Trần Minh Khôi - Sự suy thoái chính trị và trường hợp của Vương tộc Lý (I)

<em><strong>(Bản thảo, tiếp theo loạt bài <a
href="http://danluan.org/node/11299">Sự suy thoái chính trị và lối
thoát của Đảng Cộng sản Việt Nam</a>)</strong></em>

Năm Trị Bình Long Ứng thứ 3, Đinh Mão, 1207, Vua Lý Cao Tông
xuống chiếu, xin hối lỗi vì đã nghe lời gian nịnh gây ra
bất công và oán hờn nơi dân chúng. Vua hứa sẽ chỉnh đốn
những sai lầm và về lại với dân. Việt Sử Lược viết,
"<em>Những người có đất đai, sản nghiệp bị mất về tay
các quan thì được trả lại tất cả</em>".

Nhưng đã quá trễ.

Sự suy thoái chính trị, bắt đầu từ vài thập niên trước
đó, đã làm mục ruỗng các cơ cấu quyền lực của vương
triều trên mức có thể cứu vãn được. Hai mươi năm cuối
cùng của vương triều này chứng kiến cảnh quan quyền nhũng
nhiễu, mua quan bán chức, các thế lực đặc quyền nổi dậy
thách thức quyền lực trung ương, gây nên cướp bóc loạn
lạc. Khi Vương tử Sảm, con Vua Lý Cao Tông, chạy loạn Quách
Bốc về Hải Ấp nương nhờ quyền thế của Trần Lý, rồi
lấy con gái của ông ta, dọn đường cho hai con trai của Trần
Lý là Trần Thừa và Trần Tự Khánh vào chính trường, thì số
phận của Vương tộc Lý coi như đã được định đoạt. Việc
Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là
Trần Cảnh, con trai của Trần Thừa, cháu nội Trần Lý, chỉ
còn là vấn đề hợp thức hóa một thực tại quyền lực mới
của Đại Việt.

Như đã nói ở (các notes) trên, sự suy thoái chính trị của
các vương triều bắt đầu từ một tiến trình mà ở đó các
vị trí công quyền của nhà nước được xếp đặt bởi các
quan hệ nội thân, hoặc bằng việc mua bán, chứ không bằng
các định chế tuyển chọn nhân sự. Fukuyama gọi tiến trình
này là tiến trình tái thân tộc hóa. Nó tạo nên những thế
lực đặc quyền ràng buộc nhau bằng quyền lợi. Các thế lực
đặc quyền này dùng quyền lực đang có để duy trì các định
chế có lợi cho họ và ngăn cản sự chuyển hóa các định
chế xã hội theo hướng phát triển, đưa đến sụp đổ.

Sự chính đáng chính trị của một thế lực cầm quyền
trước hết được đặt trên một số ý niệm về công lý. Ở
mức độ quảng chúng nhất, những ý niệm công lý này chứa
đựng nội dung của tính công bằng về các cơ hội tiến thân
trong các cơ cấu quyền lực nhà nước. Một vương triều
được coi là chính đáng khi nó tạo được ấn tượng về
những ý niệm công lý như thế. Sự thân tộc hóa làm phá sản
tính chính đáng này. Sự sụp đổ của các định chế và sự
thiếu tính chính đáng của quyền lực là hai mặt của tiến
trình suy thoái chính trị. Nó đang xảy ra với Đảng tộc đang
cầm quyền hiện nay, cũng như nó đã xảy ra với Vương tộc
Lý một ngàn năm trước.

Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân và thiết lập nên
quân chủ đầu tiên của Đại Việt nhưng ông không phá bỏ
được các thế lực chính trị vùng miền đã tồn tại hàng
trăm năm trước đó từ thời Bắc thuộc. (Phải đợi hơn 400
năm sau, khi Nhà Minh đô hộ, thì các thế lực vùng miền này
mới thật sự bị phá bỏ. Chế độ quân chủ phong kiến sụp
đổ nhường chỗ cho chế độ quân chủ tập quyền của Nhà
Hậu Lê). Hai vương triều Đinh, Lê ngắn ngủi trong 43 năm kế
tiếp đã cố gắng xây dựng một cơ chế nhà nước trung
ương, đặt các hệ thống quan lại và kỷ cương mô phỏng theo
khuôn mẫu của các triều đình phương Bắc. Nhưng quan hệ
quyền lực trên thực tế vẫn dựa trên các quan hệ phụ dung
(vassalage) giữa các thế lực vùng miền. Các thế lực công,
hầu, bá ở các địa phương trông đợi ở thế lực vương
tộc sự bảo hộ cho quyền lực và quyền lợi cát cứ của
họ. Khi họ cảm thấy thế lực vương tộc không còn có khả
năng này thì họ nhanh chóng ủng hộ một thế lực khác hoặc
tự họ, nếu đủ mạnh, thu tóm quyền lực nhà nước, như
trường hợp Trần Tự Khánh mở đầu cho Vương tộc Trần sau
này. Khi Thái hậu Dương Vân Nga sai thủ lĩnh Nam Sách là Phạm
Cự Lạng làm đại tướng để chuẩn bị đánh Tống thì Phạm
Cự Lạng đã vào thẳng trong cung, "Nay chúa thượng còn nhỏ
dại chưa hiểu biết được sự siêng năng, khó nhọc của bọn
chúng tôi. Nếu như có một thước tấc công lao nào thì rồi ai
biết cho. Không bằng cái cách là trước Thập Đạo Tướng
Quân lên ngôi Thiên Tử rồi sau mới ra quân" (VSL). Điện tiền
chỉ huy sứ Lê Hoàn lên ngôi. Khi Lê Ngọa Triều mất, con nối
ngôi còn nhỏ, quan Chi hậu Đào Cam Mộc bàn với quần thần,
"Bọn chúng ta không nhân lúc này mà lập Thân Vệ làm Thiên
tử rồi bất chợt có biến thì còn giữ được người thủ
lãnh không?" (VSL). Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công
Uẩn lên ngôi. Sấm kệ của Vạn Hạnh chỉ đóng vai trò của
một công cụ tuyên truyền để thiết lập tính chính đáng ban
đầu cho thế lực của mình mà thôi.

Cơ sở quyền lực của nhà nước Đại Việt của Lý Thái Tổ
vẫn dựa trên mối quan hệ cân bằng giữa thế lực trung ương
của "hoàng đế điền chủ" (chữ của Tạ Chí Đại
Trường) và thế lực địa phương của các gia tộc điền
chủ. "Hoàng đế điền chủ" thiết lập tính chính đáng
lãnh đạo trên các thế lực khác bằng hai cách: i) dùng quyền
lực quân sự để một mặt đè bẹp các thế lực chống đối
mặt khác che chở các thế lực yếu hơn trong quan hệ phụ dung
(vassalage), và ii) thiết lập một định chế có tính công lý
cho việc thưởng phạt và hình luật như ban phát chức tước
và quan hệ hôn nhân, một mặt cũng để củng cố quan hệ với
các thế lực địa phương, và ban hành hình luật chung. Ngược
lại các thế lực điền chủ địa phương chấp nhận vai trò
bảo hộ và thường xuyên triều cống cho "hoàng đế điền
chủ". Những điền chủ, thủ lĩnh, lãnh chúa có công với
vương triều được ban các tước công, hầu, bá và thăng quan
tiến chức trong cơ chế nhà nước. (Tô Hiến Thành là trường
hợp ngoại lệ được ban tước vương, một chức tước chỉ
ban cho người của vương tộc, vì phải trông coi ấu chúa.)
Đây là hai định chế quan trọng nhất cho sự ổn vững của
quyền cai trị của vương triều. Việc xây dựng chùa chiền,
đền đài, thành quách ở những đời vua đầu khi vương triều
đang lên được coi là biểu hiện của quyền uy nhưng từ đời
Vua Anh Tông trở đi khi vương triều suy thoái lại chính là
nguyên nhân đưa đến sự bất mãn trong xã hội, gây nên đói
kém, loạn lạc.

Trong 5 năm đầu ở ngôi, Lý Thái Tổ phải tự mình đưa quân
đi chinh phạt các thế lực chưa qui phục ở vùng biên châu Ái,
châu Diễn. Từ năm 1014 trở đi, vua sai Dực Thánh Vương, Khai
Quốc Vương, hoặc chính Thái tử Lý Phật Mã đi dẹp loạn.
Làm vua 20 năm, 9 năm Lý Thái Tổ phải đương đầu với các
thế lực chống đối địa phương.

Khi Lý Thái Tông nối ngôi, năm 1028, thì quyền lực của vương
triều vẫn chưa ổn vững. Việc tranh giành quyền bính xảy ra
trong nội bộ vương tộc. Dực Thánh Vương, Võ Đức Vương
muốn giết Thái tử Phật Mã. Khai Quốc Vương làm phản ở
Trường An. Liên tục các năm 1029, 1031, 1033, 1035, 1036, 1037, 1039
các thế lực địa phương nổi lên ở châu Ái, châu Hoan, châu
Định Nguyên, châu Trệ Nguyên, rồi châu Ái, châu Đô Kim,
Thường Tân, Bình Nguyên, Quảng Nguyên (Nùng Trí Cao). Năm 1042
châu Giao nổi loạn. Năm 1043, châu Ái lại nổi loạn. Lý Thái
Tông ở ngôi 26 năm, 15 năm có loạn. Nhiều lần chính vua phải
tự đem quân đi chinh phạt.

Số lượng những cuộc nổi loạn của các thế lực địa
phương giảm đi trong hai đời vua kế tiếp. Đến đây, hơn
nửa thế kỷ từ khi Lý Thái Tổ thiết lập vương triều,
Vương tộc Lý mới thật sự khẳng định quyền lực của
mình. Lý Thánh Tông ở ngôi 19 năm nhưng chỉ phải đương đầu
với bốn cuộc phản loạn ở vùng biên vào các năm 1057, 1061,
1064, và 1065. Lý Nhân Tông, với chiến thắng Ung Ninh trên đất
Tống năm 1074 và cuộc đại phá quân Tống hai năm sau đó trên
sông Như Nguyệt, cả hai dưới sự lãnh đạo của Thái úy Lý
Thường Kiệt, thuộc dòng họ Quách, đạt đến đỉnh cao của
sự thịnh trị của vương triều. Ngoài cuộc tạo phản của
quan Chi hậu hoằng Nguyễn Ba Tư, năm 1082, âm mưu đảo chính
của Thái sư Lê VănThịnh, năm 1096, và âm mưu phản nghịch
của Tô Hậu và Kỷ Sùng năm 1109, trong 56 năm làm vua, Lý Nhân
Tông chỉ đối đầu với hai cuộc nổi loạn ở Động Sa Ma,
năm 1083 và 1119. Chiến thắng quân Tống năm 1076 đã đem lại
cho Vương tộc Lý sự chính đáng chính trị đủ để khuất
phục các thế lực chống đối địa phương.

Mười năm tại ngôi của Lý Thần Tông, 1127-1137, không chứng
kiến một cuộc nổi loạn nào. Sự ổn định chính trị này
kéo dài đến giữa đời Vua Lý Anh Tông. Năm 1148, khi Phò mã
Dương Tự Minh, thủ lĩnh châu Phú Lương, và quan Điện tiền
chỉ huy sứ Vũ Đái đem quân đến ngoài cửa Việt Thành đòi
lấy mạng quan Thái úy Phụ chánh Đỗ Anh Vũ, tình nhân của
Thái hậu Cảm Thánh, thì tiến trình suy thoái chính trị của
Vương tộc Lý đã bắt đầu.

Thái úy Đỗ Anh Vũ là ai?


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/11550), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét