David Brown - TPP: Sự cần thiết đối với Việt Nam

<img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgS07AgHr4XZBkbmYynKJrsnmEcwvVovPh_3sgwroYvVhK5dbyurP3Tn0iaVj1aDzVN4SFvhnYOMO4nVeLlz4djVME-GrudIfnef3XyLLBCABpUNghl89VJCmnUqIC7xXq5ejjJdJVqzWw/s320/Asia+Sentinel+3.9.13.jpg"
width="320">
Thử đi thì mới biết

<strong> Hà Nội rất cần đến hiệp định thương mại toàn
diện này nhưng Washington sẽ đưa ra nhiều đòi hỏi khó
khăn</strong>

Sự thịnh vượng của một khu vực phụ thuộc nhiều vào
kết quả của các cuộc đàm phán thương mại đa phương, cho
dù chúng không phải là loại sự kiện khiến người ta phải
hồi hộp. Minh chứng ở đây là Hiệp định Đối tác Xuyên
Thái Bình Dương (TPP): 12 quốc gia vốn rất khác biệt gặp nhau
ở Brunei từ ngày 23 đến 30.8 để tiến hành vòng đàm phán
thứ 19, và rồi tin tức duy nhất sau một tuần nỗ lực khác
là họ lại lần nữa trì hoãn việc đưa ra quyết định.

Sẽ không có một hiệp định nào cho các vị nguyên thủ
quốc gia ký vào tháng Mười tới đây cả. Liệu đấy có phải
là dấu hiệu xấu, nếu bạn là một thương nhân tự do? Một
dấu hiệu tốt, nếu bạn là một người theo chủ nghĩa bảo
hộ (protectionist) hay nằm trong số những người vẫn coi "toàn
cầu hoá" là một từ bẩn thỉu? Hay đây chỉ là một bằng
chứng cho thấy rằng những chính phủ vẫn đang giám sát đến
40% số của cải trên toàn thế giới sẽ dành bất cứ thời
lượng nào để làm cho ra nhẽ thứ mà Washington gọi là
"hiệp định thương mại thế kỷ 21" đầu tiên của thế
giới?

12 quốc gia này quả là một nhóm khập khiểng và bất đối
xứng. Chile, Peru và Mexico. Hoa Kỳ và Canada. Singapore, Malaysia,
Brunei và Việt Nam. New Zealand và Australia. Rồi giờ là cả Nhật
Bản, nhưng đáng chú ý là sự thiếu vắng của cả Hàn Quốc
lẫn Trung Quốc. 12 nước tham gia đàm phán, người ta nói vậy,
bởi cách thức duy nhất để thuyết phục một đối tác cụ
thể như Washington mở cửa thị trường hơn nữa cho những hàng
hoá mà họ sản xuất tiến vào là đáp ứng đòi hỏi của
những ngành công nghiệp thâm dụng tri thức ở Hoa Kỳ – ngân
hàng, bảo hiểm, tài chính, viễn thông, dược phẩm, giải trí
– để đổi lấy cơ hội tiếp cận bình đẳng tới các thị
trường nước ngoài và sự tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ.

Đây là vấn đề phức tạp và thực sự đòi hỏi tri thức
chuyên sâu, điều chưa hề làm nản lòng các nhà phân tích
chính sách khiến họ khỏi đưa ra những giải thích khác nhau.
Hai nỗ lực nổi bật trong phạm vi 20.000 từ nằm ở <a
href="http://www.fas.org/sgp/crs/row/R42694.pdf">đây</a> và ở <a
href="http://www.piie.com/publications/pb/pb12-16.pdf">đây</a>.

Một cách khác để hiểu được những kịch bản cố hữu
trong Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương là xem xét
cuộc đàm phán từ góc độ quốc gia – chẳng hạn như từ
phía Việt Nam. Tại sao một nước vừa mới thoát ra khỏi ranh
giới nghèo đói lại khát khao chạy đua với những gã khổng
lồ?

Theo quan điểm của một số nhà phân tích – chẳng hạn như
Greg Rushford ("Báo cáo Rushford" là một tài liệu mà các nhà
vận động hành lang chính sách thương mại ở Washington không
thể bỏ qua được) – đối với Việt Nam, chuyện này chỉ là
về dệt may và da giày mà thôi. Kể từ khi vứt bỏ chủ nghĩa
xã hội cách đây hai mươi lăm năm, Việt Nam đã tạo được
một ngách thị trường chắc chắn ở Mỹ với các sản phẩm
xuất khẩu là áo sơ mi, giày thể thao, v.v.

Dệt may và da giày là những ngành thâm dụng lao động và
liên tục chiếm khoảng 20% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu
của Việt Nam. Chúng bắt đầu tiến ra thị trường thế giới
những năm 1990, bởi theo chương trình quota của EU và Hoa Kỳ
lúc đó thì các sản phẩm dệt may và da giày xuất khẩu của
Trung Quốc bị khống chế số lượng. Một số dây chuyền sản
phẩm cuối cùng được chuyển sang Việt Nam để khai thác lợi
thế quota ở đây. Những nhà máy này là làn sóng đầu tiên
của chính sách công nghiệp hoá lấy xuất khẩu làm động lực
của Việt Nam. Chúng hoạt động hiệu quả đến mức vẫn
tiếp tục tồn tại sau khi chế độ quota chấm dứt và thực
sự giành được thị trường.

Những sản phẩm chuyên môn hoá được các nhà bán lẻ cung
cấp; họ cũng thu xếp nguồn cung cho các loại vải, da, chỉ,
dây khoá kéo, cúc… chủ yếu là từ Trung Quốc; sản phẩm
được gia công trong các nhà máy sử dụng nhân công giá rẻ ở
Việt Nam rồi sau khi hoàn tất vận chuyển tới Hoa Kỳ, EU hay
Nhật Bản. Cạnh tranh diễn ra khốc liệt.

Vài năm trước, Việt Nam được ca ngợi như một "Trung
Quốc tương lai". Người ta kháo nhau là các nhà sản xuất
dệt may và da giày ở Quảng Đông sắp sửa chuyển hàng loạt
sang Việt Nam, trước sự cuốn hút của mức chi phí nhân công
chỉ bằng 30% ở Trung Quốc. Tuy nhiên, điều đó đã không xẩy
ra. Với công việc cắt may, hoá ra là lực lượng lao động
thậm chí còn rẻ hơn lại sẵn có ở Campuchia, Bangladesh hay
Myanmar, địa chỉ ưa thích mới. Với mọi thứ còn lại, các
nhà máy ở Trung Quốc đơn giản là hoạt động hiệu quả hơn.

Các nhà sản xuất theo đơn hàng ở Việt Nam phải chịu áp
lực cắt giảm lương rất lớn. Công nhân thì vẫn không ngừng
đòi hỏi lương thưởng cao hơn, trong khi chỉ một số ít chủ
nhà máy dệt may hay da giày là có khả năng đầu tư vào những
máy móc thiết bị hiệu quả hơn. Đối với họ, TPP giống như
chiếc phao cứu sinh. Hà Nội nhận thấy cơ hội khác thường
để mở rộng thị phần của mình trong thị trường trang phục
thể thao mênh mông của Mỹ mà kẻ chịu thiệt hại là Trung
Quốc – tức là, nếu Washington hợp tác.

K-Mart và Wal-Mart, Nike và Levi Strauss, cũng như các nhà bán lẻ
khác vẫn tìm nguồn hàng từ nước ngoài đang thúc đẩy các
nhà đàm phán thương mại Hoa Kỳ trở nên hữu ích. Các công ty
vẫn đang quay sợi bông ở Mỹ thì lại không. Họ đang gây áp
lực rất lớn lên Washington là đòi duy trì một hệ thống gọi
là "yarn forward" [i] và giữ nguyên chế độ bảo hộ thuế
quan đối với ngành dệt may của Hoa Kỳ, hiện đánh thuế bình
quân 17% lên hàng hoá của Việt Nam. Tương tự, các nhà sản
xuất giày cuối cùng của Mỹ cũng đang gây sức ép đòi duy
trì thuế suất nhập khẩu từ 11 đến 70%.

Nguyên tắc "yarn forward" đòi hỏi mọi công đoạn của quy
trình sản xuất một sản phẩm dệt may phải diễn ra hoặc ở
Hoa Kỳ hoặc ở mối đối tác thương mại được hưởng quy
chế ưu đãi, chẳng hạn, nếu TPP có hiệu lực, như ở Việt
Nam hay các thành viên TPP khác. Ngay cả một mẩu thành phần
ngoài TPP cũng khiến cho sản phẩm may mặc đó không còn đủ
điều kiện để hưởng thuế suất 0% nữa. Yêu cầu "yarn
forward" sẽ phá vỡ các chuỗi giá trị vẫn cung ứng vải, da,
chỉ, dây khoá kéo, cúc… của Trung Quốc cho các nhà máy gia
công ở Đồng bằng Sông Hồng và vùng ngoại ô Tp Hồ Chí Minh.
Các nhà đàm phán Việt Nam phản đối rằng "yarn forward" là
điều khoản khiến đàm phán bế tắc. Nhưng, nếu tin đã
được tiết lộ trên truyền thông Việt Nam là chính xác thì
bên Việt Nam đã được Washington đống ý đến một giai đoạn
điều chỉnh kéo dài 3 năm. Và nếu Việt Nam nhanh nhạy thì đó
là tất cả những gì mà họ cần để được chén bữa ăn
trưa của Quảng Đông.

Trong kịch bản này, trớ trêu thay, những người được
hưởng lợi lại không phải là các nhà sản xuất sợi của
Mỹ mà lại là những doanh nhân Đài Loan, Hàn Quốc và Trung
Quốc có thể đã cấp tập di chuyển các nhà máy sản xuất
chỉ, vải, cúc và khoá kéo vào Việt Nam, trước sự khích lệ
từ các khách hàng Mỹ của mình. Nếu không có gì thay đổi,
thu nhập từ xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng lên rất lớn.
Viện Peterson (Peterson Institute) dự đoán, đến năm 2025 Việt Nam
sẽ giàu có hơn 14% so với mức độ nếu họ không tham gia TPP.
Đó là trừ khi Trung Quốc cũng tham gia TPP, không phải là một
triển vọng trong tương lai gần nhưng cũng không phải là điều
mà người ta không thể nghĩ tới. Thiết tưởng không cần
phải nói thêm ở đây rằng các nhà phân tích thương mại
thống nhất là trong số 12 nước đang tham gia đàm phán, Việt
Nam sẽ là nước được hưởng lợi nhiều nhất từ sự ra
đời của TPP.

<b>"Chẳng có bữa ăn trưa miễn phí nào cả"</b>

Theo các nhà phân tích, Việt Nam được chào đón vào TPP chính
xác là vì họ không phải là Trung Quốc. Họ lập luận rằng
Trung Quốc sẽ không chấp nhận những "nguyên tắc" cơ bản
của hiệp định thế kỷ 21 này: một sân chơi bình đẳng cho
các chủ thể trong và ngoài nước, việc thực thi chặt chẽ
quyền sở hữu trí tuệ, các nghiệp đoàn tự chủ, quyền của
nhà đầu tư nước ngoài trong việc đưa sự vụ ra một ban
trọng tài quốc tế để phán xét Bắc Kinh nếu nhà đầu tư
đó tin rằng quyền lợi của mình đã bị tổn hại.

Một số người phỏng chừng rằng TPP, giống như phần còn
lại trong chiến lược "xoay trục" của Hoa Kỳ, là nhằm
kiềm toả siêu cường đang nổi lên đầy quyết đoán kia. Một
cách lý giải tinh tế hơn ở đây cũng có cơ sở: với Việt
Nam như một đại diện biết phục tùng, Washington muốn cho Bắc
Kinh thấy điều gì là khả dĩ nếu họ lựa chọn hợp tác thay
vì đối đầu.

Bất kể theo cách lý giải nào người ta cũng có lý do để
băn khoăn là không biết liệu Việt Nam có sẵn sàng tiến tới
các nguyên tắc kia hay không, liệu Việt Nam có thực sự đủ
năng lực chính trị hay năng lực hành chính để san bằng sân
chơi cho các nhà đầu tư nước ngoài hay không.

Hệ thống kinh doanh của Việt Nam chỉ là bán tự do, và chính
ở đây có một trở ngại. Suốt hai thập niên, các nhà cải
cách kinh tế và những kẻ dàn xếp quyền lực khục khặc với
nhau. Bên cạnh một khu vực kinh tế tư nhân năng động và
định hướng xuất khẩu thì khu vực DNNN vẫn chi phối nền
kinh tế nội địa của Việt Nam. Khu vực DNNN khai thác 60% tổng
tài sản quốc gia nhưng lại chỉ sản xuất ra được 40% của
cải. Được Ngân hàng Châu Á (ADB) và Ngân hàng Thế giới (WB)
khích lệ, các nhà cải cách khao khát chia tách và tư nhân hoá
các DNNN, nhưng họ thường xuyên phải thất vọng trước liên
minh mật thiết giữa giới quan chức cùng các chiến hữu trong
khu vực DNNN.

Một số người phỏng đoán rằng Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng và chính phủ của ông muốn đưa Việt Nam tham gia vào TPP
chính xác là vì điều đó cho phép họ khắc chế được phe
cánh muốn duy trì hiện trạng trong Đảng CS cầm quyền và ép
buộc những thiết chế thủ cựu phải thay đổi. Điều đó có
thể đúng; đây không phải là chuyện dễ dàng gì. Cái giá mà
Việt Nam phải trả để được tham gia TPP là những cam kết
hết sức khó thực thi. Đó là:

<ul> <li ><i>Một sân chơi bình đẳng cho các nhà đầu tư nước
ngoài.</i> Hà Nội sẽ phải chấm dứt việc dành cho các DNNN cơ
hội tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của ngân hàng, nguồn tài
trợ dưới chuẩn thị trường, ưu đãi thuế, vốn bổ sung,
những ưu đãi mua sắm công và những lợi thế khác khiến cho
các doanh nghiệp nước ngoài bị bất lợi về cạnh tranh.</li>
<li ><i>Xoá bỏ thuế suất nhập khẩu hiện ở mức bình quân
gần 10% xuống 0% đối với hàng hoá của các đối tác TPP</i>.
Áp đặt mạnh mẽ quyền sở hữu trí tuệ. Các doanh nhân Việt
Nam có đầu óc kinh doanh vẫn thản nhiên sao chép và bán lại
bất kể thứ gì mà họ thấy hợp với mình, trong khi những
luật lệ về bảo hộ bản quyền và patent lại không được
thực thi. Đó là một thông lệ thực sự gây khó khăn cho các
ngành công nghiệp âm nhạc, điện ảnh, truyền hình, phần mềm
và dược phẩm của Mỹ.</li>
<li ><i>Quyền tự chủ cho các nghiệp đoàn. </i>Các nghiệp đoàn
lao động của Việt Nam và tất cả các tổ chức dân sự khác
là những công cụ kiểm soát của nhà nước. Quyền thương
lượng tập thể với giới chủ cũng như quyền đình công bị
giới hạn. Tuy nhiên, TPP sẽ đòi hỏi các thành viên phải đáp
ứng các chuẩn mực của Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO).</li>
<li ><i>Bảo vệ môi trường</i>. TPP sẽ đòi hỏi Việt Nam phải
trấn áp nạn buôn bán các loài động thực vật đang bị đe
doạ tuyệt chủng.</li>
<li ><i>Giải quyết tranh chấp doanh nhiệp - nhà nước</i>. Bản
dự thảo TPP sẽ cho phép những doanh nghiệp nước ngoài nào tin
rằng hành động của chính phủ – kể cả những chuẩn mực
bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng đã được cải
thiện – đã gây tổn hại đến vị thế cạnh tranh mình
được quyền yêu cầu trọng tài quốc tế phân xử. Australia
kiên quyết chống lại điều khoản này, vì thế họ có thể
sẽ không xuất hiện trong bản thảo cuối cùng.</li>
<li ><i>Tôn trọng nhân quyền</i>. Ngoài việc yêu cầu các thành
viên tôn trọng quyền tự do của lao động để tổ chức và
thương lượng tập thể, TPP sẽ không xử lý thông lệ nhân
quyền của các thành viên. Tuy nhiên, một nhóm ngày càng đông
dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ lại có cái nhìn tiêu cực về cách
thức Hà Nội vẫn đối xử với những người bất đồng
chính kiến và có thể nêu những hạn chế về tự do ngôn
luận như một lý do để phản đối việc phê chuẩn TPP, hoặc
thay vì thế, để loại trừ Việt Nam.</li> </ul>

Sáu năm trước, việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO) được ca ngợi như một bước đi đảm bảo cho sự
cạnh tranh thành công của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu.
Điều đó đã không hoàn toàn diễn ra như thế. Dòng vốn đầu
tư nước ngoài đã ồ ạt đổ vào Việt Nam như kỳ vọng, song
quá nhiều dòng tiền lại được chuyển hướng sang các DNNN
để rồi chúng lại vung vãi vào các dự án đầu cơ.

Sau hai cơn lạm phát mạnh mẽ và một nỗ lực vô vọng hòng
duy trì tốc độ tăng trưởng cao trước ảnh hưởng của cuộc
suy thoái toàn cầu, nguồn vốn đầu tư nước ngoài mới đã
cạn kiệt và nền kinh tế Việt Nam lâm vào suy thoái. Chính
phủ rốt cuộc thắt chặt tín dụng vào năm 2011, điều này
tránh thêm nhiều vụ vỡ nợ nhưng lại khiến cho khu vực kinh
tế tư nhân của Việt Nam rơi vào tình cảnh thiếu hụt nguồn
vốn mà nó cần để hưởng lợi từ sự phục hồi của nền
kinh tế toàn cầu. Giờ đây các nhà tư bản nội địa đoản
vốn của Việt Nam vẫn đang phải vật lộn trong khi, trớ trêu
thay, khu vực đầu tư nước ngoài lại đang bùng nổ.

Như vậy, bên cạnh việc phải ứng phó với sự kháng cự
của những thành phần thủ cựu trong bộ máy, chính phủ của
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn phải đương đầu với sự
hoài nghi rằng TPP sẽ không đáp ứng được những kỳ vọng
mà người ta đã quảng bá từ trước. Phần lớn các chuyên gia
kinh tế và doanh nhân Việt Nam sẽ vui mừng khi được chứng
kiến những cải cách mà hiệp định TPP bắt buộc song lại
nghi ngờ rằng chúng sẽ được hiện thực hoá. Đồng thời, ý
thức rõ về những rào cản mà người Mỹ nặn ra để hạn
chế tôm và cá da trơn nhập khẩu của Việt Nam, họ cũng băn
khoăn là không biết liệu cụ thể ở đây là Hoa Kỳ có thực
hiện đúng những cam kết mở cửa thị trường của mình hay
không.

Bất chấp những nghi ngại, dường như Hà Nội đã quyết tâm
hướng về phía trước. Những bài bình luận trên các phương
tiện truyền thông gần gũi với chế độ thừa nhận những
thách thức nhưng đồng thời cũng bày tỏ niềm lạc quan.
"Hiệp định TPP là một sân chơi tốt để những nền kinh
tế như chúng ta thúc đẩy sự phát triển của những lĩnh vực
then chốt như dệt may, da giày và nông sản", Đài Tiếng nói
Việt Nam nhận định. "Sau khi chúng ta tham gia hiệp định,
dòng hàng hoá và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài sẽ đổ
vào Việt Nam, đem lại động lực mới để đất nước tăng
trưởng mạnh hơn." Và, nhiều người hy vọng, động lực
để cải cách mạnh hơn nữa.

<i>David Brown là quan chức ngoại giao hồi hưu của Mỹ, người
chuyên về Đông Nam Á và đặc biệt lưu ý đến những vấn
đề của Việt Nam</i>

<strong><i>Nguồn:</i></strong> <a
href="http://www.asiasentinel.com/index.php?option=com_content&amp;task=view&amp;id=5680&amp;Itemid=238">Asia
Sentinel</a> / <a
href="http://vietnamhumanrightsdefenders.net/2013/09/03/tpp-su-can-thiet-doi-voi-viet-nam/#more-9459"
target="_blank">Defend the Defenders</a>

____________________

[i] Tạm dịch: tính từ sợi. Đây là nguyên tắc xuất xứ hàng
hoá cơ bản của ngành dệt may trong Hiệp định Thương mại
Tự do Bắc Mỹ (NAFTA – gồm Hoa Kỳ, Canada và Mexico). Điều
này có nghĩa là sợi để sản xuất ra vải, thứ sau đó có
thể được sử dụng để sản xuất quần áo hay các mặt hàng
dệt may khác, phải có nguồn gốc từ một nước thuộc NAFTA
thì sản phẩm dệt may ấy mới được coi là có nguồn gốc
từ nước thuốc NAFTA đó. Như vậy, một chiếc áo sơ mi sản
xuất ở Canada từ vải dệt ở Canada mà sợi len (wool yarn) dệt
vải lại do Argentina sản xuất thì chiếc áo đó sẽ không
được coi là có xuất xứ từ một nước thuộc NAFTA. Tuy
nhiên, nếu sợi bông Argentina được nhập khẩu vào Canada và
cuốn thành sợi len ở đây rồi được dùng để dệt vải thì
chiếc áo sơ mi đó sẽ được coi là có xuất xứ từ Canada.
(ND)

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130904/david-brown-tpp-su-can-thiet-doi-voi-viet-nam),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét