Dương Ngọc - 10 nghịch lý của kinh tế Việt Nam

<div class="boxleft220"><img src="http://danluan.org/files/u1/029_260.jpg"
width="260" height="172" alt="029_260.jpg" /><div class="textholder">Việt
Nam tăng trưởng liên tục trong 30 năm với tốc độ tăng
6,73%/năm, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững,
bởi chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, về mặt xã
hội còn nhiều vấn đề bức xúc, việc bảo vệ và cải
thiện môi trường còn nhiều hạn chế.</div></div>
Kinh tế Việt Nam không bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc khủng
hoảng tài chính và kinh tế thế giới, tăng trưởng đã thoát
đáy vượt dốc đi lên và đang dần phục hồi.

Tuy nhiên xét theo ý nghĩa phát triển (rộng hơn, thực chất hơn
so với tăng trưởng), thì kinh tế Việt Nam còn đứng trước
nhiều nghịch lý, trong đó có 10 nghịch lý được xét trên các
góc độ khác nhau.

<h2>Một là, tăng trưởng cao hơn nhưng vẫn tụt hậu, thậm chí
còn tụt hậu xa hơn.</h2>

Năm 2010 (tạm tính tăng 6,5%), GDP của Việt Nam so với năm 1985
cao gấp gần 5,2 lần (bình quân thời kỳ 1986 - 2010 tăng
6,8%/năm); so với năm 1990 cao gấp trên 2 lần (bình quân thời
kỳ 1991- 2010 tăng 7,4%/năm). Đó là những tốc độ tăng khá
cao.

GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái
bình quân năm 2008 của Việt Nam đạt 1.052 USD (năm 2010 ước
tính sẽ đạt khoảng 1.138 USD), thấp xa so với các con số
tương ứng của nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á (Singapore
37.597,3 USD, Brunei 35.623 USD, Malaysia 8.209,4 USD, Thái Lan 4.042,8 USD,
Indonesia 2.246,5 USD, Philippines 1.847,4 USD).

GDP bình quân đầu người của Việt Nam mới bằng 42,8%, con số
tương ứng của khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 7/11 nước;
bằng 26% con số tương ứng của châu Á và đứng thứ 36/50
nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh; bằng 11,7% con số
tương ứng của thế giới và đứng thứ 138/182 nước và vùng
lãnh thổ có số liệu so sánh.

Nếu họ "đứng yên" thì cũng phải nhiều năm sau Việt Nam
mới bằng mức hiện nay của họ. Nhưng đó chỉ là giả
thiết, thực tế họ vẫn tiến, thậm chí có nước, có năm
còn tiến nhanh hơn.

Từ các con số trên, có thể rút ra hai nhận xét đáng lưu ý.
Một, thứ bậc về GDP bình quân đầu người của Việt Nam
vẫn nằm ở nửa dưới trong các nước ở khu vực Đông Nam Á,
ở châu Á và trên thế giới. Hai, do giá trị của 1% tăng lên
của GDP bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp như
trên, nên tốc độ tăng chỉ tiêu này của Việt Nam phải cao
gấp đôi tốc độ tăng của khu vực Đông Nam Á, cao gấp trên
4 lần tốc độ tăng của châu Á và cao gấp 9 lần tốc độ
tăng trung bình của thế giới thì mới không bị tụt hậu xa
hơn (chênh lệch tuyệt đối giảm).

<center><img src="http://danluan.org/files/u1/gdp_growth.png" width="559"
height="499" alt="gdp_growth.png" /></center>
<center><em>Minh họa của Dân Luận: Xét GDP của hai nền kinh tế,
tạm gọi là GDP1 và GDP2. Giả sử GDP1 có quy mô 40 tỉ, và GDP2
lớn gấp 10 lần GDP1 vào thời điểm 2010. Giả sử GDP1 liên
tục tăng trưởng 8% mỗi năm, và giả sử GDP2 tăng trưởng
hàng năm 2%. Nhìn vào bảng, có thể thấy khoảng cách giữa hai
GDP lớn dần lên trong vòng 17 năm đầu, và chỉ từ năm thứ 18
trở đi thì khoảng cách này mới giảm dần, và sau 41 năm thì
GDP1 sẽ đuổi kịp và vượt GDP2. Câu hỏi đặt ra là, Việt
Nam có thể duy trì tăng trưởng GDP 8% liên tục trong 40 năm tới
hay không? Hay là chúng ta chưa vượt qua được ngưỡng rút
ngắn khoảng cách đã... hụt hơi và rớt ngược trở
lại?</em></center>

<h2>Hai là, tăng trưởng liên tục trong thời gian dài, nhưng vẫn
chưa được coi là phát triển bền vững.</h2>

Tăng trưởng kinh tế sau khi bị giảm trong năm 1979 và năm 1980,
thì từ năm 1981 đã tăng trưởng liên tục, tính đến năm 2010
này là 30 năm, vượt kỷ lục cũ của Hàn Quốc (23 năm tính
đến năm 1996) và hiện chỉ thấp hơn kỷ lục 32 năm hiện do
Trung Quốc đang nắm giữ.

Tăng trưởng liên tục trong 30 năm với tốc độ tăng 6,73%/năm,
nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững, bởi chất
lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, về mặt xã hội còn
nhiều vấn đề bức xúc, việc bảo vệ và cải thiện môi
trường còn nhiều hạn chế.

Tăng trưởng kinh tế chủ yếu do sự đóng góp của yếu tố
tăng vốn (chiếm khoảng 52 - 53%); do sự đóng góp của yếu tố
tăng số lượng lao động (chiếm khoảng 19 - 20%); còn yếu tố
năng suất các nhân tố tổng hợp (gồm hiệu quả sử dụng
vốn, năng suất lao động trên cơ sở khoa học - công nghệ)
mới chiếm 28 - 29%, thấp xa so với con số 35 - 40% của một số
nước trong khu vực.

Kinh nghiệm trong lịch sử và kinh nghiệm của nhiều nước cho
thấy, mục tiêu cuối cùng đạt được không phải chỉ bằng
tốc độ tăng trưởng cao trong ngày hôm nay, mà phải bằng độ
bền của tốc độ tăng trưởng trong dài hạn. Đã đến lúc,
nếu không nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền
vững, thì ngay cả việc tăng trưởng với tốc độ cũ cũng
khó mà đạt được.

<h2>Ba là, mở cửa hội nhập để đẩy mạnh xuất khẩu, nhưng
nhập siêu liên tục với quy mô lớn.</h2>

Nhập siêu của Việt Nam có năm điểm đáng lưu ý. Một, nhập
siêu gần như liên tục, trong thời gian dài. Trong 25 năm đổi
mới, chỉ có một năm xuất siêu nhẹ (41 triệu USD) và cách
đây cũng đã khá lâu (năm 1992), còn có tới 24 năm nhập siêu.
Hai, mức nhập siêu khá lớn (năm 2008 lên đến trên 18 tỷ USD
và 4 năm nay, nếu tính bằng tỷ USD đã ở mức hai chữ số);
tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu, so với GDP vượt mức an
toàn (trên 20%).

Ba, mở cửa, hội nhập là để tìm thị trường tiêu thụ,
nhưng gần như càng mở cửa, hội nhập thì càng nhập siêu.
Đặc biệt nhập siêu lại bùng lên khi Việt Nam gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO). Bốn, nhập siêu thường kèm
theo là giá giảm, người tiêu dùng được hưởng lợi, nhưng
trong khi sản xuất trong nước thì bị cạnh tranh, giảm thị
phần, còn người tiêu dùng vẫn phải mua giá cao. Điểm thứ
năm, nhập siêu không phải từ thị trường có hàng kỹ thuật
cao, có công nghệ nguồn, mà lại từ các thị trường không
phải có kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn - đặc biệt là
từ thị trường Trung Quốc.

<h2>Bốn là, chuyển sang kinh tế thị trường đã nhiều năm,
nhưng thể chế chuyển chậm.</h2>

"Bàn tay hữu hình" còn quá dài, trong khi "bàn tay vô hình"
còn quá ngắn. Doanh nghiệp nhà nước giảm về số lượng,
nhưng phình to về quy mô, chiếm tỷ trọng lớn về vốn, chiếm
tỷ trọng nhỏ về lao động; doanh nghiệp tư nhân ra đời
nhiều, giải quyết được nhiều công ăn việc làm, nhưng quy
mô nhỏ, chậm lớn. Cải cách hành chính chậm, thủ tục hành
chính còn nặng nề. Chi phí bất hợp lý, thậm chí bất hợp
pháp còn nhiều. Cạnh tranh chưa bình đẳng, "ra sân chơi chung,
nhưng đã chấm trước người thắng kẻ thua". Kinh tế thị
trường nhưng độc quyền còn lớn.

<strong>Năm là, chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã
trên 15 năm, nhưng tính gia công còn nặng.</strong> Do gia công
nặng, nên vừa làm cho giá trị tăng thêm thấp, vừa phụ
thuộc vào nước ngoài, làm tăng nhập siêu, dễ bị ảnh
hưởng khi thị trường nước ngoài gặp bất ổn.

<strong>Sáu là, "tam nông" rất quan trọng, nhưng chưa được
quan tâm tương xứng.</strong>

Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp đi lên; tỷ lệ dân số
nông thôn từ trên 90% trước Cách mạng đã giảm xuống nhưng
hiện vẫn còn chiếm 70%; tam nông đã đóng góp tích cực trong
việc giúp cho đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh
tế - xã hội tiềm ẩn từ cuối những năm 70, bùng phát trong
thập kỷ 80, kéo dài tới đầu thập kỷ 90 của thế kỷ
trước; giúp ổn định ở trong nước để ứng phó với cuộc
khủng hoảng khu vực những năm 1997 - 1998, cuộc khủng hoảng
tài chính và suy thoái kinh tế thế giới 2008- 2009,... nhưng tỷ
trọng vốn đầu tư cho nông, lâm - thủy sản trong tổng vốn
đầu tư phát triển xã hội giảm và hiện ở mức thấp (năm
2000 chiếm 13,8%, năm 2005 còn 7,5%, năm 2009 còn 6,3%).

Diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt đất trồng lúa giảm.
Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn còn lớn cả về thu
nhập, chi tiêu, nhà ở, điện nước, vệ sinh, đồ dùng lâu
bền... còn lớn. Tỷ lệ nghèo ở nông thôn cao gấp đôi ở
thành thị, số người nghèo ở nông thôn chiếm trên dưới 90%
tổng số hộ nghèo của cả nước...

<strong>Bảy là, với mục tiêu tăng trưởng cao, Việt Nam đã
kích cầu đầu tư lớn (có tỷ lệ đầu tư so với GDP đứng
hàng đầu thế giới), nhưng lãi suất vay vốn ở Việt Nam cũng
thuộc loại cao so với các nước và vùng lãnh thổ.</strong> Thu
nhập và sức mua có khả năng thanh toán của dân cư còn thấp
do thu nhập của lao động thấp; nhưng khi kích cầu đầu tư và
tiêu dùng thì có một phần không nhỏ hàng hóa, vật tư của
nước ngoài nhập siêu vào chiếm lĩnh thị phần.

<strong>Tám là, tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ động viên tài
chính cao, nhưng tỷ lệ bội chi ngân sách lớn và tăng.</strong>

Tỷ lệ tích lũy so với GDP của Việt Nam đã tăng khá nhanh
(từ 27,1% năm 1995 lên 29,6% năm 2000, lên 35,6% năm 2005, lên 43,1%
năm 2007, vài năm có giảm xuống nhưng năm 2009 vẫn ở mức
38,1%, thuộc loại cao trên thế giới.

Tỷ lệ tổng thu ngân sách so với GDP của Việt Nam tăng và
thuộc loại cao (nếu năm 2000 mới đạt 20,5% thì năm 2005 đã
đạt 27,2%, năm 2008 là 28,1%), nhưng tỷ lệ bội chi so với GDP
tăng lên (từ 4,1% năm 2000 lên 5,2% năm 2008, lên 6,9% năm 2009 và
năm 2010 có thể giảm xuống nhưng vẫn ở mức cao trên 6%).
Đây là một trong những yếu tố làm bất ổn vĩ mô, yếu tố
tiềm ẩn của lạm phát.

<strong>Chín là, khoa học - công nghệ là động lực của tăng
trưởng, là yếu tố để nâng cao chất lượng tăng trưởng,
nhưng tác động đối với nền kinh tế còn thấp.</strong>

Tỷ trọng hoạt động khoa học- công nghệ trong GDP nhiều năm
nay chỉ chiếm 0,62-0,63%, tác động đối với tốc độ và
chất lượng tăng trưởng kinh tế nhỏ. Tình hình này do nhiều
nguyên nhân. Có nguyên nhân do đầu tư chưa đủ độ (năm 2009
đã tăng lên nhưng cũng chỉ chiếm 0,73% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội). Có nguyên nhân do cơ chế vận hành hoạt động
này chậm được chuyển đổi, khi có cơ chế thì thực hiện
còn lúng túng. Có nguyên nhân do hoạt động khoa học- công
nghệ và hoạt động sản xuất kinh doanh chưa có sự kết hợp
chặt chẽ. Thị trường khoa học công nghệ chậm hình thành và
chậm phát triển.

<strong>Mười là, giáo dục được coi như quốc sách hàng đầu,
nhưng còn nhiều hạn chế, bất cập.</strong>

Nếu khoa học - công nghệ là động lực của phát triển, thì
giáo dục - đào tạo là chìa khóa của khoa học - công nghệ.
Giáo dục - đào tạo sớm được xác định là quốc sách hàng
đầu, với tỷ trọng chi cho giáo dục - đào tạo trong tổng chi
ngân sách tăng. Ngành giáo dục - đào tạo liên tục cải cách,
nhưng hiệu quả thấp...

<div class="special_quote"><strong>Võ Văn Sự</strong> (13:35 (GMT+7) -
Thứ Ba, 7/9/2010)

Một nguyên nhân lớn mà ta cố tình không nói tới, đó là
việc đầu tư vẫn dựa vào "chính trị" hơn là "kinh tế", đó
là các tổ chức kinh tế nhà nước họat động không hiệu
quả bằng các lọai hình thức khác nhưng vẫn được đầu tư
lớn nhất.

Điều này không khác gì lãng phí tiền bạc, tự nghèo đi.
Phải xem tất cả các hình thức kinh doanh là con đẻ của xã
hội và được nâng niu, tôn trọng như nhau. </div>

<div class="special_quote"><strong>Peter Ta</strong> (09:08 (GMT+7) - Thứ
Ba, 7/9/2010)

Một bài viết rất hay, khách quan và nhìn thẳng vào vấn đề.

Là một người Việt đang sống tha hương, tôi luôn mong cho
nước mình ngày càng phát triển, dân tộc Việt ngày càng tiến
lên.

Tôi muốn bổ sung ý kiến của mình về giáo duc, tác giả nói
rất đúng, khoa học công nghệ là động lực của phát triển,
và giáo dục là chìa khóa của công nghệ, theo tôi hiểu, tác
giả muốn đề cập đến việc giáo dục và người học kém
chất lượng. Theo tôi hoàn toàn sai, xin hỏi tác giả và mọi
người, có biết bao người việc đang sống, công tác rất
thành công ở nước ngoài? Như vậy nước Việt ta có thiếu
người tài không? Theo tôi là không.

Ý kiến thứ 4 của tác giả thật tuyệt vời, cần cạnh tranh
khách quan, công bằng trên mọi lĩnh vực, người tài cũng vậy,
hãy trong người tài, đừng vì ai đó là con cháu, là anh em họ
hàng cũa ta mà ta chọn, mà hãy chọn người vì tài năng. Tôi
chắc chắn giải quyết được vấn đề này nước ta sẽ phát
triển vượt bậc. </div>

<div class="special_quote"><strong>Le Hoang</strong> (14:35 (GMT+7) - Thứ
Hai, 6/9/2010)

Bài viết xúc tích về các vấn đề mà Việt nam đang phải
đối mặt. Nhìn lại thì đây là các vấn đề nóng. Nhìn
tiếp, thì theo tôi ta nên sắp xếp các vần đề theo thứ tự
sau:

1. Giáo dục
2. Khoa học và công nghệ
3. Thể chế
4. Tam nông
5. Vốn cho đầu tư và chính sách lãi suất
6. Tiết Kiệm
7. Gia công
8. Nhập siêu
9. Phát triển bền vững
10. Tỷ lệ tăng trưởng

Có trí thức và công nghệ Việt nam mới có thể đổi mới
tiếp về chất bao gồm cả đổi mới về thể chế tạo động
lực phát triển cho cả nước. Từ vấn đề thứ 5 trở đi
phụ thuộc vào 5 vần đề đầu. </div>

<div class="special_quote"></div>

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6341), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét