đẹp qua thời gian. Hai nước đã trao đổi nhiều quan tâm chung
từ mậu dịch đến văn hoá và an ninh. Việt Nam đã bán được
nhiều nông sản phẩm và mua các mặt hàng có trình độ cao
của Hoa kỳ nhằm cải thiện phương thức sản xuất và lối
sống của mình. Số lượng sinh viên người Việt đến Hoa kỳ
ngày càng nhiều để học những thành tựu khoa học mới mà Hoa
kỳ hiện nay đang còn chiếm ưu thế. Việt kiều tại Hoa kỳ
đã đóng góp đáng kể cho công cuộc đổi mới đất nước qua
việc giúp đở thân nhân và đầu tư qui mô tại quê nhà.
Những thành tựu ngoạn mục về đổi mới kinh tế của Việt
Nam được các định chế tài trợ và doanh nghiệp quốc tế ca
ngợi, nhưng cho đến nay Việt Nam đã không có cải tổ luật
pháp tương xứng như họ hy vọng. Trước những áp lực của
họ và với ý thức vấn đề thay đổi hiến pháp và tôn
trọng nhân quyền của người Việt, những thành tựu trong
tiến trình cải cách còn quá ít so với sự mong đợi, dù Việt
Nam luôn đề cao vai trò nhà nước pháp quyền. Trong khi Việt nam
đang tiếp tục tìm hiểu về đất nước và con người Hoa kỳ
thì một khía cạnh đặc biệt nhất là hệ thống pháp luật
và khái niệm Rule of Law lại ít được công luận quan tâm.
Giới thiệu những đặc điểm này nhằm đóng góp vào việc
thảo luận chung hiện nay là mục tiêu của bài viết sau đây.
Không giống các nước Anh, Pháp và Đức khái niệm Rule of Law
taị Hoa kỳ đã gắn liền với chủ thuyết về tự do của tư
bản chủ nghiã và hệ thống chính trị dân chủ. Đây chính là
hai tiền đề đặt ra để tìm hiểu.
<h2>I. Khái niệm về tự do</h2>
Chủ thuyết về tự do tại Hoa kỳ đề cao vai trò của cá nhân
trong mọi quyết định. Mổi ngưòi trưởng thành đều có
quyền theo đuổi lối sống mà chính mình lưạ chọn và không
làm hại đến nguời khác. Hobbes và Locke đã đề xuất lý
thuyết về khế ước xã hội nhằm giới hạn quyền tự do
tuyệt đối cá nhân. Cả hai lập luận là cuộc sống mà không
có luật pháp chỉ đem lại sự bất an cho mọi người. Do đó,
mổi cá nhân phải đồng ý từ bỏ một phần tự do tuyệt
đối của mình để đánh đổi lấy sự bảo vệ của luật
pháp mà xã hội mang lại. Nhưng đồng thuận đến mức độ
nào cho sự đánh đổì này là vấn đề. Chính quyền tôn
trọng tự do cá nhân nhưng cá nhân cũng phải tuân thủ pháp
luật do xã hội đề ra. Ý niệm này đưa đến khái niệm về
công bình trước pháp luật. Bất cứ ai cũng phải tuân hành
pháp luật như nhau, kể cả chính quyền cũng không thể đưa ra
những ưu quyền khi áp dụng luật pháp, mà bốn hình thức về
tự do cơ bản sau đây là một đặc điểm trong sinh hoạt dân
chủ tại Hoa kỳ.
<h3>1. Tự do chính trị </h3>
Từ bỏ tự do cá nhân là điều không ai muốn, nhưng người
dân chỉ từ bỏ khi đánh đối nó để được gì cao quý hơn.
Câu trả lời là cá nhân chỉ tuân thủ luật pháp do chính mình
làm ra và vì đây chính là quyết định của mình mà không do
ngưòi khác áp đặt. Vì làm luật để bảo vệ mình chứ không
làm luật để chống mình, nên không có người dân nào đồng
tình cho việc áp dụng những luật đàn áp. Những quyền tự do
cơ bản theo ý nghĩa chính trị là tự do đầu phiếu, ngôn
luận, lập hội và đi laị.
<h3>2. Tự do trước pháp luật. </h3>
Cá nhân chỉ được hưởng tự do đích thực khi chính quyền
hành sử đúng luật pháp quy định. Đây là một đòi hỏi
chính đáng vì cho dù người dân phải chấp hành luật pháp
nhưng cũng cần phải biết trước chính quyền sẽ áp dụng
luật lệ nào, hậu quả nào mình sẽ phải nhận lảnh khi vi
phạm. Luật pháp, dù mang tính tổng quát, nhưng phải rỏ ràng,
có thể giải thích được theo tiêu chuẩn quy định. Hình luật
là một thí dụ điển hình, không ai có thể bi trừng phạt mà
khung hình phạt và tội danh không được quy định trước, và
quan trọng nhất mổi người được suy đoán là vô tội cho
đến khi có bằng chứng ngược lại. Do đó, tự do trước pháp
luật phải được hiểu là cá nhân được phép làm những gì
mà luật pháp không cấm.
<h3>3. Tự do cá nhân</h3>
Tự do của cá nhân chỉ được tôn trọng khi những cấm đoán
liên hệ đến tự do phải được quy định.Tại Hoa kỳ những
giới hạn này đã được đề rỏ trong Bill of Rights. Theo đó
thì tự do cá nhân có thể bị giới hạn về mặt thủ tục
hay nội dung và chính quyền khi nào được can thiệp vào tự do
cá nhân, trong chừng mực và lảnh vực nào. Đây là một vấn
đề gây nhiều tranh luận trong học giới vì tự do cá nhân có
liên hệ đến dân quyền và nhân quyền, mà hai phạm vi quan
trọng nhất là tự do tôn giáo và tự do lương tâm. Điểm chủ
yếu của hai tự do này là chính quyền không thể ngăn trở hay
trừng phạt bất cứ ai vì niềm tin cá nhân của họ.
<h3>4. Tự do được định chế hóa. </h3>
Tự do cá nhân chỉ được bảo đảm khi bộ máy nhà nước tổ
chức quy củ, điển hình là phải định chế hoá để gây
niềm tim cho người dân mà hai nguyên tắc tam quyền phân lập
và cơ chế phân quyền trung ương địa phuơng là hai điểm chủ
yếu. Sự phân quyền này, nếu hữu hiệu, sẽ tránh được nguy
cơ tập trung và lạm quyền mà cuối cùng là ngưòi dân chiụ
thiệt hại. Sự phân biệt thẩm quyền lập pháp và tư pháp là
quan trọng nhất là vì luật pháp phải có trước khi được áp
dụng. Chính toà án là nơi phán xét cuối cùng mọi hành vi các
hoạt động của chính quyền và cá nhân là hợp hiến và hợp
pháp hay không. Để đạt được yêu cầu này thì mọi người
dân phải có tự do khiếu kiện khi quyền tự do của mình bị
vi phạm. Một đặc điểm nổi bật của tự do được định
chế hoá là không phải cá nhân tự quyết định vấn đề mà
chính hệ thống chính trị và luật pháp khi được định chế
hoá sẽ mang đến một cơ chế bảo vệ hữu hiệu.
Bốn tự do nêu trên nếu được thực hiện đầy đủ thì tự
do cá nhân người dân sẽ được bảo vệ tối đa. Điều này
chỉ có trong một xã hội mà nền dân chủ đã được định
hình mà quyền tự do là giá trị chung cho sinh hoạt xã hội
được mọi người cùng tôn trọng và thực thi. Lý tưỏng này
cũng đã gây nhiều tranh cải tại Hoa kỳ khi tự do chính trị
và quyền cá nhân là những xung đột thường trực.
<h3>5. Xung đột giữa chính quyền và dân quyền </h3>
Câu hỏi chủ yếu mà người dân trong một xã hội dân chủ
đặt ra là: Ai cai trị tôi đây? Trong chừng mực nào thì họ
được phép can thiệp vào đời sống cá nhân của tôi? Giá
trị cao cả của chủ thuyết tự do là đề cao tự do cá nhân
và hạn chế tối đa quyền can thiệp của chính quyền trong
mọi sinh hoạt xã hội. Nói một cách lý tưởng, thì bất cứ
sự can thiệp nào cũng là điều bất hạnh cho ngưòi dân, dẫn
đến sự bất ổn và dễ phát sinh độc tài và mị dân, nhất
là dễ mất tài sản. Kant cho rằng ngưòi dân có quyền tự do
không tuân thủ bất cứ loại luật nào mà mình không ủng hộ.
Ông đề cao vai trò tích cực của người dân trong các cuộc
bầu cử nhưng chê trách những người còn đang học nghề, phụ
nử, gia nhân và tá điền vì họ không tham gia bẩu cử. Quyền
lợi của giới này luôn bị lệ thuộc vào người chủ nên họ
lơ là việc đầu phiếu, từ đó mà giai cấp hửu sản dể
lạm dụng dân chủ.
James Madison và Alexander Hamilton trong the Federalist Papers cũng đề
cập sự nguy hiểm của chế độ dân chủ. Hai ông cho rằng
bảo vệ tự do công cộng, tôn trọng tự do cá nhân, chống
lại mọi sự lạm dụng nhân danh dân chủ của đa số và phải
duy trì tinh thần và hình thức của một chính quyền của toàn
dân, đáp ứng tất cả mọi yêu cầu này cùng một lúc là một
thách thức lớn. Dân chủ là hình thức cai trị tốt nhất
nhưng lại có quá nhiều đe dọa cho cho quyền tự do kết ước
và quyền tôn trọng tư hửu. Hai ông đề ra ba phương cách
nhằm giới hạn những nguy hiểm do dân chủ mang lại.
Thứ nhất, nền dân chủ đại nghị được suy đoán là tốt
vì luật pháp do tầng lớp trí thức làm ra, giới này có hiểu
biết và suy luận nên không dể bị lung lạc bởi những cảm
tính nhất thời của quần chúng.Thứ hai, dù tam quyền phân
lập và phân quyền theo cơ chế trung ưong địa phương hạn
chế sự tham gia trực tiếp của quần chúng, nhưng cơ chế này
khó làm cho chính quyền biến thành một bộ máy thống trị.
Chính vì xã hội bị phân tán quá nhiều qua các nhóm lợi ích
và nhiều tầng lớp khác nhau, nên chính quyền không thể nào
có khả năng kết hợp mọi quyền lợi dị biệt này để lạm
dụng dân chủ dẩn đến độc tài. Thứ ba là vai trò kiểm
soát của tư pháp. Hamilton cho rằng phải hạn chế thẩm quyển
lập pháp của quốc hội và nâng cao vai trò của toà baỏ
hiến. Nhiệm vụ của toà án là kiểm tra mọi hành vi của
chánh quyền và quốc hội, nếu không, việc bảo vệ quyền
lợi người dân ghi trong hiến pháp và luật pháp trở nên vô
nghĩa. Giá trị của hiến pháp không chỉ đề cao mà phải
được thực thi khi bị vi phạm. Cơ quan tư pháp không là một
mối đe doạ cho hành pháp và lập pháp. Chế độ tài phán
chịu trách nhiệm giải thich luật pháp, tố cáo và trừng phạt
mọi hành vi phạm pháp.
John Marshall, thẩm phán tối cao pháp viện cũng theo quan điểm
của Hamiliton. Ông cho rằng mọi thủ tục xét xử của tòa án
phải theo đúng quy định của hiến pháp. Hiến pháp nhằm đưa
tới sự cai trị bằng luật pháp chứ không phải do sự cai
trị của con người. Một hiến pháp thành văn phải quy định
những biện pháp kiểm soát, đặc biệt là những giới hạn
về thẩm quyền lập pháp. Nhưng đề cao quá mức vai trò của
tư pháp trong việc xét xử sẽ đi đến phản dân chủ vì vấn
để bảo vệ quyền lợi của ngưòi dân cuối cùng cũng sẽ
bị xâm phạm khi nền tư pháp bị lạm dụng. Thực ra cơ quan
tư pháp cũng như lập pháp và hành pháp là một định chế dân
chủ, cũng được bầu cử và bổ nhiệm theo đúng quy định
dân chủ. Do đó tư pháp cũng bị kiểm soát, nên sự lạm dụng
khó có thể xãy ra.
<h3>6. Tự do và đạo đức</h3>
Ý nghĩa cao cả của chủ thuyết tự do là tôn trọng tự do cá
nhân. Mối người có quyền có viễn kiến riêng và tự do theo
đuổi và hành động những gì mà mình cho là tốt đẹp nhất
cho đời mình. Nhưng tốt hay xấu lại là vấn đề đạo đức
cá nhân trong lương tâm xã hội. Định nghĩa tốt xấu hay dở
là do trình độ văn hoá và lối sống của từng cá nhân và
sự chấp nhận của xã hội. Không ai có thể tổng quát hoá
một lối sống hay một mục tiêu và áp đặt người khác phải
tuân theo, nhất là trong một xã hội đa dạng và đa chủng. Tự
do cá nhân chỉ có thể phát huy trong một xã hội dân chủ nếu
xã hội này chấp nhận đa dạng về đạo đức. Hoa kỳ có
nhiều sắc dân và khuôn mẩu văn hoá khác nhau, nên mô hình đa
dạng về giá trị đạo đức và văn hoá là đặc điểm lịch
sử và dể được chấp nhận hơn. Tôn trọng tự do cá nhân và
khoan dung trước những giá trị đạo đức khác biệt là một
đặc điểm xã hội Hoa kỳ. Do đó, tự do phải đóng một vai
trò trung dung trong việc hình thành khuôn mẩu đạo đức cho xã
hội. Chính quyền không vì nhân danh tự do để áp đặt một
khuôn mẩu đạo đức.
<h3>7. Tự do và tư bản</h3>
Ý niệm về tự do liên hệ đến sinh hoạt kinh tế thị
trường trong xã hội tư bản. Chủ thuyết tự do thường bị
phê phán là một sản phẩm của giới tư sản khi căn cứ vào
sự hình thành của thương giới và sự phát triển đô thị
tại nước Anh trước đây. Locke giải thích khi bắt đầu có
tài sàn, doanh giới ý thức được sự phát triển thế lực
nhằm chống lại mọi đặc quyền của giớí quý tộc và giáo
hội, đặc biệt chống lại mọi sư áp đặt thuế khoá bất
công. Một trong những tự do được đề cao trong thời kỳ này
là tự do kết ước các hợp đồng thương mại và lao động
và quyền bảo vệ tài sản. Doanh giới còn đòi hỏi rằng khi
chính quyền can thiệp vào các hoạt động kinh tế thì phải có
những luật lệ rỏ ràng có thể đoán trước và nhất là
không làm haị đến các tự do hoạt động của họ. Max Weber
nêu rỏ khi mọi hành vi của chính quyền có thể tiên đoán
được và pháp luật bảo đảm được mọi hoạt động kinh
tế đó chính là là tiền đề cho sự phát triển chủ nghiã tư
bản.
Chủ thuyết về tự do ra đời tại Hoa kỳ, đã là một trong
những thành tố giúp cho sự phát triển hệ thống luật pháp,
nhưng quan trọng nhất là sự thành hình hiến pháp, mà khái
niệm chính sẽ được giới thiệu sau đây.
<h2>II. Khái niệm về hiến pháp </h2>
Từ 1764 cho đến 1776 khái niệm về hiến pháp được định
hình và làm khởi điểm cho mọi học thuyết về luật hiến
pháp sau này. Từ constitution được sử dụng để chỉ tính
cách tạo lập của hiến pháp. Luật hiến pháp quy định tổ
chức của bộ máy nhà nước và các quyền cơ bản ngưòi dân,
việc thành hình quốc hội và các trường hợp tu chỉnh hiến
pháp. Luật này phải được toàn dân biểu quyết và đặt
được kiểm soát bởi các cơ quan tư pháp, mà tối cao pháp
viện là một định chế cao nhất. Vì luật hiến pháp có tính
tối thượng nên ngưòi Hoa Kỳ goị là luật của luật (Rule of
rules) mà người Việt có thói quen gọi là luật mẹ của các
luật khác.
Các học thuyết luật hiến pháp đều đồng ý một điểm chung
là quyền quyết định vận mệnh đất nước thuộc toàn dân
mà hiến pháp là một bản văn quy định cao nhất. Dù thực tế
có sự xung đột giử chính tri và luật pháp, nhưng tinh thần
thượng tôn luật pháp (Rule of Law), đặc biệt là luật hiến
pháp là điểm chính. Từ đó khái niệm Rule of Law ra đời để
nhằm đề cao vai trò pháp luật trong việc cai trị đất nước,
chính tinh thần này quyết định chứ không phài bởi con người
(rule of men). Tinh thần của Rule of Law tại Hoa kỳ biểu hiện
sự bảo vệ các tự do cơ bản của ngưòi dân, đặc biệt là
quyền tự do chính trị và quyền tự do dân sự mà hiến pháp
đề ra mà ý nghiả cuả nó đã được Montesquieu giải thích.
Đến thế kỷ XX thì khái niệm về luật hiến pháp tại Hoa
kỳ được xét lại triệt để vì lý do luật pháp diễn biến
phức tạp qua thời gian. Trước đây hiến pháp được coi là
văn kiện bảo đảm dân quyền và thẩm quyền lập pháp của
quốc hội được coi trọng. Thực tế cho thấy có quá nhiều
tình huống xãy ra trong xã hội ngoài dự liệu của nhà lập
hiến và lạm dụng của hành pháp, nên chế độ tài phán của
cơ quan tư pháp lại được quan tâm. Ngược lại, học giới
luôn cảnh báo là tính tối thượng của luật hiến pháp không
còn nửa và lo ngại rằng chính cơ quan tối cao pháp viện làm
mất đi sự an toàn pháp luật. Thực ra vấn đề này đã có
từ lâu trong khi tối cao pháp viện quyến định các vấn đề
vi hiến của lập pháp và hành pháp, điển hình là việc chánh
án John Marshall chuẩn nhận từ án lệ Marbury v. Madison từ 1803.
Tựu chung thì trong suốt thế kỷ XIX các học giả đã nêu lên
hai mô hình chính cuả luật hiến pháp. Mô hình thứ nhất
chiếm đưọc ưu thế từ ngay sau khi nội chiến chấm dứt mà
nguyên tắc chủ yếu là những quyền tự do cơ bản được
bảo vệ hửu hiệu khi nguyên tắc phân quyển và cơ chế chính
quyền liên bang đưọc thực thi. Bill of Rights là một phương
tiện để bảo đảm quyền này nhằm chống lại sự can thiệp
của chính quyền liên bang và đề cao việc thực thi quyền của
ngưòi dân.
Mô hình thứ hai được áp dụng tử cuối thế kỷ XIX cho đến
thời New Deal, đặc biệt là sau khi tu chính án XIV được phê
chuẩn. Điểm chính là xác nhận ưu quyền của công dân liên
bang trước quyền công dân tiểu bang. Mô hình thứ hai này dựa
theo một án lệ giải thích của tối cao pháp viện về nguyên
tắc trọng pháp theo luật thủ tục (the clause of due process). Toà
án quy định rằng chính quyền chỉ có chức năng của một
người gác đêm và làm trọng tài trong mọi tranh chấp quyền
lợi xã hội. Do đó, hiến pháp cần quy định rỏ hơn về các
thủ tục trong tự do kết ước. Dù đề cao tự do kết ước
nhưng toà án đã chống đối việc quy định khế ước lao
động dảnh cho trẻ em.
Khái niệm về luật hiến pháp đã có phần nào nội hàm của
Rule of Law, nhưng học giới đã góp phần trong sự định hình
khái niệm này và được đề cập sơ lược sau đây.
<h2>III. Khái niệm Rule of Law </h2>
1. Ngay từ thế kỷ XVIII các học giả về luật hiến pháp như
Edmund Burke, Benjamin Franklin và Allan Remsey đều có một nhận xét
chung về hiến pháp Hoa kỳ là một sự tiếp nối lịch sử các
truyền thống luật pháp của nước Anh. Nhưng khi giải thích
về chủ thuyết lập hiến của Hoa kỳ thì họ lại cho rằng
truyền thống luật pháp tại Hoa kỳ có chiều hướng canh tân
hơn vì không có các vấn đề thuộc điạ, mà có tinh thần
cách mạng và thắm nhuần các tư tuởng của Locke và Sidney.
Đây là một đặc điểm làm phát triển khái niệm Rule of Law
trong suốt các thập kỳ 1760 và 1770. Chính John Adam, Thomas
Jefferson và các học giả về luật hiến pháp đã tinh lọc
được những tư tưởng về luật học của nước Anh để áp
dụng vào trường hợp của Hoa Kỳ. Họ đã mạnh dạn đoạn
tuyệt với tư tưởng quân quyền của nước Anh và đề cao
quyền dân tộc tự quyết.
Các học giả đồng ý là có sự phân biệt về thẩm quyển
lập hiến của ngưòi dân và thẩm quyền lập pháp cuả quốc
hội. Quốc hội không thể nhân danh nhân dân và lý tưỏng của
luật pháp mà giới hạn quyền tối thượng của người dân,
quốc hội chỉ là một phương tiện nhằm bảo tốn quyền của
ngưòi dân và không thể thay thế quyền dân tộc tự quyết vì
bất cứ danh nghĩa gì. Rule of law và rule of the people có một
mối quan hệ chặt chẻ đưa đến ý niệm chung là người dân
có quyền tự quyết trong tinh thần tôn trọng pháp luật. Ít
nhất về mặt lý thuyết, điều này được duy trì cho dù
điều V của hiến pháp đã quy định thủ tục tu chỉnh hiến
pháp khá phức tạp và thủ tục xét các hành vi vi hiến và vi
luật của quốc hội đã được án lệ Marbury v. Madison chuẩn
nhận.
Đến thế kỷ XIX khi các thảo luận về khái niệm Rule of Law
và quyền dân tộc tự quyết các học giả đã chia thành hai ý
kiến đối nghịch, populist republicanism và classical republicanism.
Philip Pettit, đại biểu cho populist republicanism, cho rằng sự tham
dự của quần chúng trong sinh họat chính trị là quan trọng
nhất. Trong một nước dân chủ thì ngưòi dân rất ít khi cần
đến cơ quan lập pháp và chính quyền. „Toàn dân" theo ông
là một khái niệm diễn đạt một khối quần chúng thuần
nhất và đồng dạng. Chính quyền, dù tiểu bang hay liên bang,
chỉ là một cơ chế trung gian nhằm dung hoà mọi đòi hỏi
quyền lợi dị biệt, nhất là tạo điều kiện cho sự dung hoà
quyền lợi này qua thủ tục quyết định của đa số vả nhất
là tránh được tính trạng của rule of men.
Đối với Madison, đại biểu cho classical republicanism, thì đặc
quyền của tối cao pháp viện cần phải hạn chế vì cơ quan
này chỉ nên tập trung kiểm soát mọi hành vi hiến của quốc
hội và không có đặc quyền giải thích hiến pháp. Chánh án
Marschall cũng theo quan niệm này và cho rằng cần phải làm rỏ
thẩm quyền kiểm tra của tòa án trưóc về các hành vi vi hiến
và vi phạm pháp luật. Xác định được đâu là quyền tư do
chính trị và quyền tự do dân sự và loại bỏ đưọc mọi
trở ngại trong việc thi hành quyền dân tộc tự quyết là
luận thuyết chính của classical republicanism.
2. Hai ý niệm này bắt nguồn từ bối cảnh của sự tranh luận
gay gắt về ý nghiã của cuộc cánh mạng Hoa kỳ giửa hai
đảng Republican Party và Federalist Party trong cuộc tranh cử vào
năm 1800 và cuối cùng đem lại việc thắng cử của Jefferson.
Jefferson cho rằng nền dân chủ của Hoa kỳ phải là một cuộc
các mạng thuờng trực, đúng hơn là biểu hiện một tinh thần
liên tục giửa các cuộc bầu cử và cách mạng. Jefferson tự
hào sự thắng cử cuả ông chính là một cuộc cách mạng lần
thứ hai của Hoa kỳ.
Có học giả cho rằng những tuyên bố trong lúc vận động tranh
cử cũng như diễn văn nhậm chức cùa Jefferson đã làm suy yếu
giá trị cao cả của hiến pháp và Rule of of Law. Thật ra,
Jefferson đã đề cao những nguyên tắc về quyền đầu phiếu
của ngưòi dân mà không đề cập trực tiếp đến giá trị
của Rule of Law. Ông ca ngợi quyền bầu cử của người dân vì
đây là một phương tiện mềm dẻo và an toàn nhằm uốn nắn
lại những lạm dụng từ những thành quả cách mạng mà thời
kỳ ấy không có phương tiện nào khác để cải thiện. Theo
tinh thần dân chủ đa số, Jefferson đề nghị cần phải đưa
luật hiến pháp ra khỏi phạm vi chính trị. Quyền lực nhân
dân chính sẽ định hình cho hoạt động của chính phủ và
nguyên tắc này sẽ mang lại hạnh phúc cho toàn dân. Dĩ nhiên
hành sử quyền dân tộc tự quyết không thể lập lại thường
xuyến, khi người dân đã xác quyết những nguyên tắc này là
quyền cơ bản thì nó được coi như là có giá trị hằng cửu.
Những nguyên tắc hiến định này cũng phài giới hạn thẩm
quyền lập pháp và mọi hành vi nào của quốc hội đi ngược
lại nguyện vọng của ngưòi dân đều bị xem là vi hiến. Án
lệ Marbury v. Madison là khởi điểm nhằm xác nhận lại thẩm
quyền của cơ quan tư pháp nhằm bào vệ những nguyên tắc
hiến định.
Ngược lại, Marschall đã hậu thuẩn cho Federalist khi đề cao
vị thế của tòa án. Học thuyết classical republicanism được
John Adam và các học giả khác thuộc đảng Federalist triển khai.
Họ đề cao yếu tố tín nhiệm của dân chúng nơi các đại
biểu quốc hội. Trong khi các cá nhân thường bị nghi là dể
mua chuộc và quá nhiều quyền lợi dị biệt, do đó những ý
kiến của người dân cần phải tinh lọc qua tiến trình chánh
trị mà việc bầu cử các đại biểu là một điển hình. Tham
gia bầu cử của ngưòi dân là quan trọng vì nhằm ngăn ngừa
sự thoái hoá của chính quyền qua các thái độ mị dân và
độc tài, làm thiệt hại quyền lợi cho người dân.
Adam đã đào sâu ý nghiã của chủ thuyết republicanism khi đem so
sánh với nền cộng hoà của Pháp. Ông cho rằng Pháp và Anh
đều dùng từ Republic, nhưng thật ra khác với tư duy của
người Hoa kỳ. Ở Pháp và Anh từ Cộng hoà được hiểu đồng
nghiả với nền dân chủ nghị viện, có nghiả là chính quyền
là một tổng hợp mọi quyền lực vào một trung tâm và trung
tâm đó chính là nhà nước, mà nhà nước là một tập hợp duy
nhất được dân chúng trao cho quyền dân tộc tự quyết để
sử dụng trong một thời gian nhất định. Đối với người Hoa
kỳ thì sự đánh bại quân quyền không hề nhất thiết đưa
tới một nền dân chủ với ý nghĩa tuyệt đối.
Adam nghi ngờ khả năng giải quyết vấn đề của chính quyền
dân chủ vì trong xã hội có quá nhiều đòi hỏi bất hợp lý
của dân chúng và thái độ mị dân cuả một thiểu số quý
tộc. Nền cộng hoà của Hoa kỳ là kết quả của sự cai trị
toàn dân, nhưng ý niệm về toàn dân sẽ không có được khi
không có luật hiến pháp và những nguyên tắc bảo vệ người
dân. Toàn dân không phải chỉ là một đa số thầm lặng, mà
chính là khi đa số này lên tiếng và quyết định vận mệnh
của mình. Quyền lực của nhân dân phải song hành trong tinh
thần thượng tôn luật pháp (rule of law), và quyền lực này
không phải là do con người cai trị (rule of men).
Để đạt lý tưởng này Adam đề xuất ý niệm kiểm soát và
quân bình quyền lực (checks and balances). Ông cho rằng đây là
một phương tiện hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền tự do của
ngưòi dân không bị xâm phạm khi chính quyền chỉ theo đuổi
những tham vọng riêng. Adam không phủ nhận giá trị cao đẹp
của quyền dân tộc tự quyết nhưng ông cho là dung hoà mọi
thảnh quả cách mạng qua các xây dựng các định chế chính
trị với phương thức kiểm soát và quân bình là chính. Đây
là một hình thức nhằm duy trì quyền dân tộc tự quyết.
4. Trong suốt thế kỷ XIX công luận luôn chỉ trích về vai trò
của tối cao pháp viện vì không quan tâm đền quyền lợi
thiết thực cúa ngưòi dân, luật pháp xa rời thực tế nhất
là mà chì có luật sư mới hiểu được luật và đất nước
được cai trị những chuyên gia mà không có quyền ủy nhiệm
của người dân.
Án lệ Lochner v. New York vào năm 1905 làm công luận càng không
tin vào một nền tư pháp độc lập, và nhất là về hình ảnh
của một vị chánh án công tâm khi xét xử, khi án lệ này
thiên vị rỏ rệt đề cao việc tự do trong kinh tế (laisser
faire).
Mục tiêu của luật pháp là khách quan, nhằm giải quyết những
tranh chấp trong những tình huống mà nhà lập pháp không thể
quy định trong thực tế. Lý tưỏng này không đạt được vì
dân chúng không còn cảm nhận rằng luật pháp là tốt đẹp
để bảo vệ họ, mà là một giải pháp tạm thời được toà
án áp dụng cho phù hợp với một tình thế nhất thời. Do đó
giá trị luật pháp được hiểu theo nghiả sống thực hơn là
một giá trị hằng cửu. Tối cao pháp viện đã luôn luôn tìm
cách chống lại các chỉ trích này và tạo một hình ảnh gân
gủi dân chúng hơn. Do áp lực cúa công luận mà tòa án cũng
tự đề ra nguyên tắc tự chế, bớt can thiệp và tỏ ra tôn
trọng thẩm quyền của quốc hội.
Sau năm 1939 tối cao pháp viện đã tự chuyển hoá tứ một cơ
quan chuyên bào vệ quyển tư hửu thì nay lại quan tâm hơn đến
các quyền dân sự khác và quyền của nhóm người thiểu số.
Các quyết định của toà đã đem đến hai trào lưu mới trong
việc bảo hiến. Khuynh hướng thứ nhất là bảo vệ những
quyển cố hữu của con ngưòi, thuộc vê nhân quyền, đó là
quyền tự do tư tưởng và tôn trọng những bảo mật cá nhân.
Khuynh hướng thư hai nhằm vào bảo vệ quyển bình đẳng và
quyền tất cả mọi người được hưỏng mọi phúc lợi xã
hội, nhưng nâng cao việc kiểm soát các tiêu chuẩn để được
hưỏng quyền này, nhằm tránh sự lạm dụng. Hai khuynh hướng
này không những đã ành hưỏng trực tiếp đến phần lớn
của những quyết định chính trị mà còn làm cho toà án đóng
thêm vai trò của nhà lập pháp. Sau thế chiến thừ hai và
dưới thời Warren 1953-69 tối cao pháp viện đã có những nổ
lực đáng kể bằng cách chuẩn nhận hằng loạt các loại
quyền mới mà hiến pháp không hề quy định trước đó, thí
dụ như quyển bào mật cá nhân và quyền phá thai.
Khủng hoảng niềm tin vào giá trị của luật pháp kéo dài trong
nhiều thập kỷ đầu của thế kỷ XX và tạo nên nhiều xung
đột giửa chủ thuyết hiến định và giá trị dân chủ, giửa
quyền lực của tối cao pháp viện và sự độc lập của bộ
máy nhà nước. Tình hình này thúc đẩy chính quyền cải tổ
guồng máy chấp pháp và can thiệp mạnh về các vấn đề an
sinh xã hội nhằm đem lại bộ mặt dân chủ hơn cho chính
quyền. Một thí dụ điển hinh là ban hành các luật chấm dứt
tính trạng nô lệ và cho phép phụ nử tham gia đầu phiếu.
Tóm lại, khái niệm về luật hiến pháp có hàm chứa tinh thần
Rule of Law mà quyển tối thượng của nhân dân được tách rời
ảnh hưỏng chính trị. Nhưng đến thế kỷ XX thì học giới
đã đưa ra nhiều phản biện về việc độc quyền giải thích
hiến pháp, tính năng động của tối cao pháp viện và nhất là
xác định lại tầm quan trọng và những giới hạn của Rule of
Law.
(còn tiếp)
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/10742), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét