Nguyễn Thị Từ Huy - Muốn hay không muốn

Ở Việt Nam hiện nay, ta thấy không chỉ có nông dân bị bần
cùng hóa bởi chính sách ruộng đất bất hợp lý và bởi chế
độ cưỡng chế đất đai bất công mà vụ Đoàn Văn Vươn là
một ví dụ nổi bật, đang là mối quan tâm chung của dư luận
ở thời điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới này. Cũng
không chỉ có công nhân bị bần cùng hóa. Mà cả giới lao
động trí óc cũng bị bần cùng hóa.

Trong khi mà trong xã hội hiện thời có những nghề cho phép
một số người lao động hưởng lương lên đến cả trăm
triệu đồng một tháng, thì lương khởi điểm của giáo viên
nói chung chưa đến hai triệu, lương khởi điểm của giảng
viên đại học trên hai triệu một chút. Lương của các nghiên
cứu viên ở các viện nghiên cứu còn thấp hơn, vì dù sao
ngạch giảng dạy còn được cộng thêm một số phần trăm
đứng lớp. Với giá cả hiện tại, mức lương đó không thể
đảm bảo cho các sinh hoạt tối thiểu hàng ngày của những
người lao động trí óc, nhất là ở các thành phố lớn. Một
chế độ lương như vậy là một chế độ lương mang tính
chất bần cùng hóa. Người lao động trí óc bị bần cùng hóa
và bị đẩy đến chỗ không còn có thể nghĩ gì khác ngoài
việc làm sao kiếm cho đủ tiền để sống. Nghịch lý ở đại
học (và các trường học nói chung) là sau khi mất nhiều năm
học hành, cố gắng để đạt kết quả xuất sắc, người
giảng viên được giữ lại trường giảng dạy, thì nỗi lo
lắng bận tâm của họ không phải là trau dồi kiến thức,
phát triển năng lực chuyên môn, mà là làm gì để sống. Vậy
đấy, đi làm rồi, có được một nghề rồi, một nghề
được xem là cao quý hẳn hoi, nhưng lại phải khốn khổ loay
hoay tìm cách trả lời câu hỏi: « làm gì để sống ? »[1]

Điều nguy hại đáng nói ở đây là: người lao động trí óc
bị bần cùng hóa bởi chế độ lương phải lao vào các hoạt
động kiếm sống, và sau một thời gian thì họ khó có thể
giữ được các hoạt động trí óc, mặc dù lao động của họ
vẫn được xếp vào loại lao động trí óc, ví dụ như nghề
nghiên cứu hay đi dạy. Thực tế cho thấy là có một số
giảng viên ở bậc đại học đi dạy rất nhiều nhưng để
nói là họ có hoạt động trí óc thì rất khó, bằng chứng là
họ không có công bố hoặc nếu có thì đó là những bài viết
mà chất lượng khoa học thấp, ít hàm lượng tri thức và phát
kiến, ít hàm lượng tư duy. Bài giảng của họ chỉ là tổng
hợp lại kiến thức của người khác, đã thế nhưng kiến
thức cũng không được thường xuyên cập nhật, bài giảng
của họ có thể được soạn một lần để giảng trong nhiều
năm và giảng ở nhiều nơi.

Một nghịch lý khác mà giới trí thức ở các nước phát
triển rất khó có thể hình dung, nhưng đang là thực tế của
xã hội chúng ta: giới lao động trí óc ở Việt Nam không
những bị bần cùng hóa về đời sống vật chất, mà còn bị
/ tự bần cùng hóa cả về đời sống tinh thần. Hiện tượng
này đang thành ra phổ biến: những người, về nguyên tắc,
phải làm việc với sách vở lại rất ít đọc sách, không quan
tâm đến các vấn đề xã hội. Họ tự phủ nhận vai trò và
trách nhiệm xã hội của họ. Không hiếm những lời phàn nàn
kiểu như: giới văn chương gặp nhau không nói chuyện văn
chương, mà nói chuyện bất động sản, đất đai, nhà cửa, ô
tô.

Mặt khác đa số tự nguyện tuân theo những quy
định thành văn và bất thành văn về cách thức tư duy,
đường hướng tư duy, hệ quả tất yếu là sự nghèo nàn trong
nội dung tư duy, và hệ lụy thê thảm nhất là không ít người
có nguy cơ đánh mất khả năng tư duy và thói quen tư duy, dẫn
đến việc mất khả năng phân tích, mất khả năng tự quyết
định, chỉ còn biết chấp nhận và chờ đợi những quyết
định từ trên xuống, dù những quyết định đó sai hay đúng,
dù chúng có tác hại như thế nào chăng nữa. Thậm chí có
những người còn rất trẻ cũng đã tỏ ra không biết làm gì
nếu không được định hướng. Trong khi đó, hoạt động trí
óc, về thực chất, là một hoạt động mang tính tự do; và
không có gì có thể tước đoạt được thứ tự do đó. Đối
với tư duy tất cả đều được phép. Người ta có thể bị
tước đoạt tự do công bố, tự do phát ngôn và trình bày công
khai; nhưng tự do tư duy thì không gì có thể động đến
được. Do đó có thể nói rằng đa số thuộc giới lao động
trí óc ở ta tự nguyện tuân theo các định hướng suy nghĩ từ
bên ngoài, hoặc khép mình vào những giới hạn do tự mình
đặt ra, và hình dung rằng giới hạn đó trùng với những gì
được phép, không lấn sang khu vực của những gì không được
phép. Tuy nhiên thực tế cho thấy, sự tự giới hạn này phản
ánh một nỗi lo sợ nhiều khi thiếu căn cứ, bởi vì những gì
« không được phép » đối với người này lại là « được
phép » (đúng hơn là « tự cho phép ») đối với người kia.
Cái vòng kim cô, do vậy, không phải chỉ là sự áp đặt từ
bên ngoài, mà nó còn có tính nội sinh. Giới lao động trí óc
tự tạo ra cái vòng đó và để nó xiết chặt từ bên trong
vỏ não. Sự tự nguyện này, xét kỹ, không gì khác hơn là hệ
quả của sự bần cùng hóa tinh thần. Nếu như một bộ phận
lớn thuộc giới lao động trí óc Việt Nam được gọi là «
trí thức trùm chăn » thì đó chính là hậu quả của sự (tự)
bần cùng hóa về phương diện tinh thần này. Bởi lẽ giờ
đây, khi các thói quen và quán tính đã được thiết lập một
cách vững chắc, nếu họ có hất cái chăn đi, thì việc trình
bày ý kiến cũng hoàn toàn không đơn giản và không dễ dàng.
Thử giả định rằng họ được chuyển sang sống ở các
nước dân chủ và họ có toàn quyền phát ngôn về mọi chuyện
mà không có bất kỳ một đe dọa nào hay một áp lực nào, thì
liệu họ có thể tham gia phản biện như các trí thức ở các
nước sở tại không?

Sự bần cùng hóa tinh thần là một trong những nguyên nhân
khiến giới lao động trí óc ở đây đánh mất sức mạnh,
đánh mất khả năng phân biệt đúng sai, phải trái, và khiến
họ có thể vi phạm các chuẩn mực đạo đức mà vẫn cảm
thấy yên ổn lương tâm. Họ tìm sự yên ổn bằng cách sử
dụng các lý lẽ mang tính ngụy biện để bào chữa hoặc hợp
pháp hóa cho sự vi phạm đạo đức hay sự vi phạm pháp luật.
Chẳng hạn giới giáo viên có thể tự cho là chính đáng khi
nhận phong bì của học sinh và phụ huynh. Họ lập luận rằng
đấy là để bù lại sự bất công trong chế độ thù lao của
nhà nước. Họ đã dùng cái sai này để sửa cái sai khác, trong
khi những giải pháp đúng đắn đã không được lựa chọn.
(Chúng tôi sẽ còn trở lại bàn sâu hơn về điều này). Họ
thấy hay không thấy rằng, giữa cái phong bì và sự suy đồi
đạo đức, sự suy thoái trầm trọng của nền giáo dục, có
mối quan hệ khăng khít? Họ thấy hay không thấy mối liên hệ
nhân quả giữa cái phong bì và tệ nạn bằng cấp dởm, chức
danh dởm, những thứ đã và đang đẩy chất lượng giáo dục
xuống bờ vực thẳm? Đơn giản là một khi đã nhận tiền
của sinh viên thì họ không thể đánh trượt hay dành điểm
kém cho luận văn hay luận án của sinh viên, dù cái luận văn
hay luận án ấy có kém cỏi đến mức độ nào chăng nữa. Họ
thấy hay không thấy rằng khi quyết định trao bằng thạc sĩ
hay tiến sĩ cho một người không có năng lực tương xứng với
học vị đó, thì họ đã gián tiếp đẩy bao nhiêu thế hệ
học sinh vào nguy cơ bị ngu hóa, bị bần cùng hóa về mặt trí
tuệ ? Vấn đề không chỉ là việc cho ra đời một tiến sĩ
dỏm, mà cùng với tiến sĩ dỏm đó là hàng loạt thế hệ
thanh thiếu niên phải gánh chịu hậu quả. Rồi những người
thầy kém sẽ tạo ra các thế hệ những người thầy kém tiếp
theo, cứ như vậy mà kéo dài tình trạng suy thoái.[2] Vậy
những người làm giáo dục muốn đẩy trách nhiệm ấy cho ai?

Vấn đề đối với giới lao động trí óc không hẳn chỉ là
hợp tác hay bất hợp tác. Voltaire từng bị triều đình bỏ tù
vài lần, nhưng rồi sau đó cũng có lúc ông hợp tác với
triều đình Versailles và triều đình của Friedrich II, rồi lại
bất hợp tác. Goethe từng giữ nhiều chức vụ trong các triều
đình của Đức thời bấy giờ. Hugo từng thực sự mong muốn
tham gia triều chính, muốn có ảnh hưởng để thực hiện các
ý tưởng của mình. Ông trở thành người tin cẩn của
Louis-Philippe năm 1844, và sau đó làm Nguyên lão nghị viên. Rồi
tự lưu đày, từ chối trở về nước Pháp khi mà ông chưa
thấy đất nước này có tự do. Dù ở thời kỳ nào trong đời
họ, dù họ lựa chọn thái độ nào, hợp tác hay bất hợp
tác, thì đó cũng là những nhân cách lớn, những trí tuệ lớn
và những bản lĩnh văn hóa đáng nể trọng. Họ biết rõ họ
làm việc vì ai, vì cái gì. Nhân loại đã được hưởng lợi
rất nhiều từ sản phẩm của lao động trí óc của họ.

Sự (tự) bần cùng hóa về tinh thần, về đời sống trí tuệ
đã khiến cho đa phần giới lao động trí óc Việt Nam hiện nay
mất dần các phẩm chất tư duy, mất cả năng lực làm việc
trong lĩnh vực chuyên môn hẹp của mình, mất luôn cả bản
lĩnh văn hóa, cả ý thức về sự đúng sai, cả phẩm chất
đạo đức công dân. Tự giữ cho mình trong sạch, chuẩn mực
còn khó, nói chi đến chuyện dám đứng lên bảo vệ công lý,
bảo vệ nhân tính! Do vậy mà thuật ngữ « <em>trí thức trùm
chăn</em> » cũng chưa hẳn đã xác đáng. Bởi lẽ trí thức
trùm chăn dù thơ ơ với thế sự thì ít ra cũng còn giữ
được căn cốt của người trí thức.

Vấn đề quan trọng đặt ra cho giới lao động trí óc Việt Nam
hiện nay là làm thế nào để thoát ra khỏi tình trạng bần
cùng hóa cả về vật chất lẫn tinh thần. (Nếu nhìn vào các
dấu hiệu của tài sản thì có vẻ như một số người thuộc
giới lao động trí óc đã thoát khỏi sự bần cùng hóa về
vật chất, nhưng nghịch lý là ở chỗ: phương thức mà phần
lớn trong số đó sử dụng để thoát nghèo lại góp phần thúc
đẩy quá trình bần cùng hóa về tinh thần ở họ. Điều này
sẽ được đề cập vào một dịp khác.)

Nhưng có lẽ vấn đề còn quan trọng hơn là làm thế nào để,
nếu không phải toàn bộ thì cũng là phần lớn, giới lao
động trí óc của chúng ta mong muốn thoát khỏi tình trạng
bần cùng hóa ấy, nhất là thoát khỏi sự bần cùng hóa về
tinh thần. Để tránh sa vào duy ý chí, cần nói rõ hơn rằng,
dù « Muốn » chưa phải là điều kiện đủ, thì đó cũng là
điều kiện cần. Hiện nay còn quá ít những người có mong
muốn này. Một khi còn chưa có sự mong muốn, khi mà tình trạng
chung là chấp nhận, chịu đựng và thỏa hiệp, thì việc đặt
câu hỏi « làm thế nào » chỉ là một thứ xa xỉ phẩm mà
thôi. Mong muốn là điểm khởi đầu giúp ta nhận ra rằng thực
ra trong mỗi người đều có một nguồn năng lượng rất lớn.
Cần phải để cho nguồn năng lượng đó được giải phóng
để biến thành sức mạnh; giải phóng khỏi nỗi sợ hãi,
khỏi những định kiến, khỏi sự ràng buộc và hạn hẹp trong
nhận thức. Mong muốn là điểm khởi đầu giúp ta có thể đi
tới chỗ đồng ý với John Stuart Mill rằng: « <em>…nguồn gốc
của mọi thứ đáng trọng trong con người như một thực thể
có trí tuệ cũng như một thực thể có đạo đức, đó là
phẩm chất sửa lại sai lầm của mình</em> »[3], và càng đồng
ý với ông hơn về nhận định: « <em>Con người có khả năng
sửa chữa sai lầm của mình bằng thảo luận và trải nghiệm.
Không phải chỉ có bằng trải nghiệm không thôi. Phải có
thảo luận để biết trải nghiệm cần được suy đoán ra
sao.</em> »[4]

Chỉ khi nào giới lao động trí óc có mong muốn thoát khỏi
tình trạng bần cùng hóa này thì lúc đó họ mới nghĩ đến
việc tìm giải pháp, tìm cách làm thế nào, khi đó họ mới có
cơ may tìm lại được các giá trị của lao động trí óc. Bởi
vì sự mong muốn sẽ kích hoạt trí não, sẽ khiến cho trí óc
hoạt động, và sự hoạt động của trí óc là cách duy nhất
giúp người ta tìm ra giải pháp tích cực nhất trong hoàn cảnh
của mình. Như câu ngạn ngữ của người Pháp: « <em>vouloir
c'est pouvoir</em> »[5], hoặc như Đam San của Tây Nguyên: «
<em>Ta sẽ đi tới nơi ta muốn</em> ».

Vinh, ngày 24/1/2012

________________


[1] Vì muốn tập trung vào chủ đề chính của bài viết, chúng
tôi sẽ không đề cập đến một hiện tượng, đó là một
số người thuộc giới lao động trí óc ở Việt Nam, bất
chấp sự khắc nghiệt của hoàn cảnh, đã không ngừng nỗ
lực làm việc. Đến mức mà, có lẽ các đồng nghiệp nước
ngoài của họ cũng khó có thể hiểu được họ lấy đâu ra
sức lực để có thể làm việc như thế trong một điều kiện
tồi tệ như thế.

[2] Xin kể ra đây một câu chuyện nhỏ mà người viết bài này
từng chứng kiến khi còn ở Pháp : một sinh viên bậc master
(tương đương với thạc sĩ ở Việt Nam) có cơ hội nhận học
bổng làm tiến sĩ, nhưng cô ấy không nhận, và giải thích
rằng, cô ấy tự thấy không có thiên hướng và không đủ
khả năng làm nghiên cứu, vì thế cô ấy nghĩ rằng nên để
suất học bổng đó cho người nào thực sự có năng lực và
say mê nghiên cứu. Cô ấy sẽ tìm một việc phù hợp với
trình độ và sở thích của mình. Trong ví dụ này ta thấy rõ
những gì mà nền giáo dục Pháp đã đạt tới trong việc giáo
dục con người. Những gì được Rousseau nói tới từ thế kỷ
XVIII : « Con người thực sự tự do chỉ muốn điều gì anh ta
có thể, và làm điều gì anh ta thích » (Emille hay là về giáo
dục, bản dịch tiếng Việt của Lê Hồng Sâm và Trần Quốc
Dương, NXB Tri Thức, 2008, tr. 95)

[3] John Stuart Mill, Bàn về tự do, bản dịch tiếng Việt của
Nguyễn Văn Trọng, NXB Tri Thức, 2005, tr. 56 .

[4] Như trên, tr. 56

[5] Muốn là có thể thực hiện được.


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/11591), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét