Nguyễn Văn Tuấn: Tự vấn, tự trọng, tự do, tự đổi mới

<blockquote>Xin giới thiệu các bạn <a
href="http://sgtt.vn/goc-nhin/182783/tu-van-tu-trong-tu-do-tu-doi-moi.html"
rel="nofollow nofollow" target="_blank">một cuộc trò chuyện với
phóng viên trên Sài Gòn Tiếp Thị</a> nhân ngày 2/9/1945. Bài
phỏng vấn này được phóng viên biến thành một bài viết
dưới tựa đề "Tự vấn, tự trọng, tự do, tự đổi
mới". Vì không đủ "đất" nên một số đoạn phải cắt
bỏ trên báo. Thời đại internet có cái hay là độc giả có
thể đọc nguyên bản (dưới đây) bên cạnh bản in, và có
thể rút ra vài nhận xét.

Nguyễn Văn Tuấn</blockquote>


<center><img src="http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=205153"
width="550" /></center>

<b>SGTT: Thưa GS, cảm xúc của GS thế nào khi nghĩ về ngày
độc lập 2/9 của đất nước? </b>

NVT: Tôi nhìn ngày 2/9/1945 như là một ngày Việt Nam giành
quyền độc lập, không còn lệ thuộc ngoại bang. Có lẽ ấn
tượng nhất với tôi là bản tuyên ngôn độc lập do cụ Hồ
Chí Minh đọc và trích từ câu đầu trong bản tuyên ngôn độc
lập của Mĩ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình
đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm
được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Đó là những câu phát
ngôn rất đẹp và lí tưởng. Do đó, có thể nói rằng ngày 2/9
mở đầu cho một lí tưởng nhân văn và cao đẹp cho Việt Nam.
Còn những gì xảy ra sau đó thì cần phải bàn thêm.

<b> SGTT: Ngày Độc lập có gắn với kỷ niệm nào của Giáo sư
không?</b>

NVT: Tôi sinh sau ngày 2/9/1945 và ở trong Nam nên không có kỉ
niệm nào với ngày đó cả. Tuy nhiên, Ba tôi lúc sinh tiền thì
nhắc đến ngày này như là một bước ngoặc trong đời.

<strong>SGTT: Chúng ta có độc lập gần 70 năm qua, nhưng về
mặt phát triển chúng ta vẫn lệ thuộc nhiều thứ của nước
ngoài. (Đơn cử, trong lĩnh vực y tế, mỗi năm dân ta phải
mất rất nhiều tiền để đi các nước chữa bệnh). GS chia
sẻ gì về câu chuyện này?</strong>

NVT: Thật ra, hầu như bất cứ lĩnh vực nào liên quan đến
khoa học, công nghệ, kĩ thuật, chúng ta đều phụ thuộc vào
nước ngoài. Nhìn chung, nhiều kĩ nghệ ở Việt Nam chủ yếu
là gia công, chứ không phải thực sự sản xuất và cũng không
có nghiên cứu khoa học. Chúng ta còn lệ thuộc nước ngoài về
khoa học. Khoảng 80% các công trình nghiên cứu khoa học ở
Việt Nam là do hợp tác với hay qua hỗ trợ từ nước ngoài.

Tôi nghĩ rằng trình độ của chúng ta (người Việt) chưa theo
kịp với những vấn đề mà phát triển kinh tế - xã hội
đặt ra. Điểm xuất phát của chúng ta là một nền văn minh và
văn hóa nông nghiệp, và khi trong quá trình hội nhập thế giới
được định hình bởi nền văn minh công nghiệp, thì nảy sinh
rất nhiều vấn đề. Có nhiều sự chênh lệch giữa nhu cầu
phát triển đặt ra và khả năng đáp ứng của nội lực Việt
Nam. Điều này có thể giải thích tại sao các công trình xây
dựng, công trình nghiên cứu khoa học của Việt Nam không đạt
chất lượng cao.

Ngoài ra, sự phát triển kinh tế và xã hội Việt Nam còn
thiếu tính đồng bộ và thiếu tính hệ thống. Đây đó chúng
ta có những chuyên gia có thực tài, nhưng nhìn chung họ chỉ là
những cá nhân đơn lẻ, không đủ để định hình một nền
khoa học. Ví dụ như Việt Nam có những bác sĩ phẫu thuật
không thua kém gì so với Singapore, nhưng chúng ta không có một
hệ thống hỗ trợ hậu phẫu để lấy được niềm tin tưởng
của bệnh nhân. Có thể chúng ta chỉ giỏi về kĩ thuật, mà
kĩ thuật thì chỉ là một khâu trong nhiều khâu quan trọng.
Chính vì thế mà một số bệnh nhân chưa cảm thấy an tâm và
tin tưởng vào hệ thống y tế của Việt Nam.

<b>SGTT: Khi giành độc lập, VN là một khối thống nhất,
triệu con tim một ý chí quật cường? GS có thể giải mã gì
về hiện tượng này dưới con mắt của một nhà nghiên
cứu?</b>

NVT: Tôi nhớ đến câu "Mùa thu rồi ngày 23 / ta đi theo tiếng
kêu sơn hà nguy biến". Đó lời hiệu triệu chống ngoại xâm.
Do đó, tôi nghĩ bởi đơn giản là lúc đó ai cũng muốn đánh
đuổi ngoại xâm để có được độc lập, tự do, và bình
đẳng. Người Việt Nam có thể bất đồng với nhau về nhiều
vấn đề, nhưng rất đồng lòng trong việc đánh đuổi ngoại
xâm. Ngày nay cũng thế, khi có đe dọa hay nguy cơ từ ngoại xâm
thì người dân đồng loạt đứng lên.

Nhưng lịch sử cũng chỉ ra rằng trong thời bình người Việt
Nam không đoàn kết như trong thời chiến tranh chống ngoại xâm.
Đất nước đã thống nhất gần 40 năm, nhưng lòng người hình
như chưa thống nhất. Bất công xã hội ngày càng nhân rộng.
Khoảng cách giàu nghèo ngày càng rộng hơn. Người Việt trong
và ngoài nước chưa thật sự đồng lòng. Tất cả những yếu
tố đó chỉ làm suy yếu cộng đồng dân tộc, và làm cho Việt
Nam chưa phát triển đúng với tiềm năng của dân tộc.

<b> SGTT: Theo GS, vì sao một dân tộc từng ngẩn cao đầu trong
những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để giữ nước, nhưng
lại là một dân tộc quẩn quanh với mệt nhoài ở những
chặng hoà bình tìm kế bứt phá vươn lên?</b>

NVT: Trong lịch sử cận đại, chưa bao giờ nước ta có một
thời gian hoà bình lâu dài như hiện nay. Thế mà cho đến nay,
Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia nghèo, có thời gian
nằm trong nhóm các nước nghèo nhất thế giới. Câu hỏi đặt
ra là tại sao, và đã có nhiều câu trả lời cũng như cách
tiếp cận câu hỏi đó. Tôi nghĩ lí do gần mà chúng ta có thể
nhận ra được là chúng ta đã dành quá nhiều sức lực và tài
nguyên cho chiến tranh. Đối với các nước lớn, chiến tranh là
một cuộc chơi, hay thậm chí là một thương vụ; nếu không có
lợi thì họ rút lui, họ không mấy quan tâm đến thắng hay thua
theo nghĩa kinh điển. Nhưng đối với nước nghèo như Việt Nam
thì khi chiến tranh xảy ra là dốc toàn lực toàn tâm để giành
thắng lợi. Trong cuộc chiến vừa qua, có trên 50 ngàn quân nhân
Mĩ tử vong, nhưng Việt Nam thì trên 2 triệu người tử vong. Sau
hơn 20 năm chiến tranh thì xã hội có dấu hiệu mệt mỏi cũng
là điều không khó hiểu.

Nhưng tại sao có những nước, như Hàn Quốc và Nhật, họ
lại vươn lên rất nhanh sau chiến tranh, còn Việt Nam thì vẫn
còn nghèo. Có ba giả thuyết chính được đề ra để giải
thích sự khác biệt về mức độ phát triển kinh tế - xã hội
giữa các quốc gia trên thế giới: địa lí / khí hậu, văn
hóa, và thể chế. Có học giả (như Montesquieu chẳng hạn) cho
rằng ở những nước nhiệt đới người dân thiếu óc tò mò,
hay bị mệt mỏi, dễ mắc bệnh, và năng suất lao động thấp,
nên mức độ phát triển không bằng các nước ôn đới. Giả
thuyết thứ hai cho rằng yếu tố văn hóa có ảnh hưởng đến
phát triển, và đã có khá nhiều học giả cho rằng một số
nét về văn hoá Việt Nam là những rào cản cho phát triển kinh
tế trong thời đại toàn cầu hoá. Nhưng một giả thuyết mới
nhất cho rằng một thể chế thiếu dung hợp là một yếu tố
làm cho đất nước nghèo yếu. Một thể thiếu dung hợp như Phi
Luật Tân, trong đó các nhóm lợi ích và đại gia chiếm đoạt
tài nguyên quốc gia thì đất nước không thể nào giàu được.
Có thể nói rằng cả ba giả thuyết trên đây đều có thể
giải thích tại sao Việt Nam nghèo. Chúng ta không thay đổi
được địa lí, nhưng chúng ta có thể thay đổi văn hoá và
tạo ra một thể chế dung hợp hơn nữa, một thể chế mà trong
đó mọi thành viên có cơ hội đóng góp chứ không phải chỉ
vài nhóm lợi ích chiếm đoạt tài nguyên và lũng đoạn quốc
gia.

<b>SGTT: Thách thức lớn nhất đối với việc phát triển đất
nước hiện nay, là gì, thưa GS?</b>

NVT: Tôi nghĩ mối đe dọa lớn nhất đến phát triển đất
nước hiện nay là môi sinh và đạo đức xã hội. Nước ta là
nước nhỏ (về diện tích), mật độ dân số khá cao, và môi
trường sống đang xuống cấp nghiêm trọng. Sự phá hủy môi
sinh ở Việt Nam rất ư là kinh khủng, và nếu không ngăn chận
hay khắc phục kịp thời, thì chúng ta sẽ không có gì để
lại cho các thế hệ tiếp nối. Kinh nghiệm của các nước như
China cho thấy phát triển kinh tế nhanh nhưng phá hủy môi
trường sẽ làm cho sự phát triển trả giá rất đắt về lâu
dài.

<b> SGTT: Theo GS, trong giai đoạn hiện nay, cách thức nào hạn
chế những thức thức đó để đưa dân tộc đi lên? </b>

NVT: Tôi nghĩ chúng ta nên quay lại với một lí tưởng quan
trọng của ngày 2/9/1945: đó là tự do. Hai chữ này có thể
hiểu rất khác nhau giữa các cá nhân, nhưng ở đây, tôi muốn
hiểu tự do theo nghĩa tự do tinh thần, tự do chính trị, và
tự do kinh tế. Tự do tinh thần đồng nghĩa với tự do lựa
chọn niềm tin, triết lí, và không lệ thuộc vào người khác.
Tự do chính trị là tiền đề của một thể chế dân chủ.
Cần phải đảm bảo quyền tự do ngôn luận và quyền tranh
luận của xã hội và công dân đối với những hoạt động
đó. Tự do kinh tế là động lực và cũng là nguyên khí của
phát triển kinh tế xã hội. Do đó, tôi rất tâm đắc với
nhận xét của Amartya Sen (nhà kinh tế học gốc Ấn Độ được
trao giải thưởng Nobel kinh tế) rằng "phát triển như là tự
do".

<b>SGTT: Những trở trăn của GS với ngành y ở Việt Nam là gì?
Làm thế nào để có một ngành y mạnh và theo triết lý phụng
sự người dân?</b>

NVT: Tôi nghĩ tình trạng y tế và bệnh tật ở nước ta thật
đáng lo ngại. Trước đây, chúng tôi đã từng lên tiếng rằng
số người chết vì tai nạn giao thông làm nhức nhối xã hội,
nhưng nguyên nhân tử vong trong các bệnh viêm phổi, viêm họng,
viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp, tiêu chảy, viêm
dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn, cúm, sốt rét
còn cao hơn nhiều. Mẫu số chung của các bệnh này là tình
trạng thiếu dinh dưỡng vì nghèo khó, là môi trường bị ô
nhiễm trầm trọng.

Nền y tế của VN càng ngày càng bị thương mại hóa. Nhiều
người nhìn thấy ngành y là một môi trường kinh doanh để
kiếm tiền nhanh, hơn là một thiên chức chăm sóc sức khỏe cho
người dân. Y đức đang là một vấn đề nhức nhối, và đang
làm rẻ rúng ngành y và suy giảm uy tín của những người làm
trong ngành y.

Chúng tôi từng đề nghị và xin nhắc lại: cần phải tăng
đầu tư xây dựng bệnh viện, xây dựng các cơ sở y tế ở
nông thôn và phổ cập bảo hiểm y tế để người nghèo có
thể tiếp cận dịch vụ y tế với phụ phí thấp. Nên có
chính sách miễn phí khám bệnh và phí nhập viện cho người
dân nghèo hoặc cận nghèo.

<b>SGTT: Triết lý phát triển nào cho Việt Nam là phù hợp với
bối cảnh hiện nay, thưa thầy?</b>

NVT: Người ta hay nói đến triết lý phát triển, còn tôi thì
suy nghĩ đến nguyên lý phát triển. Tôi nghĩ đến nguyên lý
"phát triển bền vững" sẽ là cách phù hợp nhất để
Việt Nam đi lên trong bối cảnh hiện nay. Phát triển đi đôi
với huỷ hoại môi sinh, hay phát triển mà chỉ lệ thuộc
nước ngoài về khoa học và công nghệ, thì không thể xem là
phát triển lâu dài được. Do đó, phát triển bền vững có
nghĩa là chú trọng chất lượng cuộc sống cho người dân, và
đồng thời tăng nội lực dân tộc.

<b>SGTT: Câu chuyện giáo dục truyền thống ở những nước
phát triển thường được kể lại cho dân họ như thế nào,
thưa GS?</b>

NVT: Có danh nhân từng nói đại khái rằng biết được sự
thật sẽ làm cho chúng ta tự do. Sự thật có thể không phải
lúc nào cũng đẹp, nhưng vẫn là bài học để chúng ta vươn
lên. Ở Úc, tôi thấy họ lấy cuộc chiến mà Úc thất trận ra
dạy cho học sinh tiểu học và trung học. Họ không mặc cảm
vì thất trận. Nhưng họ cũng không hạ thấp đối phương (là
cựu thù). Trong sách giáo khoa sử của Úc, tôi không thấy
những hận thù trong đó, tất cả sự kiện đều được trình
bày bằng một văn phong khách quan và không cảm tính. Tôi
được biết ở Nhật, người ta cũng dạy học sinh rằng Nhật
từng là nước chiến bại.

<b> SGTT: Làm thế nào để những người trẻ ý thức được
rằng, để có độc lập dân tộc ta phải trả bằng máu, vậy
đưa đất nước đi lên là trách nhiệm của những người con
người hiện tại?</b>

NVT: Tôi cho rằng, trong việc giáo dục lòng yêu nước, cần
phải truyền đạt cho giới trẻ nằm lòng rằng: làm thế nào
để không cần đổ xương máu mà vẫn có độc lập. Chuyện
quá khứ là quá khứ, nhưng chuyện quan trọng hơn là hiện
tại: Việt Nam đang đứng trước một chặng đường đầy nguy
cơ: kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học đều suy thoái, nền
tảng đạo đức xã hội lung lay và trên nhiều mặt ngày càng
lệ thuộc vào nước láng giềng phương Bắc. Để tránh nguy cơ
đó, tôi nghĩ mỗi chúng ta phải tự mình đổi mới. Mỗi chúng
ta, chứ không ai khác, có nghĩa vụ đưa đất nước đi lên.

<strong>SGTT: Xin cảm ơn GS! </strong>


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130902/nguyen-van-tuan-tu-van-tu-trong-tu-do-tu-doi-moi),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét