Vương Trí Nhàn - Công việc viết văn nhìn dưới góc độ nghề nghiệp

<em>Bài in lần đầu trên tạp chí </u></i><u>Sông Hương,1990
</u></em>

<strong>Từ sau 1945, một kiểu người viết văn đã hình thành
với chỗ mạnh chỗ yếu của họ. Bài viết không có tham vọng
trình bày vấn đề một cách toàn diện, mà chỉ đi vào một
số khía cạnh:

- Nên nghĩ sao để đưa công việc viết văn thành một hoạt
động nghề nghiệp thực thụ.

- Nên lo sao để trau dồi bản lĩnh người viết và hình thành
nên những trí thức có cốt cách vững vàng.

- Nên đánh giá sao để mức độ quan liêu hoá, từ đó dần
tìm cách giải thoát khỏi căn bệnh ác độc đó.</strong>


<strong>I</strong>

Theo nhiều người kể lại, trước Cách mạng, nhà văn Nguyễn
Tuân có lần bị ra toà. Khi người ta hỏi ông nghề nghiệp gì,
ông trả lời viết văn thì viên thư lại liền ghi: vô nghề
nghiệp.

Mẩu giai thoại này thường được dẫn ra để ngụ ý là
trước Cách mạng, nghề viết văn rất bị xem thường. Nhưng
theo chúng tôi tìm hiểu thì mặc dù bị thành kiến như vậy,
bấy giờ viết văn đã là một nghề với nghĩa:

a. Có những người coi viết văn như một công việc làm đều
đều để kiếm sống nuôi mình và vợ con mình bằng chính
nghề đó, không cần một thứ phụ cấp nào khác.

b. Trình độ nghề nghiệp của người viết khá ổn định. Ai
chỉ có năng khiếu mà không hết lòng với nghề, sớm bị đào
thải. Ngược lại những người theo đuổi nghề nhiều năm là
những người chuyên sâu, có trình độ tay nghề cao.

Khi tôi hỏi nhà văn Tô Hoài trước Cách mạng trong vòng có
mấy năm 1941 - 1944… sao ông viết được nhiều thế, ông
thường trả lời đại ý: Tình hình làm nghề lúc ấy nó đòi
hỏi như vậy.

Không có <i>mặt hàng riêng</i> anh không sống được (mặt
hàng riêng, ở đây ý nói đề tài riêng, phong cách riêng).

Có mặt hàng riêng rồi, lại phải viết đều, viết khoẻ
nữa.

Có điều lạ là đến bây giờ đọc lại nhiều tác phẩm
của Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài lúc ấy, những tác phẩm mà
đôi khi các ông kể là phải viết vội để mang bán lấy tiền
khi vợ đau, con ốm v.v… còn thấy có giá trị, điều đó chỉ
chứng tỏ ngòi bút của các ông đã đạt đến độ chín cần
thiết.

Mặc dù nước ta bấy giờ là một nước thuộc địa, nhưng
những ảnh hưởng của thế giới vẫn dội vào đều đều và
văn học ta từ 1925 đến 1945 đã trải qua những giai đoạn
phát triển tiêu biểu thường thấy ở nhiều nền văn học
khác, kể cả so với các nước Đông Nam Á gần cận.

Từ sau Cách mạng, khi nói về nghề viết văn, chúng ta
thường hay nói đây là một công tác cách mạng mà không xem
như một nghề kiếm sống.

Đại khái thấy có ai có năng khiếu viết lách một chút là
các cơ quan báo chí xuất bản liền kéo về làm các công việc
kề cận với sáng tác, như phóng viên, biên tập viên.

Rồi dần dần, trong những trường hợp đặc cách mà chủ
yếu dành cho các ngòi bút cao niên, -- một số nhỏ tách ra
thành sáng tác chuyên nghiệp, không phải làm gì cụ thể mà
vẫn được hưởng đều đều, lên lương đều đều, việc
xếp lương và lên lương này dựa vào thâm niên tham gia cách
mạng chứ không phải chất lượng sáng tác.

Còn nhuận bút chỉ là chuyện phụ, thêm thắt vào cho đỡ
tủi, cả người trả lẫn người nhận đều hiểu không ai
sống bằng nhuận bút, thôi Nhà nước đã quy định vậy, thì
ta cũng theo vậy.

Nói gọn lại là đến nay, chúng ta chỉ có những cán bộ
viết văn chứ không có những người viết văn sống bằng
nghề nghiệp của mình.
Và về căn bản, Hội nhà văn là một thứ hội của phong trào
chứ không phải hội của những cây bút chuyên nghiệp.

Phong trào có cái cần của nó. Và đây là điều mà những ai
mới vào nghề vào những năm chiến tranh như bọn tôi thường
được răn dạy: hãy nhớ mình từ phong trào mà trưởng thành
lên, không được tách rời cơ sở v.v… và v.v….

Nhưng đánh giá văn học một nước không bao giờ người ta
dừng ở phong trào mà phải xem trình độ chuyên nghiệp hoá
đến đâu, tức là xem cách đào tạo những cây bút tiêu biểu
sống cả đời bằng nghề viết và trình độ những cây bút
tiêu biểu đó so với các thời đại trước và so với trình
độ ở các nước khác.

Xét theo nhu cầu chuyên nghiệp hóa quả thấy có nhiều điểm
đáng lo ngại.

Hàng năm, rồi vài năm một lần, Hội lại kiểm điểm xem
đã phát hiện được bao nhiêu cây bút mới, đã giúp cho phong
trào tỉnh nọ tỉnh kia ra sao. Còn số phận các cây bút hôm qua
đã phát hiện đó như thế nào, họ có khả năng trở thành
những nhà văn chững chạc không thì không cần biết.

Do đẻ giỏi mà nuôi kém, đẻ tràn lan, cốt lấy thành tích,
mà không chú trọng bồi dưỡng tiếp tục, không mở ra con
đường chọn lọc tự nhiên thông qua đào thải nên đã nảy
sinh những hiện tượng rất lạ, phải nói là những hiện
tượng kỳ cục, quái gở.

Có những người chỉ ngẫu nhiên có được một số sáng tác
đột xuất cũng được chuyên nghiệp hoá, rồi sau cứ lẽo
đẽo theo đuổi mãi với nghề, song không bao giờ viết được
cái gì khá hơn những cái ban đầu kia nữa.

Hoặc có những người có năng khiếu, phải nói là rất có
năng khiếu nữa, giá ở trong một hoàn cảnh tốt, có thể trở
thành một cây bút làm nghề thuần thục, đằng này ngược
lại, sau một hai tác phẩm đầu, sinh ta lười lĩnh, làm dối
làm ẩu, sống bằng cái uy danh sẵn có của tác phẩm đầu tay
mà không biết rằng nhà văn là <i>kẻ đời đời khởi
nghiệp</i>, cuộc đời người viết chỉ có nghĩa ở chỗ luôn
luôn là những cuộc làm lại từ đầu.

Do không có cạnh tranh, cũng như không có sự bắt buộc nhà
văn để anh ta luôn luôn làm mới mình, chinh phục lại độc
giả… nên số người viết khoẻ, đều tay, cái sau hơn cái
trước, số đó rất nhiều.

Tô Hoài thường dặn dò một số anh em viết lớp sau chúng
tôi là nên nhớ cái nghiệp nhà văn An Nam ta nó mỏng lắm.

Khó tìm được thấy người viết quyển nào cũng hay.

Đã có những người tuyên bố viết những bộ sách vài ba
tập, nhưng thường thường là chỉ được tập đầu, còn các
tập sau chả ra gì.

Thậm chí, trong một cuốn sách cũng có hiện tượng xôi đỗ,
chương được, chương không.

Nhắc lại ý kiến đó của tác giả Dế mèn, phải thấy
đấy là một điều đáng xấu hổ, không phải cho riêng ai, mà
cho cả giới.

Lại cũng rất đáng báo động là trình độ nghề nghiệp
của người viết hiện nay rất thấp.

Đã đành viết văn là công việc của tâm huyết, của tư
tưởng, nhưng trong nghề vẫn có những cái thuộc về kỹ
thuật viết, những biểu hiện cụ thể của tư duy nghệ
thuật, nó là dấu hiệu khiến cho đọc văn của thế kỷ này
thấy khác hẳn với văn của thế kỷ khác.

Với những ai không cho rằng có kỹ thuật viết văn, chúng
tôi xin phép dừng lại ở đây, vì tranh luận về việc đó
đòi hỏi rất nhiều giấy mực.

Riêng với những ai công nhận là có kỹ thuật viết, tôi
nghĩ các bạn đó cũng dễ nhận ra là kỹ thuật viết của
chúng ta hiện nay - đặc biệt là trong văn xuôi -- rất cổ lỗ.

Cũng như nhiều ngành nghệ thuật khác, văn học ta hoàn toàn
đứng ngoài mà không dây dưa gì đến những trào lưu chung của
thế giới trong cái thế kỷ chúng ta đang sống.

Khắc phục sự lạc hậu ấy trong hành nghề phải có thời
gian, phải có chuẩn bị, nhưng nên nhớ đó là một trong những
việc phải làm để đưa việc viết văn trở nên nghề nghiệp
thực thụ. Và suy cho cùng, việc đào tạo những cây bút làm
nghề thực thụ là cách tốt nhất để củng cố cái phong trào
mà xã hội đòi hỏi.

Từ các cây bút có trình độ hành nghề hiện đại, chúng ta
mới có cơ hình thành những tài năng có tầm cỡ, những nhà
văn đi ra thế giới bằng sáng tác của mình chứ không phải
chỉ được đón tiếp như một nhà văn Việt Nam nói chung,
điều mà nhiều nhà văn như Tế Hanh Nguyễn Minh Châu …trong khi
nói chuyện riêng với chúng tôi, từng than tiếc.
Và những ai có lương tâm đều thấy đúng.

<strong>II</strong>

Từ những người viết có năng khiếu tới những người
viết sống bằng nghề, có tay nghề hiện đại, đã có một
nấc thang; từ những người làm nghề thành thạo lo sao hình
thành nên những người có cốt cách trí thức, biết suy nghĩ
và trả lời cho những lo toan chung của dân tộc, của đất
nước, đấy lại là một nấc thang cao hơn, khó hơn.

Do sự biết điều đã ăn vào máu chúng ta (một thứ khiêm
tốn đồng nghĩa với cầu an, sợ sệt, không dám chịu trách
nhiệm, cốt sống yên thân qua ngày), giới cầm bút thường
lảng tránh câu chuyện này, cho là trình độ ta còn thấp, không
nên bàn.

Nhưng lảng mãi không được, cho nên xin phép khơi gợi lên ở
đây và mong được hưởng ứng với nghĩa: bàn đi, bàn đi,
rồi may ra có lúc chúng ta có thể làm, chứ không bao giờ bàn
thì chắc chắn không bao giờ làm nổi.

Đọc lịch sử văn học một nước có nhiều duyên nợ với
ta như nước Pháp, hẳn mọi người đều biết rằng ở đây,
thời đại nào cũng hình thành nên những nhà văn đồng thời
là những trí thức lớn của đất nước, những người viết
văn không có chức vụ gì trong chính quyền, nhưng luôn luôn là
những tiếng nói mạnh mẽ tham gia vào các việc lớn trong xã
hội.

Từ V. Huygo trở đi qua R. Rolland, A.France, H. Barbusse đến A.
Gide và J.P. Sartre, A. Camus và L.Aragon … các nhà văn ấy đồng
thời là những trí thức lớn.

Cốt cách trí thức toát ra qua tác phẩm của họ, ở đó có
cả truyền thống lâu dài mà nền văn hoá Pháp đã thu góp
được, cốt cách trí thức đó lại cô kết trong con người
của họ, bộc lộ ra qua cách ứng xử của họ.

Nhắc đến tên tuổi các nhà văn ấy có nghĩa là nhắc đến
một quyền lực, một uy tín. Đây cũng là chỉ số đánh dấu
sự phát triển rất cao của một nền văn học, cái trình độ
mà, ví dụ như, khi nhìn lại văn học Việt Nam trước Cách
mạng, chúng ta thấy là chưa đạt tới.

Theo chúng tôi hiểu, trước Cách mạng 1945 giới viết văn ở
nước ta mới chỉ có những người hành nghề giỏi mà chưa có
những trí thức với nghĩa tốt đẹp nhất của chữ ấy:
những giá trị tinh thần mà đến nhà nước cũng phải vì nể.

Thế còn vai trò người viết văn trong xã hội ta từ sau
8-1945?
Đây là một vấn đề lớn, liên quan đến lịch sử hình
thành và phát triển của trí thức Cách mạng nói chung.
Trong phạm vi hiểu biết còn hạn chế, chúng tôi chỉ muốn
nói một số điều liên quan đến sự định hướng mà lớp
người viết trẻ từ hồi chống Mỹ hay được nhắc nhở, ý
chúng muốn nói tới kiểu nhà văn mà bọn tôi được giáo dục
là phải cố mà noi theo.

Đối tượng phục vụ của nền văn học mới là nhân dân lao
động. Bản thân những người cầm bút trẻ phần lớn là con
em của nhân dân lao động trưởng thành lên.

Suốt mấy chục năm qua, đất nước lại luôn luôn bận rộn.

Do hoàn cảnh chiến tranh thúc bách, tận trong tâm khảm mọi
người viết, bao giờ cũng khắc khoải một điều: phục vụ
trước đã, tìm tòi làm chi vội, gắng viết làm sao để những
người mới thoát nạn mù chữ cũng hiểu, thế là quý rồi.

Bấy nhiêu lời dặn dò, điều tâm sự… là những yếu tố
tạo nên cả một khí hậu văn học, nếu có thể nói như vậy.

Chúng ta thường chỉ mới lưu ý tới ảnh hưởng của những
điều kiện đó tới kết quả về mặt sáng tác. Rằng văn
học ta sau 1945 mới chỉ có những tác phẩm lành mạnh phản
ánh một cách khiêm tốn những biến chuyển của cách mạng.
Rằng các nhà văn còn cần làm việc nhiều mới dần dần có
được những tác phẩm tương ứng với tầm vóc của lịch sử
v.v…. và v.v…

Tất cả những cái đó đều đúng, nhưng còn nhiều hệ luỵ
khác, nhất là những hệ luỵ cô kết thành nếp sống nếp
nghĩ, cái đó mới đáng lo.

Chẳng hạn, việc miêu tả đời sống một cách thô thiển
(chỉ dừng lại ở mức miêu tả mà không đào sâu vào làm
nổi bật ý nghĩa đời sống) ban đầu là một thực tế phải
chấp nhận, sau trở thành một thứ khuôn thước, không ai nghĩ
là nên làm khác.
"<i>Ở nước Việt Nam hôm nay, trẻ con làm văn nghị, người
lớn làm văn miêu tả</i>" - đấy là một câu tổng kết, mà
ngẫm ra thấy đúng và do đó, thấy rất đau xót.

Trong một bài báo viết trước khi mất, nhà văn Nguyễn Minh
Châu nhận xét: "Một thời gian có lẽ cũng khá dài, hoặc ngay
cả bây giờ, trong xã hội ta có một thứ quan niệm: làm nhà
văn chỉ cần viết câu cho gãy gọn, đúng văn phạm, khéo hơn
một chút nữa là viết cho dí dỏm…".

Ý ông muốn nói do quan niệm như thế, nên không bao giờ lớp
nhà văn trẻ trưởng thành nổi.

Nếu được gọi sự vật bằng tên của nó, thì theo chúng
tôi, quan niệm mà Nguyễn Minh Châu chỉ trích ở đây là quan
niệm tước đi cốt cách trí thức ở nhà văn.

Viết văn chỉ là một hành động tự phát, thấy đời đẹp
thì ngứa cổ hót chơi.

Mà ở thời đại này lịch sử đã quá nhiều kỳ tích, trong
nhân dân đã quá nhiều mẫu người đẹp, hào hùng, nên nhà
văn không cần suy nghĩ gì thêm, cứ ghi chép về họ cũng đủ.

Một quan niệm như thế đẻ ra <i>kiểu nhà văn có tính chất
nghệ nhân</i>, hoặc ca ngợi hoặc than vãn (khi thấy có một
số mặt tiêu cực như hiện nay thì than vãn) mà không bao giờ
hiểu bản chất đời sống.
Đó là loại nhà văn <i>giống như xẩm chợ</i>, thiên về nói
leo, phát biểu một thứ phản xạ tức thời và nông nổi
trước đời sống hơn là chiêm nghiệm suy nghĩ thành thế giới
nghệ thuật độc đáo của riêng mình.

Xẩm thì cũng cần, chắc có người nói thế, được công
nhận là xẩm tức cũng phải có năng khiếu, có lao động, và
như thế là được rồi!

Nhưng ở thời đại nào cũng vậy, điều mà đất nước và
nhân dân đòi hỏi là những nghệ sĩ hành nghề một cách tự
giác.

Ở những nghệ sĩ này, bên cạnh năng khiếu còn cần nhiều
phẩm chất khác: trình độ văn hoá (văn hoá theo nghĩa rộng,
chứ không phải bằng cấp của người đi học), khả năng vừa
đi vào đời sống vừa đơn độc suy nghĩ, thậm chí không
ngại dấn thân vào những khu vực thoạt nhìn tưởng là trừu
tượng siêu hình, nhưng nằm trong bản chất của sự sống,
những điều hình như không dây dưa gì đến đời thường,
nhưng một lúc nào đó, những người bình thường lại rất
cần.

Tóm lại cần tạo ra những nhân cách lớn, mà phần vốn
liếng tinh thần bao gồm cả quan sát thể nghiệm lẫn kiến
thức do sách vở mang lại, từ đó có thói quen sống làm việc
của một trí thức.

Chỉ những người như thế mới có khả năng vừa nói một
cách đầy đủ về đời sống, vừa nâng người đọc lên tầm
tư duy mới.

Đó cũng là những người dám lên tiếng về các vấn đề
lớn lao của nhân dân đất nước và khi cần, lấy uy tín danh
dự của mình ra, bảo đảm cho điều mình nói.

Cái cốt cách trí thức ấy cũng chính là tiền đề gốc,
để tạo ra những giá trị có tính chất nhân bản sâu sắc.

<i>Thiếu lý tưởng nghề nghiệp, thiếu cốt cách trí
thức</i>, đây có phải căn bệnh có thật của những người
viết văn hôm nay không, thậm chí nếu có thì nên gọi là bệnh
hay là quan điểm thực tiễn cần thiết, một điểm đáng tự
hào, xin các bạn đồng nghiệp cùng bàn.

Phần chúng tôi, xin thú thực là trước khi nêu ý kiến này,
đã phải phân vân rất nhiều, cầm bút viết ra mà cứ cảm
thấy ngần ngại.

Đúng là khi đã vào sâu nghề nghiệp, trong thâm tâm nhiều
người cũng thấy phải phấn đấu để tạo ra cốt cách cho
ngòi bút của mình, học thêm, trau dồi bản lĩnh thêm.

Tự đào luyện thành một trí thức chân chính, cái điều ấy
càng ngày càng hiện lên như một mơ ước.

Có điều trong những ngày gạo châu củi quế, văn hoá tiêu
dùng tràn lan này, cái chuyện đó xa vời quá, bàn tới không
được, nói ra e thành chuyện lạc lõng.

Nhưng có cái lạ ở những người viết văn là những nét tâm
lý đáng sợ sau đây: khi không thể làm, thì coi là việc không
cần làm.

Và nếu mình không làm được mà người khác có ý muốn làm
thì ra công khích bác, chế giễu.

-Thời buổi này còn nói chuyện trí thức ư? Cũ rồi, lỗi
thời rồi!

- Lại muốn chơi trội ư? Lại muốn theo kiểu thơ văn hũ nút
ư?….

Những lời châm chọc tương tự đã giết hại bao mầm mống
tốt đẹp ở những người toan đi vào con đường tự rèn
mình, những mong manh lại cho nghề văn một ý nghĩa cao quý như
một thiên chức tốt đẹp.

Ấy là không kể có những nhà văn nhà thơ đàn anh từng
được đào tạo kỹ càng, giờ vẫn chịu khó làm nghề, chịu
khó học hỏi, có thói quen làm việc của những trí thức,
nhưng đôi khi cũng vô tình hay cố ý hùa theo mọi người, bỉ
bác những tìm tòi học hỏi của các bạn trẻ.

Việc hùa theo một cách vô trách nhiệm này lâu ngày ở các
vị ấy trở thành một thứ thói quen nhắc đi nhắc lại không
biết nhàm chán đến mức người ta có thể tự hỏi: <i>hay là
các vị ấy có tri thức rồi thì không muốn ai có nữa, thậm
chí muốn nghề văn của ta càng lạc hậu càng tốt, nhân cách
anh em chung quanh càng kém đi thì nhân cách các vị ấy càng
đẹp đẽ hơn lên</i>. Dù là động cơ nào đi nữa thì lối
ứng xử này cũng rất nguy hiểm.

<strong>III</strong>

Không lo rèn luyện về mặt nghề nghiệp, không tự cảnh
tỉnh và hướng suy nghĩ vào cuộc tìm tòi hoàn thiện của
người trí thức, thế các nhà văn -- tôi không nói tất cả,
nhưng ngờ rằng không ít nhà văn ở ta - hướng năng lượng,
hướng nhiệt tình đời sống của mình vào đâu?

Xin thưa: hướng đi làm quan.

Câu trả lời nghe có vẻ lạ tai nhưng lại là sự thật mỗi
ngày mỗi hiển hiện rõ rệt.

Xưa kia, dưới thời phong kiến, nhiều nhà nho có tâm huyết
đã ra làm quan rồi, thậm chí đã hiển đạt lắm rồi,
thượng thư, tổng đốc hẳn hoi, nhưng vẫn canh cánh bên lòng
một nỗi buồn cảm thấy mình rơi vào vòng ô trọc, và dồn
cả tấc lòng mình vào những câu thơ tâm sự mà lúc viết ngỡ
rằng có thể không ai biết tới.

Trong lòng các ông quan ấy vẫn còn những thi sĩ chân chính.

Nay thì hình như mọi chuyện xảy ra theo chiều ngược lại,
người ta thích làm quan ngay trong giới của mình, một sự lạ
lùng, vậy mà, oái oăm thay, lại là điều có thật.

Trong bộ máy hành chính của ta, Hội nhà văn chỉ là một cơ
quan nhỏ, cỡ ngang một vụ, quyền lợi hình như không có gì
béo bở lắm. Tiền tiêu cho Hội hàng năm, đã có người nửa
đùa nửa thật mà dự đoán rằng không khéo chỉ xấp xỉ
tiền tiêu cho một đội bóng đá.

Nhưng như mấy câu thơ tức cảnh của Nguyễn Gia Thiều:

<i>Vẻ chi tèo teo cảnh</i>

<i>Thế mà cũng tang thương</i>

ở đây cũng vẫn có đủ những căn bệnh mà xã hội ta đang
có.

Cái ham muốn làm quan đó diễn ra dai dẳng hàng ngày lại càng
nồng nã quay cuồng trong lòng người ta trước những sự kiện
như một kỳ bổ nhiệm, một đợt đại hội.

"Lâu nay nhiều người chúng ta đến đại hội, điều đầu
tiên là xì xào xem ai vào chấp hành ".

Một nhận xét như thế không làm ai bận tâm vì nó là chuyện
đương nhiên. Sở dĩ người nào cũng ngong ngóng nhìn vào chỗ
ấy, vì quả thật, theo cách tổ chức như của chúng ta, một
chức vụ trong Hội bảo đảm cho người ta nhiều thứ lắm.

Một người phụ trách nếu biết tận dụng quyền lực sẽ
có thể in sách ào ào vì Hội có nhà xuất bản riêng. Sách ra
rồi sẽ có báo của Hội ca ngợi tâng bốc. Các hội đồng
thì đề nghị tặng thưởng. Các cơ quan đối ngoại thì gợi
ý Hội bạn nên dịch nên in…

Hồi còn bao cấp, quyền lợi lớn đến vậy đó. Về sau lại
lớn theo cách khác, lớn theo mức độ chi trả và những phụ
cấp đi kèm (phụ mà lớn gấp nhiều lần lương chính) !

Có thể so với "quan chức" ở các ngành khác, quyền lợi của
các "quan chức" trong giới cầm bút chả mùi mẽ gì!

Nhưng "quan chức" trong văn nghệ có cái thú là nhàn thân và
có một lớp vỏ rất đẹp đẽ.

Trong lúc làm "quan", người ta có thể tự an ủi: hình như ta
vẫn là người lao động cơ mà…

Do ta viết hay nên sách được tái bản và nước ngoài cho
dịch…

Họ không viết hay bằng ta nên họ tị nạnh…

Cái lý để tự biện hộ khéo léo đến như thế, thì sự
hấp dẫn của quyền lực chỉ càng thêm mạnh mẽ!

Cũng do chỗ được một hình thức màu mè che đậy, nên chủ
nghĩa quan liêu có nhiều biến dạng cụ thể, tạo nên một
sức quyến rũ kỳ lạ.

Người xưa nói tu tại gia, còn trong giới chúng ta có lối
vụ tiếng tăm nhất thời, thực chất cũng là làm quan mà lại
không có chức tước nào, chỉ có sự thiêng liêng của nghề
văn bị đánh tráo và bị lợi dụng.

Ở ta, danh nghĩa hội viên Hội nhà văn khá quan trọng, và đó
là một quan niệm được hình thành trong một thời gian vài
chục năm (lưu ý là thời tiền chiến vàng son với Tự Lực
văn đoàn và nhóm Tân Dân kéo dài chỉ hơn chục năm) -- nên
khá bền chắc trong lòng người.

Trong khi kiếm sống bằng nhiều nghề khác, nhiều người vẫn
tìm đủ cách để xin vào Hội, và hay oán thán rằng Hội không
mở rộng cửa đón mình.

--Lại cốt vào để dành quyền lợi, một ít tiền trợ cấp,
một suất vé đi tham quan, đi họp ở nước ngoài chứ gì?

Một số người khinh bạc dè bỉu.

Cái đó theo tôi có, nhưng không phải tất cả.

Công bằng mà nói, phải thấy nhiều người có động cơ trong
sáng, muốn vào Hội vì nghĩ rằng có xuất hội viên nghĩa là
tài năng được khẳng định, là có được một vị trí nghề
nghiệp vững chắc. Nhưng với tư cách là một hội viên vào
hội từ 1977, tôi cũng xin được phép thú nhận một suy nghĩ
khác:

Cái đích của việc viết văn cao đẹp hơn nhiều.

Sự công nhận của những người đương thời, kể cả những
người cùng giới, rất cần cho mình, nhưng suy cho cùng, vẫn
không phải là bảo đảm chăc chắn cho những gì mình đã và
sẽ viết ra.

Xưa nay, trong lịch sử, đã có bao nhiêu trường hợp một nhà
văn được người đương thời đưa lên tận mây xanh, sau không
ai biết tới nữa.

Vậy thì dù rất quý những lời động viên nhau, chúng ta
cũng nên nhìn sự đời nhẹ đi một chút, và chính các nhà văn
phải đi đầu trong việc này, thành thực, biết điều, thận
trọng.

Sở dĩ, một số anh em mới viết đôi khi cay cú với chuyện
vào hội vì chính các hội viên cũ đầu têu gây ra một thứ
danh hão.

Trong thâm tâm những hội viên ấy không khỏi cảm thấy (và
qua giọng nói tiếng cười cho người ta cảm thấy) mình là
một cái gì đã thành rồi, đã liệt hạng rồi, có ngạch có
bậc rồi.

Đây chính là chủ nghĩa quan liêu thông thường, một thứ
tâm lý quan liêu bắt rễ vào suy nghĩ trong số đông chúng ta.

Từ chỗ cần khẳng định vị trí và thành tựu của văn
học cách mạng, chúng ta đi dần tới chỗ khuếch đại đóng
góp của từng người. Tự chúng ta làm, rồi lại tự chúng ta
khen nhau, văn thơ chúng ta in trên báo chưa ráo mực nhiều khi
đã vào thẳng sách giáo khoa.

<i>Trong các sách văn học sử, chúng ta dành chỗ cho thời
hiện đại quá nhiều; dù cố ý hay vô tình thì cũng là cách
vĩnh viễn hoá những tên tuổi hiện thời, xếp mình và bè
bạn mình bên cạnh những đấng, những bậc kỳ cựu trong quá
khứ đã chịu nổi thử thách của thời gian. Đấy là một
thứ tự đầu độc rất có hại cho sáng tác</i>.

Sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu là một người lao động rất
cần cù, ngay khi tuổi đã cao, ông vẫn hàng ngày đánh vật
với trang giấy trắng, luôn luôn dốc sức làm những công việc
lâu dài mà khi có dịp xuất hiện trên báo chí cũng không bỏ
qua bao giờ.

Có điều, đối với nhiều anh em làm biên tập ở các báo,
nhà xuất bản, tức cánh ở trong bếp núc nghề văn như chúng
tôi, Xuân Diệu thường hiện ra với một chỗ yếu không thể
khắc phục, đó là ông rất sợ người ta quên mình, lâu không
mời ông viết là ông không bằng lòng, trong một "bảng vàng
danh dự" nào đó (nhiều khi chỉ là một danh sách đưa ra ngẫu
nhiên, trong một bài báo nhỏ) mà thiếu tên ông là ông cự
ngay.

Sự hiếu danh ở Xuân Diệu rất thành thực, khiến không ai
nỡ giận ông.

Chúng tôi cũng hiểu, trong đời tư, ông rất đơn độc, nên
luôn luôn cần được bù đắp, muốn mình luôn luôn sống với
văn học, sống với mọi người.

Song nghĩ đến việc một nhà thơ thuộc loại dẫn đầu cả
một nền thơ, mà luôn luôn sợ người ta quên, sợ người ta
xếp lầm chỗ mình như thế, chúng tôi cứ thấy có gì tội
nghiệp, lại cứ thấy tiếc cho ông.

Mặc dù đã có gan bỏ hết các chức tước để chỉ dồn
sức vào các trang viết, Xuân Diệu vẫn bị mấy chữ tiếng
thơm trói buộc, và điều đó đã kìm hãm ông, không cho phép
ông tập trung làm việc, nhất là không cho phép ông phiêu lưu
tìm kiếm, như nghề văn vốn đòi hỏi.

Trường hợp Xuân Diệu thật ra chỉ là một <i>ca</i> điển
hình, căn bệnh trên đây ít nhiều có trong mỗi chúng ta.

Do ảnh hưởng của một thứ chủ nghĩa tập thể thô thiển,
ta quan niệm rằng sự đánh giá của số đông về từng cá
nhân bao giờ cũng chính xác và nhất thành là bất biến, và
thuộc về lịch sử, ta đâm ra sợ hãi khi có vẻ <i>ra ngoài
thông lệ</i>, không theo lối nói, lối ứng xử của chung quanh
và chỉ hoàn toàn yên tâm khi thấy mình nói chung cũng giống
như mọi người, rồi trong khuôn khổ cái chung ấy, nhích
được một chút hơn mọi người thì hí hửng, sung sướng.

Cái tâm lý bầy đàn này - ở Liên Xô cũ người ta gọi như
thế - vốn đã đi ngược lại bản chất con người nói chung,
lại càng là không thể chấp nhận được với những ai làm
nghề sáng tạo, bởi nó không tạo được sự đơn độc tinh
thần vốn là cần thiết với những công việc lớn.

Để khắc phục chỗ yếu này, trước hết cần có sự cởi
mở về quan niệm.

Cái mới nào khi mới ra đời chẳng đơn độc, thậm chí là
thiểu số nữa. Nếu cứ lấy đa số ra mà áp đặt thì trong
nhiều trường hợp, không có được cái mới thực sự. Muốn
có được cái mới, chủ quan từng người phải có sự kiên
trì mà chung quanh phải có sự thông cảm.

Trong nền văn học ta sau Cách mạng, đã có những trường
hợp do người viết có được ngoan cường <i>chỉ là mình, dám
là mình</i>, mà một phong cách được hình thành. Đó là, chẳng
hạn, những trang văn xuôi của Nguyễn Khải, một cách nhìn
đời sống ban đầu bị bao người kêu là độc ác, tàn nhẫn,
nhưng khi quen rồi, lại cho là sắc sảo, biết phát hiện.

Đó là, chẳng hạn, thơ của Nguyễn Đình Thi, thứ thơ có
một thời bị mang ra phê bình cho là yếu đuối, xa lạ với
quần chúng (chúng tôi còn được nghe kể là có một câu phê
phán rất cô đọng "<i>Anh không khóc nhưng những chữ của anh
nó thút thít"</i>), nay đối với chúng ta lại là một thứ thơ
có chiều sâu nội tâm và một cách tân về giọng điệu trong
thơ.

Hoá ra, chưa nói đâu xa, ngay ở các bậc đàn anh hôm nay đang
viết, cũng đã có những bài học quý, các anh đã nêu gương
dũng cảm tìm tòi, đi ngược lại sự công nhận nhất thời
của số đông để tìm tới giá trị lâu dài hơn cho tác phẩm
của mình.

Tôi không rõ là tại sao các anh thường quên không dặn dò
lớp người sau dũng cảm, dám đơn độc tìm tòi, mà thường
chỉ nhắc chúng tôi là lắng nghe chung quanh, hoà hợp với phong
trào và khi xem xét các tác phẩm mới viết ra, các anh cũng chỉ
lấy sự công nhận của số đông ra làm tiêu chuẩn duy nhất
để đánh giá.

Trong một hoàn cảnh như thế, dĩ nhiên, cái tâm lý quan liêu
nói trên - thích danh tiếng, thích xác định "địa vị lâu dài"
trong văn học, hợm hĩnh một cách nông nổi - tha hồ lây lan
như một thứ dịch bệnh, đời sống văn học có lúc chỉ còn
cái vẻ nhộn nhịp bề ngoài mà thiếu sự âm thầm kiên nhẫn
tìm tòi.

Lấy cái nhất thời để đánh giá nhau hoặc chê bai nhau,
chúng ta tự làm yếu mình đi rất nhiều và đến khi làn sóng
văn hoá tiêu dùng lan tới, thì nhiều người bó gối quy hàng.

Trước khi mất, nhân chuyện Nguyễn Đình Thi đề nghị cấp
trên đừng phát động quần chúng đi vào đổi mới, Nguyễn
Minh Châu có nói với Nguyễn Đăng Mạnh: "Nhà văn mà sợ dân
chủ thì không thể hiểu được".

Mượn cách nói đó cũng có thể nói nhà văn mà <i>chỉ</i>
biết có tiếng thơm đương thời (tôi nhấn mạnh chữ
<i>chỉ</i>), mà <i>chỉ</i> đánh giá nhau theo số lượng trang
viết, số cuốn được làm khi in tuyển tập, số bài phê bình
tâng bốc và số tiền đút túi nhất là tiền ngoài sáng tác…
thì cũng không thể hiểu được.

Nhưng đó là một nét tâm lý đang phổ biến và càng ở
những lớp người sau cách biểu hiện càng trâng tráo.



<i><u>Bài viết định dùng làm tham luận </u></i><i><u>trong Đại
hội nhà văn VN lần thứ ba 1989,</u></i><i><u> nhưng bản thân tôi
thấy không nên gửi Đại hội</u></i><i><u> vì tin rằng có gửi
cũng không được đọc</u></i><u><i> đọc cũng chẳng ai nghe.
</i></u>

<u><i>Sau bản in báo, đã in lại trong tập </i>Những kiếp hoa
dại,199

<strong>Vương Trí Nhàn</strong>


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20131021/vuong-tri-nhan-cong-viec-viet-van-nhin-duoi-goc-do-nghe-nghiep),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét