hiệp ước cấm vũ khí hóa học,
chấp nhận để cho thanh tra Liên hiệp quốc trở lại Syrie quan
sát và hủy bỏ vũ khí hóa học mà chính quyền Assad đang sở
hữu.

Nhưng đây cũng chỉ là lý thuyết trên giấy tờ, còn việc
trao vũ khí hóa học cho Liên hiệp quốc và phá hủy nó còn là
một chặng đường dài. Trong vụ này, Nga trở về truyền
thống ngoại giao thời đối đầu tư bản – cộng sản của
Staline, cứ chấp nhận trên nguyên tắc, nhưng trên thực tế có
thể du di hay làm ngược lại. Đấy là chưa nói đến việc
để phá hủy những kho vũ khí hóa học này cần đến tiền,
theo như tuyên bố của Assad thì là gần một tỷ $. Ai sẽ gánh
chịu phí tổn này? Vì vậy nên vấn đề Syrie còn kéo dài và
việc quan trọng đó là sau khi Assad sụp đổ, chính quyền
chuyển tiếp nào sẽ cai quản kho vũ khí này. Nếu vũ khí hóa
học lọt vào những tổ chức khủng bố, thì là một đe dọa
to lớn cho thế giới nhất là những nước lân cận, trong đó
có Nga.

Sự đối đầu Mỹ – Trung qua vấn đề kinh tế và biển
Đông Nam Á. Ngày hôm nay, trước sự kiện Trung cộng là cường
quốc kinh tế thứ nhì thế giới nếu tính theo tổng sản
lượng với hơn 7 000 tỷ $ một năm, là chủ nợ của Hoa kỳ,
Hoa kỳ nợ Trung cộng khoảng 1 200 tỷ, là cường quốc xuất
cảng lớn nhất thế giới, trước sự kiện trục kinh tế thế
giới hướng về châu Á Thái bình dương, trước sự kiện Trung
cộng đưa ra chính sách ngoại giao hàng hải với "Đường
lưỡi bò", đòi kiểm soát cả vùng biển Đông, nhiều người
nghĩ rằng chiến tranh Lạnh không những còn tồn tại giữa
Trung Cộng và Hoa kỳ, mà còn đi xa hơn nữa, cho rằng chỉ trong
vòng mấy chục năm nữa kinh tế Trung cộng bằng kinh tế Hoa
Kỳ về tổng sản lượng, thì cán cân Chiến tranh Lạnh sẽ
ngả về phía Trung cộng<b><i>.</i></b>

Thực ra nói chiến tranh lạnh vẫn còn giữa Hoa kỳ và Trung
cộng, và về sau này sẽ ngả phần thắng về Trung Cộng là
nói hơi quá. Đây là quan điểm của những người cho rằng kinh
tế quyết định tất cả. Đành rằng kinh tế rất quan trọng,
nhưng nó chỉ là điều kiện ắt có để tạo thành một
cường quốc, chứ không phải gồm cả yếu tố đủ.

Chúng ta lấy những thí dụ lịch sử, ngay của nước Tàu để
chứng minh là vào giữa thế kỷ thứ 18 (1750), tổng sản
lượng nước Tàu chiếm 32,8 % tổng sản lượng thế giới,
tiếp theo đến đầu thế kỷ 19 (1800), là 33,3 %, đến giữa
thế kỷ 19 (1830) vẫn còn là 29,8 %, thế mà vào giữa thế kỷ
này, nước Tàu bị liệt cường xâu xé, trong đó có nước
Nhật với tổng sản lượng là 2,8 % và nước Nga với 5,6 %.
(Theo Paul Kennedy – The Rise and Fall of the Great Powers – trang 190
– nhà xuất bản Fontana Press – 1988).

Đấy là về vấn đề kinh tế, còn vấn đề quân sự và
ngoại giao thì sao?

Về vấn đề quân sự ngoại giao, người ta có thể nói Trung
cộng hiện nay chưa có thể so sánh với Liên Sô thời Chiến
tranh Lạnh và xa hơn nữa với nước Nhật thời Đệ Nhị thế
Chiến. Thật vậy, về ngoại giao, Trung cộng không khôn khéo và
xảo quyệt bằng Liên Sô thời Staline. Bằng cớ là về đường
lối "Đường lưỡi bò", Trung cộng đưa ra nhưng không tính
trước, tính sau, vẫn giữ thái độ của "Thiên triều "
thuở nào, không dè được phản ứng của các nước lân bang,
không đo được phản ứng của Hoa Kỳ, kết cục Trung cộng
chỉ tự cô lập mình, gây thù với tất cả những nước chung
quanh. Trung cộng không tiên đoán được rằng, một khi trục
kinh tế thế giới hướng về châu Á Thái Bình Dương, thì
biển Đông đóng một vai trò quan trọng, vì trong kinh tế, vấn
đề vận chuyển là quan trọng, mà trong đó vận chuyển hàng
hải giữ 80%. Không thể nào thế giới nói chung và nhất là
các cường quốc như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức có thể khoanh tay
chấp nhận sự kiện Trung cộng khống chế biển Đông, kiểm
soát đường vận chuyển quan trọng của thế giới.

Về quân sự, theo con số chính thức thì ngân sách quốc phòng
của Trung cộng là 100 tỷ $, con số bán chính thức là 150 tỷ,
đứng thứ nhì thế giới chỉ sau Hoa Kỳ, hơn cả Nga. Nhưng
chúng ta cũng không thể chỉ dựa vào con số này mà suy đoán
quá xa. Tình trạng về hải quân Trung cộng còn thua Liên Sô
thời Chiến tranh Lạnh và thua Nhật thời Đệ Nhị thế Chiến.
Trong khuôn khổ bài này tôi không thể đi sâu vào chi tiết, tôi
chỉ xin nêu ra một vài thí dụ điển hình: về tàu ngầm và
hàng không mẫu hạm, tự mình đóng thì Trung cộng đang tiến
hành, tốt xấu ra sao, thì chưa rõ; nhưng những tàu ngầm và
hàng không mẫu hạm đang dùng là mua của Nga. Riêng về hàng
không mẫu hạm đầu tiên mang tên Thi Lang đang hoạt động, thì
đây là hàng không mẫu hạm mua của nước Ukhraine. Sau khi đế
quốc cộng sản Liên Sô sụp đổ, những nước chung quanh Nga
trở nên độc lập, trong đó có Ukhraine, được Nga chia phần
gia tài về quân sự, và đã cho Ukhraine một chiếc hàng không
mẫu hạm do Nga đóng, nhưng có một số nhược điểm về kỹ
thuật. Vì điểm này và để duy trì một chiếc hàng không mẫu
hạm rất là tốn kém, nên Ukhraine đã rao bán. Trung Cộng mua
với giá khoảng 12 triệu $, nhưng không dưới dạng quôc gia –
quốc gia, về quân sự, mà dưới dạng dân sự, do hai sòng bài
của Macao, nhưng đứng đằng sau là chính phủ Trung cộng, mua,
nói rằng là để làm sòng bài nổi. Một khi mua rồi, Trung
cộng sửa thành hàng không mẫu hạm quân sự. Nhưng mục đích
chính của hàng không mẫu hạm quân sự là một sân bay, để
những máy bay quân sự đáp xuống và cất cánh khi cần, để
tấn công địch thủ. Tuy nhiên cho tới giờ này, theo tin tức
đáng tin cậy, thì vấn đề hạ cánh máy bay của hàng không
mẫu hạm này của Trung cộng vẫn còn là một vấn đề khó
khăn. Ở điểm này, ta có thể nói Trung cộng còn thua ngay cả
Nhật vào thời Đệ Nhị Thế Chiến. Vào thời đó hàng không
mẫu hạm Nhật không thua gì Hoa Kỳ.

Gần đây Nhật và ngay cả Ấn độ, mỗi nước cho hạ thủy
một hàng không mẫu hạm, do tự mình đóng để cảnh báo Trung
cộng, rằng về hải quân, chúng tôi không thua kém mà còn hơn
anh. Bởi lẽ đó cho rằng có Chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kỳ và
Trung cộng thì cũng hơi quá đáng. Đồng ý là có sự căng
thẳng.

Nhưng cũng có ý kiến cho rằng cộng sản – tư bản chung
sống hòa bình.

Nếu nhìn vào hiện tình xã hội, kinh tế của 2 nước Trung
cộng và Việt Nam thì người ta thấy không có gì là cộng
sản, mà là "tư bản hơn tư bản", người dân nhắm mắt
chạy theo lợi nhuận, không còn e dè, nể nang một cái gì, ngay
cả việc dối trá, lừa kọc, làm hàng giả, sao chép trái phép,
đi đến chỗ giết người như vụ sữa Mélanine ở Trung cộng,
đầu độc cả trăm ngàn trẻ em. Nhiều người cho rằng Trung
cộng và Việt Nam không còn là cộng sản nữa khi bước chân
xuống Bắc Kinh, Thượng hải hay Sài Gòn, Hà Nội với những
cửa hàng ngoại quốc và những ngôi nhà chọc trời, đây chỉ
là cái nhìn hời hợt bề ngoài, hay là luận điệu đưa ra bởi
giới cầm quyền cộng sản để che dấu cái đuôi cộng sản
của mình.

Nếu xét kỹ, chúng ta thấy hiến pháp của hai nước vẫn ghi
rõ lấy triết lý Mác Lê và tư tưởng Mao hay Hồ làm nền
tảng. Về chính trị ở hai nước vẫn là độc khuynh, độc
đảng, độc tài, vẫn tiếp tục đàn áp dân, vẫn là cộng
sản. Sau này có thêm tư tưởng của Đặng tiểu Bình, "Kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Đây
chỉ là một cách chơi chữ, vì đã là kinh tế thị trường,
thì không có định hướng xã hội chủ nghĩa, vì kinh tế xã
hội chủ nghĩa là kinh tế nhà nước, không tôn trọng quyền
tư hữu, kinh tế thị trường là kinh tế tư nhân, tôn trọng
quyền tư hữu. Cho rằng, thời họ Đặng, kinh tế Trung cộng
không còn ở trong tay nhà nước là không đúng hoàn toàn, vì
kinh tế được phép lọt vào tay Tám Đại Gia, sau đó là con
ông cháu cha của những người đang nắm quyền nhà nước.

Tám Đại Gia đó là:

Đặng tiểu Bình, người nói câu: "Mèo trắng hay mèo đen ;
miễn là mèo bắt chuột. "

Tướng Vương Chấn (Wang zhen), người đã lo lương thực cho
quân đội của Mao.

Trần Vân (Chen Yun), người phụ trách kế hoặch kinh tế khi Mao
lên nắm quyền 1949.

Lý Tiên Niệm (Li Xiannian), người cốt cán trong mưu đồ làm
kết thúc Cách mạng Văn hóa.

Bành Chân (Peng Zhen), người xây dựng lại hệ thống luật
pháp Trung cộng sau 1980.

Tống Nhậm Cùng (Song Renqion), Trưởng ban tố chức đảng,
người giám sát việc phục hồi các cán bộ bị thanh trừng,
sau Cách mạng Văn hóa.

Dương Thượng Côn (Yang Shangkun), người ủng hộ mạnh nhất
Đặng tiểu Bình trong việc đàn áp Thiên an Môn 1989.

Bạc Nhất Ba, cựu Phó Thủ tướng, và là công thần chết
cuối cùng ở tuổi 98, vào năm 2007. (Theo Bloomberg).

Ngày hôm nay, tới đời con, đời cháu, Tám Đại Gia này trở
thành 80 Đại Gia, thực ra là 103 Đại Gia. Trong lúc 8 Đại Công
thần này phỉ báng chủ nghĩa cá nhân tư sản của các nước
tư bản, thì gần một nửa con cháu của họ sống, học tập
hoặc làm việc ở nước ngoài, một số ở Hoa Kỳ, Úc, Anh và
Pháp. Hoa Kỳ, nước thiết lập ngoại giao với Trung cộng năm
1979, là điểm tới hàng đầu của con ông cháu cha, nhất là
của nhóm Đại công thần. Trong số 8 người thì 3 người có
con cháu học ở đại học Harvard, 4 người ở đại học
Stanford; đó là 2 đại học nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ, theo
như bảng xếp hạng của đại học Thượng Hải năm 2013. Ngoài
ra còn rất nhiều người theo học ở những đại học khác.

Theo dữ kiện của Bloomberg cho biết: Có 26 hậu duệ của các
Đại Công thần nắm giữ các chức vụ hàng đầu trong các
công ty nhà nước thống trị nền kinh tế.

Vào đời con, chỉ riêng 3 người con – con trai tướng Vương
Chấn, ông Vương Quân, con rể Đặng Tiểu Bình, ông Hà Bình (He
Ping) và ông Trần Nguyên, con trai Trần Vân; 3 người con này
đứng đầu điều hành các công ty sở hữu nhà nước với tài
sản cộng chung khoảng gần 2000 tỷ $, gần bằng 1/3 tổng sản
lượng quốc gia. Ngày hôm nay tới đời cháu, trở thành 103
Đại Gia, trong đó có 43 người điều hành những doanh nghiệp
riêng hoặc trở thành giám đốc điều hành trong các công ty tư
nhân. <em>"Có ít nhất 18 người con cháu các Đại công thần
làm việc ở những hãng xưởng lớn Hoa kỳ, nhất là trong
ngành kinh tế tài chính."</em> (Vẫn theo Bloomberg).

Từ những dữ kiện trên có người cho rằng <em>"Tư bản và
cộng sản ngày hôm nay chung sống hòa bình"</em>. Nhưng có
người ngược lại nghĩ là vẫn còn đấu tranh tư bản –
cộng sản, Chiến tranh Lạnh vẫn tiếp diễn, ít nhất là giữa
Hoa Kỳ và Trung cộng cùng với Việt Nam. Họ đưa ra những lý
lẽ sau:

Chiến tranh Lạnh ngày hôm nay không diễn ra dưới hình thức
tư bản – cộng sản, mà diễn ra dưới hình thức chiến tranh
giữa 2 mô hình tổ chức nhân xã: một bên là mô hình tổ
chức nhân xã dân chủ tự do và kinh tế thị trường, một bên
là mô hình tổ chức nhân xã độc tài phát xít quân phiệt và
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thực vậy, vào thời kỳ sắp chấm dứt Chiến tranh Lạnh Mỹ
– Liên Sô cuối thập niên 80 đầu 90, ông Francis Fukuyama, một
người Mỹ gốc Nhật bản, đã viết quyển sách nổi tiếng
"La Fin de l'Histoire et le dernier Homme" (Sự Kết thúc Lịch
sử và Con người cuối cùng), (Bản dịch tiếng Pháp – do nhà
xuất bản Flammarion, ấn hành năm 1992), đây là một quyển sách
nổi tiếng vào thời ấy, nó là đường lối đấu tranh của
nhóm Tân bảo thủ Hoa Kỳ, theo đó lịch sử nhân loại không
phải là lịch sử của những biến cố, mà là lịch sử của
tiến trình tổ chức xã hội của loài người đi từ tổ chức
thô sơ gia tộc cho tới bộ lạc, qua quân chủ phong kiến tới
độc tài phát xít, cộng sản và kết thúc ở mô hình tổ
chức nhân xã dân chủ, tự do và kinh tế thị trường.

Mô hình này đã chiến thắng mô hình phát xít, đang chiến
thắng mô hình cộng sản (vào thời điểm cuối những năm của
thập niên 80), và phải được coi là mô hình tổ chức nhân xã
cuối cùng của nhân loại.

Con người cuối cùng là con người của mô hình tổ chức này.

Tư tưởng của Fukuyama đã được Trường phái Tân Bảo thủ
theo và áp dụng trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Georges
Bush (con) (2 000 – 2 004), với những người đi theo mà có thể
nói bắt đầu bằng tổng thống, phó tổng thống, bộ trưởng
quốc phòng, và thứ trưởng quốc phòng Paul Wolfowick, người
làm ra Chiến lược Tiên hạ thủ vi cường, theo đó, vì chống
khủng bố, vì lý tưởng tự do dân chủ, Hoa kỳ phải hành
động mau lẹ trên thế giới, ngay cả hành động một mình,
đã đưa đến việc đổ bổ vào A phú Hãn và đánh Irak. Ông
Bush đã tuyên bố " Kẻ nào không là bạn ta, thì là kẻ thù
của ta ».

Tuy nhiêm qua kinh nghiệm, ngay chính Fukuyama cũng nhận thấy về
tự do dân chủ, phải thực hiện từng bước một và phải
để ý đến hoàn cảnh địa lý, lịch sử, tâm lý của từng
dân tộc một.

Từ đó nghĩ rằng giới lãnh đạo Hoa kỳ từ bỏ lý tưởng
cao đẹp của mình là đi truyền bá mô hình tổ chức nhân xã
của Hoa Kỳ trên thế giới, thì không đúng. Với Đảng Dân
chủ, đặc biệt với Obama, việc thực hiện này diễn ra dưới
hình thức chính trị, kinh tế nhiều hơn.

Giới lãnh đạo và trí thức Hoa kỳ, họ không nói ra, nhưng
họ luôn nghĩ rằng cuộc chiến giữa 2 mô hình tổ chức này
vẫn tiếp diễn, vì nhiều lý do: Lý do thứ nhất là họ không
bao giờ từ bỏ mô hình tổ chức nhân xã của họ, vì họ
biết rằng, qua lịch sử đã chứng minh, không những nó giúp
họ làm cho đất nước phát triển hài hòa, giúp cho một quốc
gia mang nhiều chủng tộc, màu da khác nhau, nhưng vẫn có thể
đoàn kết, để thăng tiến. Lý do thứ nhì là chừng nào còn
độc tài, dưới hình thức này hay hình thức khác, độc tài
cộng sản hay độc tài phát xít, quân phiệt, thì vẫn có sự
kình chống giữ 2 mô hình này. Và lý do thứ ba đó là thực
tế hiển nhiên, những người, những nhà lãnh đạo theo mô
hình tổ chức nhân xã độc tài và kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, miệng rao rác sự ưu việt
của mô hình này, nhưng thực tế là hoàn toàn làm trái lại,
bằng cớ mà giới lãnh đạo và trí thức Hoa kỳ họ biết
rất rõ, đó là hàng năm số tiền các đại gia, con ông cháu
cha, người trong Trung ương đảng và Bộ chính trị gửi sang Hoa
kỳ càng ngày càng tăng. Việc này đúng với Trung cộng và
Việt Nam: số con em các ông lớn muốn sang Hoa Kỳ du học, đã
ghi tên là gần 200 000 người, hiện đang du học là 50 000, đó
là Trung Cộng. Việt nam thì số con em, con ông cháu cha, những
đại gia là gần 50 000 người ghi tên, hiện là 15 000 người
đang du học. Nếu họ nghĩ rằng mô hình tổ chức nhân xã của
họ tốt đẹp, thì tại sao chính họ, con cháu họ lại bỏ
nước ra đi. Vào năm 2012, theo một cuộc thăm dò « chui « của
tờ Hoàn cầu thời báo, thì 63% dân số Trung cộng mong muốn
thể chế dân chủ như kiểu tây phương ở xứ họ. Cũng trong
năm này, trước khi thăm viếng một số nước Đông Nam Á, để
xác nhận lập trường Hoa Kỳ sẽ trở lại Châu Á Thái bình
dương, bà Ngoại trưởng Hilary Clinton có tuyên bố: « Trung
cộng sẽ sụp đổ. Họ đang lo lắng và họ định ngăn chặn
lịch sử. Đó là việc làm vô ích, họ không thể làm được
điều đó. Nhưng họ đang cố duy trì, kìm hãm càng lâu như có
thể… Họ đang làm trò cười."

Cuộc tranh hùng Mỹ Trung, ai sẽ thắng ai ?

Chúng ta không cần lý luận dài dòng, tìm lý do sâu xa, chúng ta
chỉ cần dùng một hình ảnh dễ hiểu, đó là chúng ta có thể
so sánh một chế độ như một cái cây, những người lãnh
đạo và con cháu là những người đứng dưới gốc cây,
hưởng bóng mát của nó; nhưng thay vì mang đất ở ngoài vun
vào gốc cây, lại đào đất ở gốc cây thảy ra ngoài, bằng
cách gửi tiền, cho con cháu ra học nước ngoài rồi không về,
thì sớm muộn cái cây sẽ trốc gốc. Vì vậy chế độ Trung
cộng và Việt Nam, hay nói khác đi mô hình tổ chức nhân xã
độc tài, độc khuynh, độc đảng, với nền kinh tế mâu
thuẫn, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, sẽ sớm ngày sụp đổ. Sụp đổ không vì ai đánh mà
chính là người của chế độ, con cháu của chế độ.

Nói như ông Lê xuân Tá, cựu Phó Chủ tịch Ủy Ban khoa học
và Kỹ thuật Đảng Cộng sản Việt nam, sau đó bỏ đảng, vào
những năm 90:

« Sự ngu dốt và sự thấp hèn, tự nó không đáng trách và
không làm nên tội ác. Nhưng sự ngu dốt và thấp hèn mà
được được trao quyền lực và được cấy vào vi trùng ghen
tỵ, thì nó trở thành quỷ nhập tràng. Và con quỷ này, nó ý
thức rất sớm và rất rõ rằng cái đe dọa quyền và lợi
của nó chính là sự hiểu biết, văn hóa và văn minh. Nên nó
đã đánh những thứ này một cách tàn bạo, vô nhân đạo và
không thương tiếc. Cách mạng Hồng vệ binh ở bên Tàu là
thế, vụ Nhân văn Giai phẩm ở Việt Nam là vậy ». « Tuy nhiên
vì nó là ngu dốt và thấp hèn, nên những thứ này lâu ngày
đã trở thành sỏi thận, sỏi mật, sơ gan, cổ chướng, trong
lục phủ ngũ tạng của chế độ, làm cho chế độ này không
ai đánh mà tự chết «. (1)

Câu trên cũng chỉ đúng một phần, vì nhìn vào lịch sử nhân
lọai, những chế độ, triều đại sụp đổ là tự mình làm
mình sụp đổ trước, rồi cũng phải có sức mạnh bên ngoài
làm sụp đổ sau. Như đế quốc cộng sản Liên sô gần đây,
tự mình làm yếu mình trước, vì đi theo triết lý Mác Lê,
phản tự nhiên, phản kinh tế, lại đua đòi chạy đua vũ trang,
đòi thắng tư bản, sau đó Hoa kỳ mới tiếp tay làm sụp đổ.

Ngày hôm nay, Trung cộng và Việt Nam, vẫn còn giữ căn bẳn
triết lý Mác Lê, như hiến pháp của 2 nước này qui định,
chỉ thêm « kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa « là một nghịch lý, đi theo chủ nghĩa tư bản một
cách rừng rú, không luật lệ, làm hàng giả, sao chép trái
phép, cạnh tranh bất chính, thêm vào đó, một số dân, trí
thức và lãnh đạo vẫn đi theo duy vật chủ nghĩa, ở chỗ
thấp hèn nhất, không coi trong trọng đạo đức, giá trị tinh
thần, đưa đến chỗ làm bất cứ chuyện gì, kể cả bán
nước, đầu độc nhân dân, để có « vật chất «, có tiền,
« Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng. Quan trọng là nó bắt
chuột «. Chính vì vậy mà xã hội Trung cộng và Việt Nam
xuống cấp trầm trọng về giá trị tinh thần. Đó là lý do
nội tại, tự mình làm mình yếu trước. Yếu đây không chỉ
có nghĩa là yếu về kinh tế, mà yếu về đủ mọi mặt.

Lý do ngoại tại, đó là một sức mạnh bên ngoài tới làm
sụp đổ sau. Đây chỉ có thể là Hoa kỳ, vì tự nguyên tắc
hai mô hình tổ chức xã hội, một bên là dân chủ tự do, kinh
tế thị trường, bên kia là độc khuynh, độc đảng, kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong bản
chất đã kình chống nhau. Chúng ta có thể nói đây là Chiến
tranh Lạnh, dưới một dạng khác.

Nói như vậy, không có nghĩa là những người dân Trung cộng
và Việt Nam, đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền khoanh tay
ngồi chờ. Hãy cố gắng đấu tranh mạnh hơn, để thúc đẩy
mạnh tiến trình dân chủ hóa cho quê hương, để bắt kịp đà
tiến bộ của nhân loại là đa khuynh, đa đảng, tôn trọng dân
chủ, tôn trọng nhân quyền.

<em> Paris ngày 17/10/2013</em>

<strong> Chu Chi Nam</strong>

(1) Xin xem thêm những bài về Marx, Việt Nam và Trung cộng,
trên: <a
href="http://perso.orange.fr/chuchinam/">http://perso.orange.fr/chuchinam/</a>


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20131021/chu-chi-nam-phai-chang-chien-tranh-lanh-da-cham-dut),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét