Trương Đình Trung - Biển Đông và quan hệ Việt - Mỹ - Trung (3)

<strong>Chiến lược bất cân xứng của Trung Quốc đối với
Mỹ </strong>

Về mặt quân sự, các chuyên gia đều đồng ý rằng hiện Mỹ
vẫn ở thế thượng phong. Lực lượng quân sự của Trung Quốc
tuy mạnh, nhưng vẫn còn kém xa Mỹ về mọi phương diện.
Nhiều dự đoán cho rằng phải mất vài thập niên nữa, Trung
Quốc mới có hy vọng đuổi kịp Mỹ. Riêng về hải quân thì
Mỹ hầu như chiếm ưu thế gần tuyệt đối. Trên mặt biển
thế giới ngày nay, hệ thống Carrier Strike Groups (CSG) của Mỹ
làm chủ tất cả các đại dương. Mỹ hiện có cả thảy 11
CSG, đồn trú ở Mỹ 10, và một ở Okinawa. Mỗi CSG thường
gồm một Hàng Không Mẫu Hạm Nguyên tử, tháp tùng có một
frigate, hai missle-guided destroyers' và hai missle-guided cruisers. Hệ
thống CSG có khả năng triển khai hoả lực của mình trên phạm
vi bốn biển trong một thời gian rất ngắn. Tầm hoạt động
trung bình, cả tấn công lẫn do thám, của một CSG có thể lên
đến tầm 1000km. Trung Quốc trong những năm qua đã cố gắng
phát triển hải quân của mình lên để có thể trở thành một
cường quốc hải quân ngang tầm với các cường quốc khác. Tuy
vậy, hiện Trung Quốc vẫn chưa có một hàng không mẫu hạm
nào hạ thuỷ và có khả năng tác chiến so được với Mỹ.

Trước đây, năm 2002, Trung Quốc có mua lại chiếc HKMH Varyag
của Nga, trọng tải khoảng 60,000 tấn, chưa hoàn tất. Trung
Quốc định tu sửa chiếc Varyag đó lại, hiện chỉ dùng cho
việc huấn luyện. Trung Quốc đang cố gắng, với sự giúp đỡ
kỹ thuật của Nga, tự xây dựng một HKMH khác, dự trù sẽ
hạ thuỷ ở đảo Hải Nam. Để khắc phục sự yếu kém của
mình, Trung Quốc đã xây dựng một chiến lược gọi là Chiến
lược Bất Cân Xứng (asymmetric strategy). Vắn tắt có thể hiểu
rằng đó là chiến lược của kẻ yếu vận dụng những gì
mình có để đối phó và thắng được kẻ mạnh hơn mình.
(tương tự như nguyên tắc "Dĩ nhược thắng cường" hay
"lấy đỏan binh, chế trường trận"). Điểm căn bản trong
chiến lược đó là vận dụng phương tiện sẵn có để hoặc
đánh vào yếu điểm, hoặc nhằm tiêu huỷ những vũ khí lợi
hại nhất của đối phương. Ba mục tiêu mà Chiến lược Bất
Cân Xứng nhắm vào là tiêu diệt các HKMH, làm mù các vệ tinh
do thám và gây nghẽn hệ thống truyền tin phức tạp của Mỹ
(hệ thống C4ISR, Command, Control, Communications, Computers,
Intelligence, Surveillance and Reconnaissance).

Để có thể bắn phá các HKMH, Trung Quốc lâu nay đã tập trung
phát triển hai loại vũ khí: tàu ngầm và hoả tiễn đạn đạo
chống tàu chiến (submarines and antiship ballistic missles, ASBM). Trong
báo cáo mới đây với Quốc Hội của chuyên gia hải quân, ông
Ronald O'Rourke ngày 5/8/2010, có đề cập đến việc Trung Quốc
đang bắn thử lần cuối, với sự cải tiến lớn, loại DF-21D
này. Các chuyên gia hải quân gọi loại hoả tiễn này là Carrier
killers. Khác với các cruise missles là loại phi đạn bay thấp
(khoảng 15m-20m cách mặt đất), có động cơ phản lực và hệ
thống tự động nhắm đến mục tiêu gắn liền với đầu
đạn (payload), và có đường bay tự động uốn theo bề địa
hình (contour); các ballistic missles (Anti-Ship Ballistic Missle, ASMS)
như loại DF- 21D này được phóng đi bằng rockets vào quỹ đạo
trái đất rồi bay theo ảnh hưởng của trọng lực, khi đến
gần mục tiêu sẽ được hệ thống maneuverability re-entry vehicle
(MArV), gắn liền với đầu đạn, điều chỉnh để rời khỏi
quỹ đạo bay đến mục tiêu.

Sự lợi hại của loại ASMS DF-21D (Dong-Feng) này là ở chỗ
hiện nay các chiến hạm tháp tùng HKMH trong các CSG, như
anti-missle cruisers, anti-missle destroyers, hoặc anti-missle frigates
chỉ được trang bị các phương tiện chống lại cruise missles
mà chưa có phương cách hữu hiệu để chống lại ASMS. Ưu
điểm khác của ASMS DF-21D là với một hệ thống MArV tối tân
các missles này có thể vượt qua được hệ thống chống phi
đạn (missle-defense system) Aegis dùng bảo vệ HKMH, và đánh trúng
các mục tiêu di động với độ chính xác rất cao. Ở trên là
hình vẽ đạn đạo của đầu đạn DF-21D. Nguyên tắc của hệ
thống missle defense là dựa vào các thông tin về đạn đạo
của đầu đạn khi mới được phóng lên để theo dõi và xác
định vị trí của đầu đạn tại từng thời điểm để từ
đó dùng phi đạn bắn phá đầu đạn. Nguyên tắc đó không áp
dụng được với DF-21D vì đạn đạo của nó được hệ
thống MArV điều khiển sẽ đột ngột đổi đạn đạo theo
sự di động của mục tiêu. Với tốc độ bay lớn đến 13,000
miles/hr thì chỉ cần một sự thay đổi góc bay rất nhỏ từ
trên quỹ đạo cũng tạo một thay đổi lớn đối với đạn
đạo khiến cho hệ thống chống phi đạn Aegis rất khó định
vị đầu đạn chính xác trong từng khoảnh khắc rất ngắn
để bắn phá.

Hiện DF-21D của quân đội Trung Quốc có tầm bắn đến 2150 km.
Tầm bắn đó đủ cho Trung Quốc thực hiện được mục tiêu
quân sự quan trọng vẫn ấp ủ lâu này là ngăn cản không cho
các CSG vào được một vùng chiến sự lựa chọn; chẳng hạn
như Đài Loan, hay Biển Đông. Giới chuyên gia quân sự Mỹ gọi
đó là anti-access capability. Nhiều nguồn tin cho hay Trung Quốc
đang có kế hoạch để nâng tầm bắn của các DF-21D này ra xa
hơn nữa lên đến 3000-5000km để thực hiện mục tiêu làm chủ
một dây chuyền các đảo từ eo Malacca lên tới Đài Loan nhằm
mở lối ra cả Thái Bình Dương lẫn Ấn Độ Dương. Carrier
Killers DF-21D, như vậy, là một phương cách Trung Quốc dùng để
bổ khuyết cho sự yếu kém đối với Mỹ trong lãnh vực xây
dựng HKMH. Ông Patrick Cronin, Giám đốc của Asia-Pacific Security
Program, đã nhận định rằng: <em>"Khả năng phi đạn chống
tàu chiến mới ra đời của Trung Quốc, đặc biệt là loại
FD-21D, là một khả năng đầu tiên từ sau Chiến Tranh Lạnh có
thể ngăn cản sự khai triển hoả lực của hải quân chúng ta.
Và hải quân từ lâu đã rất e ngại những khả năng Carrier
killing đó"</em>.

Vũ khí thứ hai Trung Quốc tập trung phát triển để đối phó
với các HKMH của Mỹ là tàu ngầm. Đến nay Trung Quốc đã có
đến 70 tàu ngầm đủ loại, trong đó có 10 chiếc tàu ngầm
nguyên tử. Lúc đầu Trung Quốc mua tàu ngầm của Nga, về sau
tự sản xuất lấy. Một trong những loại tàu ngầm chạy bằng
diesel do Trung Quốc tự sản xuất là loại Song dài 160 bộ Anh,
chạy rất êm, năm 2007 đã trồi lên mặt nước, trước con
mắt sững sờ của hải quân Mỹ, khi chỉ cách HKMH Kitty Hawk,
một HKMH lớn với hơn 4,500 thuỷ thủ, trong tầm bắn thuỷ lôi
mà không hề bị phát hiện trước. Một viên chức NATO đã
nhận xét rằng vụ đó đã khiến cho giới hữu trách hải quân
Mỹ bị shocked không khác gì trước kia tin về vệ tinh Sputnik
của Liên Xô được phóng lên không gian vậy.

Điểm đáng quan tâm khác về tàu ngầm Trung Quốc là loại tàu
ngầm nguyên tử mang hoả tiễn đạn đạo liên lục điạ
(Nuclear-powered Intercontinental Ballistic Missile Submarines, SSBNs).
Loại này của Trung Quốc tuy con số còn ít so với Nga và Mỹ,
nhưng cũng đủ để tham gia vào một cuộc chiến cùng huỷ
diệt với hai quốc gia đó. Mỗi SSBN được trang bị với 12
hoả tiển liên lục điạ, loại JL-2 SLBM với tầm xa chừng
8000km, đủ để bắn đến phần lớn các bang ở Mỹ nếu các
tàu ngầm đó ra được đến Thái Bình Dương. Căn cứ Sanya hay
còn gọi là Yulin ở đảo Hải Nam hiện là một căn cứ của
loại SSBN này, có trang bị hệ thống Khử từ (Demagnetization)
để khử từ tính trên thân tàu ngầm trước khi xuất phát
nhằm giảm thiểu mức độ bị đối phương phát hiện. Căn
cứ hải quân ở đó còn có cả một hệ thống địa đạo
phức tạp để che dấu và bảo vệ cho các SSBNs này.

Kế đến là kế hoạch làm mù các vệ tinh do thám của Mỹ khi
tranh chấp xảy ra. Lâu nay Mỹ đã dựa vào hệ thống vệ tinh
tối tân của mình để theo dõi các hoạt động của các đối
thủ trên toàn thế giới. Hệ thống đó còn giúp vào công tác
truyền tin và phối hợp hoạt động của các lực lượng hải,
lục và không quân trên các chiến trường. Cuộc xâm chiếm
chớp nhoáng Iraq thành công phần lớn là nhờ vào hệ thống
vệ tinh đó. Có thể ví hệ thống vệ tinh của Mỹ như những
thiên lý nhãn thời đại. Nhận biết được ưu điểm và vai
trò quan trọng đó của hệ thống vệ tinh, các chiến lược gia
Trung Quốc trong nhiều năm qua đã tập trung tối đa khả năng
kỹ thuật vào việc chế tạo ra các hoả tiễn dùng bắn hạ
vệ tinh, và họ đã đạt được những tiến bộ đáng kể.
Tháng 1/2007 Trung Quốc đã dùng hoả tiển bắn hạ một vệ tinh
viễn thông cũ của họ bay trên quỹ đạo cách quả đất 500
miles. Sự kiện đó gây xôn xao dư luận, khiến nhiều giới
chức các nước lo ngại; ngay cả phát ngôn viên của Hội
Đồng An ninh Quốc gia Mỹ, là ông Gordon Johndroe, cũng lên tiếng
cho rằng việc bắn phá vệ tinh như vậy của Trung Quốc là
không phù hợp với tinh thần hợp tác giữa hai Trung Quốc - Mỹ
trong lãnh vực không gian. Tất nhiên đằng sau lời phát biểu
đó là mối quan tâm mang tính chất quân sự, bởi nếu chiến
tranh xảy ra không ai cản được Trung Quốc sẽ dùng kỹ thuật
bắn hạ vệ tinh đó để phá hủy "thiên lý nhãn" của Mỹ.

Trung Quốc, trong suốt nhiều năm qua, cũng đã nổ lực phát
triển kỹ thuật tin học cho mục đích quân sự. Quốc Hội Mỹ
đã từng được các viên chức quân sự cao cấp điều trần
về các công trình chiến tranh tin học (cyber warfare) mà Quân
đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc (PLA) đang thực hiện. Mục
tiêu chính của PLA là nhằm tấn công hệ thống C4IRS của Mỹ
khi chiến sự xảy ra để hoặc gây rối loạn, hoặc chí ít
giảm thiểu hiệu năng, cho hệ thống phối hợp tác chiến trên
chiến trường lớn của quân đội Mỹ. Cho đến nay đã có
một số vụ "electric strikes" nhắm vào hệ thống tin học
của Mỹ được ghi nhận.
Cuối cùng, công cụ còn lại của Trung Quốc trong chiến lược
bất cân xứng với Mỹ là kho vũ khí nguyên tử. Về mặt này,
Trung Quốc chỉ có một số lượng rất nhỏ đầu đạn nguyên
tử so với Mỹ, Nga, ít hơn Pháp và tương đương với Anh.
Bảng dưới đây ghi vắn tắt số vũ khí nguyên tử của các
nước trên thế giới

BẢNG 3. KHO VŨ KHÍ NGUYÊN TỬ THẾ GIỚI (Trích từ CRS Reports on
Nuclear Weapons) VBBABB Status of World Nuclear Forces 2010*
<table>
<thead><tr><th>QUỐC GIA</th><th>LOẠI CHIẾN LƯỢC</th><th>LOẠI
KHÔNG CHIẾN LƯỢC</th><th>SỐ KHẢ DỤNG</th><th>TỔNG TỒN
KHO</th></tr>
</thead>
<tbody>
<tr><td>NGA</td><td>2600</td><td>2050</td><td>4650</td><td>12,000</td></tr>
<tr><td>MỸ</td><td>1968</td><td>500</td><td>2,468</td><td>9,600</td></tr>
<tr><td>PHÁP</td><td>300</td><td>N/A</td><td>300</td><td>300</td></tr>
<tr><td>ANH</td><td>160</td><td>N/A</td><td>160</td><td>185</td></tr>
<tr><td>TRUNG
QUỐC</td><td>180</td><td>N/A</td><td>180</td><td>240</td></tr>
<tr><td>ẤN
ĐỘ</td><td>60-80</td><td>N/A</td><td>?</td><td>60-80</td></tr>
<tr><td>PAKISTAN</td><td>70-90</td><td>N/A</td><td>?</td><td>70-90</td></tr>
<tr><td>DO THÁI</td><td>80</td><td>N/A</td><td>?</td><td>80</td></tr>
<tr><td>BẮC
HÀN</td><td><10</td><td>N/A</td><td>?</td><td><10</td></tr></tbody></table>

(Trong bảng trên là số đầu đạn (warheads) với sức nổ trung
bình là 20-40 kilotons TNT, tức gấp đôi hay gấp ba sức nổ của
quả bom đã ném xuống Hiroshima năm 1945).

<strong>BẢNG 4. CÁC LOẠI HỎA TIỄN CỦA TRUNG QUỐC</strong>
<table>
<thead>
<tr><th>Loại Hoả tiển</th><th>Số dàn phóng</th><th>Số hoả
tiển</th><th>Tầm bắn ước lượng</th></tr>
</thead>
<tbody>
<tr><td>DF-5 ICBM</td><td>20</td><td>20</td><td>8,460km</td></tr>
<tr><td>DF-4 ICBM</td><td>10-14</td><td>20-24</td><td>5,470km</td></tr>
<tr><td>DF-3 IRBM</td><td>6-10</td><td>14-18</td><td>2,790km</td></tr>
<tr><td>DF-21 MRBM</td><td>34-38</td><td>19-50</td><td>1,770km</td></tr>
<tr><td>DF-15 SRBM</td><td>70-80</td><td>275-315</td><td>600km</td></tr>
<tr><td>JL-2 SLBM</td><td>3?</td><td>36?</td><td>>8,000km</td></tr>
<tr><td>DF-31A ICBM</td><td>?</td><td>?</td><td>11,270km</td></tr>
</tbody>
</table>
Rõ ràng số lượng đầu đạn nguyên tử và hoả tiển tầm xa
của Trung Quốc là không đáng kể so với của Nga-Mỹ, nhưng
bấy nhiêu đó cũng đủ để hoặc làm nản lòng (deterrence)
hoặc gây một thiệt hại không chịu đựng nổi hay ngay cả
tiêu diệt một trong hai quốc gia kia, nếu đại chiến xảy ra.
Vì tầm mức huỷ diệt của các đầu đạn nguyên tử hiện nay
là quá lớn, nên vấn đề chênh lệch về số lượng không còn
trở nên quá quan trọng trong việc ước tính tương quan quân
sự giữa đôi bên. Đó cũng là lý do khiến giới bình luận
quốc tế và các chính khách không đánh giá cao việc Nga-Mỹ ký
Hiệp Ước Tài Giảm Vũ khí Chiến lược vừa qua. Bởi lẽ cho
dù hai bên có cắt giảm đến ½ lượng đầu đạn nguyên tử
đi nữa, thì số lượng còn lại vẫn đủ để nổ tung toàn
thế giới một khi hai bên đại chiến với nhau!

Tóm lại, tuy Trung Quốc còn thua kém Mỹ rất xa về sức mạnh
quân sự, nhưng với chiến lược Bất Cân Xứng, vận dụng
năng lực của những phương tiện hiện có trong tay nhắm vào
việc khai thác tối đa những yếu điểm, hoặc đánh đòn chí
mạng vào những ưu điểm của đối phương để giành phần
thắng, Trung Quốc cũng không hẳn sẽ dễ dàng bị Mỹ hoàn
toàn áp đảo như nhiều người vẫn nghĩ. Trung Quốc đang áp
dụng một chiến lược đặt trọng tâm vào việc đánh bại ý
muốn chiến đấu (will of fighting) của đối phương ngay khi đang
còn trong giai đoạn tính toán sự thành bại, cân nhắc giá
phải trả (opportunity cost calculations) cho một cuộc đối đầu,
theo đúng như lời của Tôn Tử đã nói: "<em>Thượng sách là
phá vỡ sức kháng cự của đối phương mà không cần phải
lâm trận</em>"; nghiã là chỉ cần làm cho đối thủ cảm
thấy đánh nhau không lợi tức là đã thắng rồi! Nguyên tắc
đó lại càng dễ dàng thực hiện trong thế giới ngày nay hơn,
khi mà sức huỹ diệt của vũ khí nguyên tử, dù chỉ với vài
ba đầu đạn, là vô cùng khủng khiếp.

Những tính toán của chiến lược Bất Cân Xứng trên đây làm
nhiều phần tử hiếu chiến Trung Quốc lên tinh thần và điều
đó gây lo ngại cho nhiều người yêu chuộng hoà bình trên thế
giới. Chẳng hạn như cựu Phụ tá Bộ trưởng Ngoại Giao Phụ
trách về quan hệ Trung Quốc dưới thời TT Bill Clinton, bà Susan
L. Shirk đã viết: <em>"Tôi thường xuyên lo về rủi ro chiến
tranh giữa hai cường quốc nguyên tử. Thật là khủng khiếp khi
nghĩ về một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ".</em>

Cũng may là mối tương quan Mỹ - Trung ngày nay không mang tính
chất đối đầu lưỡng cực thù địch như giữa Mỹ - Liên Xô
trước đây, mà là một quan hệ vừa tương tranh về quyền
lực vừa tương thuộc về kinh tế. Tính chất đó, cộng với
sự khủng khiếp của chiến tranh nguyên tử, giúp giảm thiểu
rất nhiều khả năng giải quyết tranh chấp bằng quân sự
giữa hai bên. Hơn nữa, ở Á Châu, Trung Quốc còn phải bị
cạnh tranh mạnh bởi Nhật, Ấn Độ, và Nga nữa. Đây là
những điểm người Việt cần lưu tâm trong việc cân nhắc và
phán đoán các phản ứng của hai siêu cường này trong quan hệ
với Việt Nam.

<strong>Lực lượng quân sự Việt Nam</strong>

Đối phó với các khả năng quân sự của Trung Quốc như vừa
nêu ở trên, câu hỏi đặt ra tiếp theo là còn về phía Việt
Nam có trong tay những gì để tự vệ trước sự uy hiếp của
TQ. Sự thật thì có rất ít tài liệu với thông tin đầy đủ
về lực lượng quân sự Việt Nam. Sau đây là vắn tắt một
số tin tức thu lượm được. Có thể nói ngay rằng quân đội
Việt Nam (VPA) căn bản là lục quân; hải quân và không quân
chỉ chiếm một tỉ trọng rất nhỏ. Kể từ sau khi rút khỏi
Campuchia năm 1989, Việt Nam cho giải ngũ bớt, cắt giảm quân
số từ trên 1.2 triệu xuống còn khoảng hơn 480,000 bộ đội
tại ngũ thuộc về khoảng 25 Sư đoàn. Về hải quân thì chỉ
chừng hơn 13,000 thủy thủ, cộng thêm khoảng chừng 27,000
người thuộc lực lượng phối hợp có vai trò gần như thuỷ
quân lục chiến. Không quân thì khoảng 30 ngàn gồm cả lực
lượng Phòng không. Có khoảng 40,000 người thuộc lực lượng
Biên phòng, khoảng 100,000 Công an Vũ trang, Lực lượng Trừ bị
khỏang 5,000,000 người.

Chi phí quốc phòng năm 2007 của Việt Nam là chừng 3.7 tỉ
dollars, so với 6 tỉ dollars của Bắc Hàn, 6 tỉ dollars của
Singapore, 8 tỉ dollars của Đài Loan, và 80 tỉ dollars của Trung
Quốc!

Trước đây phần lớn vũ khí của VPA đến từ Liên Xô. Từ
sau ngày Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, VPA phải mua vũ khí với
giá thị trường quốc tế trả bằng ngoại tệ mạnh hoặc trao
đổi nguyên nhiên liệu. Giai đoạn từ sau 1989 cho đến khoảng
năm 1995, VN tập trung phát triển kinh tế, chỉ xử dụng một
bách phân rất nhỏ cho ngân sách quốc phòng. Tình hình có phần
thay đổi theo chiều hướng gia tăng kể từ năm 1995 trở về
sau này. Việt Nam dần dần thắt chặt quan hệ mua sắm vũ khí
với Nga. Nước này đã thỏa thuận đáp ứng cao nhất nhu cầu
vũ khí của Việt Nam. Tháng 9/2008 Bộ trưởng Quốc Phòng Nga
đã mô tả Việt Nam như là "đối tác chiến lược của Nga
tại ĐNA".

Việt Nam đã mua phần lớn chiến đấu cơ tối tân, tàu chiến,
radar, hoả tiển và tàu ngầm từ Liên Bang Nga. Ngoài ra, Việt
Nam cũng tìm mua vũ khí từ các quốc gia thuộc khối Varsovie
trước đây như Ba Lan, Tiệp Khắc, Ukrain, v.v... và cả từ Ấn
Độ và Do Thái.

Điểm chính yếu là vì ngân sách quốc phòng quá nhỏ, 3.7 tỉ
dollars, so với nhu cầu quốc phòng quá lớn lao. VPA vẫn còn là
một quân đội nhà nghèo, đi mua sắm vũ khí theo kiểu bòn
nhặt, chắp vá. Chẳng hạn Lục quân vẫn phải, hoặc tự làm,
hoặc thuê nước ngoài, tân trang lại khoảng hơn 50 xe thiết
vận xa M.113 cổ lổ cách đây hàng 40 năm! Hoặc phải mướn Do
Thái tu bổ lại toàn bộ 850 xe tanks T-54/55 để dùng. Có
trường hợp phải đi mua đồ cũ bán lại (second hand), như năm
2005 mua 150 chiến xa T-72 từ Ba Lan với trang bị bảo trì và
đạn dược.

Khó khăn nhất là mua chiến đấu cơ tối tân cho Không Quân. Vì
các loại chiến đấu cơ đó thường rất đắt. Có nhiều
trường hợp, Việt Nam đã ký hợp đồng mua bán rồi, nhưng sau
đành phải huỷ bỏ nửa chừng vì không đủ tiền chi trả,
hoặc đành phải đổi qua mua lọai rẽ hơn, hay đành phải trở
về đại tu những chiến đấu cơ sẳn có! Như năm 2008, Việt
Nam dự trù mua 20 chiếc Sukhoi-30 hoặc Mig-29; nhưng cuối cùng
chỉ mua nổi 8 chiếc Sukhoi và phải đến năm 2010-2011 mới
nhận được hàng. Việt Nam cũng đã hợp đồng nhờ Ấn Độ
đại tu các phi cơ Mig-21 cho mình và cung cấp bộ phận rời cho
các phi cơ đó.

Trong lãnh vực Phòng Không, trước đây vũ khí phòng không đều
do Liên Xô cung cấp. Từ ngày Liên Xô sụp đổ, các vũ khí
phòng không của Việt Nam hư hỏng, xuống cấp nặng và trở
nên lỗi thời. Nhưng mải đến năm 2000 Việt Nam mới bắt
đầu quan tâm đến việc phục hồi và tăng cường khả năng
cho bộ đội phòng không bằng cách bắt đầu mua các hoả tiển
mới từ Liên Bang Nga và Ukraine. Lần mua lớn đầu tiên năm
2003, trả cho Nga 200 triệu dollars để mua hai pháo đội hoả
tiển đất đối không 300PMU-1s.

Về hải quân, do nhu cầu bảo vệ các hải đảo và các địa
điểm khai thác dầu trên Biển Đông, Việt Nam đang cố gắng
để trang bị cho mình một số tàu có phi đạn chống tàu
chiến (antiship missles). Như năm 1997 mua lại hai chiếc tàu ngầm
nhỏ của Bắc Hàn, đem về tu bổ lại. Việt Nam cũng đã chính
thức yêu cầu Ấn Độ giúp huấn luyện về tàu ngầm. Ấn
Độ, kể từ năm 2000 sau khi ký Thỏa Thuận Hợp Tác Quốc
Phòng, đã giúp đỡ Việt Nam rất nhiều trong việc tu bổ ,tân
trang và sản xuất các tàu tuần tiểu nhỏ, cố vấn kỹ thuật
cho hai xưởng đóng tàu Ba Son và Hồng Hà. Năm 2008, khi Nam Tư
chia đôi, Việt Nam cũng đã mua lại một số tàu ngầm cũ của
Serbia. Năm nay và sang năm 2011, hải quân Việt Nam sẽ nhận hai
tuần dương hạm đặt mua hồi năm 2006 với giá tổng cộng 300
triệu dollars từ Nga. Năm 2008 Việt Nam cũng đã ký hợp đồng
với Nga 670 triệu dollars để được cung cấp vật liệu rời
cho việc tự lắp ráp tàu chiến và các vũ khí đi kèm tại
Việt Nam. Từ những vật liệu rời đó, Việt Nam đã lắp ráp
được một số tàu tuần duyên nhỏ và cả khinh tốc
đỉnh(corvettes).

Một trong những mua sắm lớn nhất mới đây là việc VN ký
hợp đồng, hồi tháng 4/2009 mua của Nga 6 chiếc tàu ngầm tấn
công (attack submarines)loại Kilo chạy bằng diesel-điện trị giá
tổng cộng gần 2 tỉ dollars. Các tàu ngầm này được trang bị
ngư lôi hạng nặng và hoả tiển. Cũng theo hợp đồng mua sắm
đó thì Nga hứa giúp VN xây dựng căn cứ tàu ngầm, bến cảng
bảo trì và tài trợ một số dự án hải quân khác.

Tắt lại thì lực lượng quân sự Việt Nam rất khiêm tốn,
ngân sách ít ỏi và trang thiết bị rất thô sơ xét theo tiêu
chuẩn hiện đại. Tương quan lực lượng giữa Việt Nam và TQ
quá sức chênh lệch, nhất là lực lượng hải quân và không
quân, và đó là một nổi ưu tư lớn lao cho mọi người Việt
Nam.

<table>
<tr><td>Quốc gia</td><td>Chiến đấu cơ</td><td>Xe tăng các
loại</td><td>Tàu chiến các loại</td><td>Tàu ngầm</td><td>Hoả
tiển Liên lục địa</td></tr>
<tr><td>Việt
Nam</td><td>221</td><td>1315</td><td>75</td><td>8*</td><td>0</td></tr>
<tr><td>Trung
Quốc</td><td>2643</td><td>7580</td><td>660</td><td>60</td><td>46</td></tr>
</table>
* Trên thực tế chỉ có hai chiếc đang vận hành, 6 chiếc còn
lại đang ở giai đoạn sản xuất, chưa nhận được.

<strong>PHẢI LÀM SAO?</strong>

Thiết nghĩ đó là câu hỏi đang gây băn khoăn cho hầu như mọi
người Việt Nam ở khắp nơi trước những động thái mới
của chính phủ Mỹ đối với vùng ĐNA và Biển Đông, trực
tiếp ảnh hưởng đến Việt Nam. Thật ra không phải vấn nạn
chỉ nảy sinh từ lúc có lời phát biểu của Ngọai trưởng
Mỹ, mà nó đã bắt rễ từ lâu trong sự biến đổi của
tương quan quyền lực giữa các cường quốc trên phạm vi thế
giới và khu vực. Tất nhiên để biết phải làm sao hay nên làm
gì ngõ hầu duy trì được độc lập, bảo vệ đuợc sự toàn
vẹn lãnh thổ, gìn giữ được bản sắc Dân tộc, xây dựng
được một xã hội tiến bộ với nền kinh tế ngày càng phát
triển, trong một tình hình quốc tế phức tạp như hiện nay
không phải là điều đơn giản nằm trong khả năng giải đoán
của vài cá nhân, hay của một tập đoàn lãnh đạo nào đó;
mà trái lại là kết quả của một nổ lực tra vấn tập thể,
toàn diện và rộng lớn, của mọi người Việt Nam. Người
viết bài này chỉ xin nêu lên vấn đề, nhưng không có tham
vọng cũng như khả năng để khởi đầu cho việc đề ra lời
giải đáp. Chỉ xin, sau đây, thổ lộ đôi suy tư vụn vặt
của mình.

Như đã đề cập đến ở đoạn trước rằng bầu không khí
ngày nay trong quan hệ giữa Mỹ - Trung Quốckhông giống như bầu
không khí chiến tranh lạnh trước đây trong quan hệ giữa
Mỹ-Liên Xô. Trước kia hai khối CS và Tư Bản phân ranh rạch
ròi, đối đầu sinh tử; hai bên hoàn toàn không có mối tương
thuộc kinh tế chặt chẻ; nền kinh tế của Mỹ không bị ràng
buộc bởi nền kinh tế của Liên Xô và ngược lại. Còn ngày
nay, mối quan hệ giữa Mỹ-TQ lại khác, nó là một mối quan
hệ hổn hợp giữa sự tương tranh quyền lực và sự tương
thuộc kinh tế. Trong Chiến Tranh Lạnh, hai bên Mỹ - Liên Xô, do
nguy cơ cùng bị huỷ diệt, đã không dám trực tiếp đụng
đầu mà ghìm nhau trong tình trạng balance of terror. Mặt khác,
thế giới thời Chiến Tranh Lạnh là thế giới lưỡng cực.
Khối các nước thứ ba quá yếu kém về mọi mặt để có thể
có những ảnh hưởng làm đổi thay tình trạng lưỡng cực
đó.

Ngày nay, Trung Quốc tuy yếu hơn Mỹ nhiều về quân sự; nhất
là trên quy mô toàn cầu, nhưng ở phạm vi Á Châu, những nổ
lực lớn lao của Trung Quốc đã khiến ưu thế quân sự của
Mỹ không còn là công cụ chính, đắc lực trong việc giải
quyết các tranh chấp giữa hai bên. Không phải vô cớ mà ngoại
trưởng Mỹ đề nghị quốc tế hoá vấn đề Biển Đông.
Người ta chỉ quốc tế hoá hay định chế hoá một vấn đề
bao lâu quân sự không phải là giải pháp tối ưu. Ngược lại,
Trung Quốc cũng có những nhược điểm nội tại và sự cạnh
tranh ráo riết của các đối thủ khác ở Á Châu: Nhật, Ấn,
Nga, và Úc.

Vắn tắt, người Mỹ "trở lại" lần này không phải để
phục hồi một SEATO của những năm 1950s, hay hình thành một
liên minh quân sự để đương đầu với Trung Quốc. Tuy rằng
có xác suất cao là Mỹ sẽ hậu thuẫn cho vài quốc gia trong khu
vực ĐNA nâng cao khả năng quốc phòng của mình, nhưng đó chỉ
là để hỗ trợ cho mặt trận kinh tế, chính trị, ngoại giao
trong nổ lực rộng lớn hơn của Mỹ nhằm be chắn sự lớn
mạnh lên của Trung Quốc theo quỹ đạo toàn cầu của mình và
sau nữa cũng để mở rộng thị trường cho ngành công nghiệp
vũ khí. Và đó là điều tốt vì sẽ giúp tạo ra ổn định và
hoà bình cho khu vực ĐNA và cả Á Châu, tuy chỉ là tạm thời
vì mọi sự còn tuỳ thuộc vào sự thay đổi tương quan lực
lượng của khu vực và thế giới. Vấn đề đối với người
VN là phải khôn khéo với bên ngoài, và cấp tốc tranh thủ sự
ổn định do sự "trở lại" của Mỹ tạo ra để ổn định
bên trong, tự mình cường thịnh lên hầu đủ lực đương
đầu với tình thế mới của bàn cờ chính trị quốc tế.
Thiết nghĩ, có lẽ cần:

1.- Đoàn kết trong ý thức quốc gia-dân tộc. Nước Việt Nam
đã thống nhất về mặt hành chánh hơn 35 năm rồi, nhưng chưa
thật sự thống nhất về mặt tình tự dân tộc, đại đa số,
kể cả không ít những người trong giới cầm quyền, vẫn chưa
thoát khỏi hậu quả của sự tuyên truyền thời Chiến Tranh
Lạnh, còn vướng mắc trong vũng lầy ý thức hệ, vẫn còn
nhìn đồng bào của mình qua lăng kính phân tranh. Đó là hệ
quả của sự kém ý thức quốc gia-dân tộc, chưa biết đặt
Dân Tộc - Tổ Quốc lên trên hết, trên cả đảng phái và chế
độ chính trị. Những khẩu hiệu như "Trung với Đảng" hay
"Yêu Nước là yêu Chủ nghĩa Xã hội" là bằng chứng rõ
ràng về sự thiếu ý thức quốc gia-dân tộc đó.

Tại sao không trung thành với Tổ Quốc Việt Nam, mà trung thành
với Đảng? Không lẽ Đảng chính là Tổ Quốc hay cao hơn Tổ
Quốc? Hay không lẽ Đảng cũng trường tồn như Tổ Quốc? E
rằng sẽ là một sự phạm thượng, nếu có ai đó trả lời
khẳng định những câu hỏi vừa nêu. Hoặc hơn thế nữa,
không chỉ là phạm thượng mà là phi lý, là trái với chân lý
và điên rồ.

Cũng vậy, Chủ nghĩa Xã hội chỉ là một chế độ chính trị,
mà chế độ chính trị, dù tốt bao nhiêu cũng chỉ là hình
thái xã hội của một giai đoạn, chỉ mang tính chất tạm
thời; trong lúc Nước là trường cữu. Tất nhiên không thể
đánh đồng làm một giữa chế độ chính trị và Nước
được. Việt Nam với lịch sử hàng mấy ngàn năm, đã trải
qua nhiều chế độ chính trị, nhiều triều đại. Điều đó
nói lên tính cách nhất thời của chế độ và tính lâu dài
của Tổ Quốc và sự khác biệt, không thể đánh đồng làm
một, giữa hai thực thể.

Hai câu khẩu hiệu chính yếu trên, không những xuất phát do
thiếu ý thức quốc gia-dân tộc mà còn gây ra một hậu quả
vô cùng tai hại khác; đó là đã gây chia rẽ giữa cộng đồng
Dân tộc, đã tiếp nối sự phân ly có từ thời phong kiến và
vô tình tạo kẻ hở cho kẻ thù khai thác.

Chỉ có sự đoàn kết, xuất phát từ ý thức quốc gia- dân
tộc và thoát khỏi mọi định kiến ý thức hệ ngoại lai,
mới khiến người Việt Nam có được sức mạnh tổng hợp,
cần thiết để đương đầu với hiểm hoạ ngàn đời Bắc
phương cũng như vận dụng một cách hữu ích nước cờ mới
của Tây Phương. Chỉ có một dân tộc có ý thức đầy đủ
về mình mới đủ sức chống lại một dân tộc có ý thức
quốc gia cao như người Hán. Người Trung Quốc, kể cả những
người ngày nay vẫn nhận mình là Cộng Sản, đã và đang đề
cao hoặc quảng bá Khổng Tử, đang lập Viện Khổng Tử khắp
nơi trên thế giới, chứ không hề lập viện Karl Marx hay
Lénine. Người Việt chúng ta cần suy ngẫm về điều đó; nhất
là những người vẫn tự cho là chỉ có mình mới xứng đáng
là người lãnh đạo Đất Nước.

2.- Trong trường kỳ thì kinh tế là yếu tố quyết định cho
nền an ninh của Tổ Quốc. Bởi vì chỉ có quốc phòng vững
mạnh khi có kinh tế tự chủ, phát triển nhanh, ổn định và
cân đối. Mối nguy hiện nay của Việt Nam không chỉ là sự
yếu kém về quốc phòng mà là ở quan hệ thực dân kiểu mới
về kinh tế đối với Trung Quốc, ở tư thế vừa cung cấp
nguyên nhiên liệu, vừa là thị trường tiêu thụ kỹ nghệ
nhẹ và là sân sau của Trung Quốc. Cấp thiết phải thoát ra
khỏi quan hệ phụ thuộc đó, mới mong có được an ninh và
độc lập. Vì vậy điều chúng ta thật sự cần ở những
cường quốc đối trọng với Trung Quốc không chỉ là vũ khí
quân sự mà là đầu tư kỹ thuật và hợp tác kinh tế thật
sự trên cơ sở tương trợ đồng minh.

Một khía cạnh của nền kinh tế-quốc phòng là việc phát
triển mậu dịch hàng hải. Nền kinh tế lấy nông nghiệp làm
trụ cột, qua hàng ngàn năm đã trói chặt người Việt vào
đồng ruộng, khiến con người không kịp ngững mặt nhìn lên
để thấy ngoài kia một bờ biển dài hơn 2000km với vô số
triển vọng tươi sáng. Chính vì bỏ không ưu thế về biển,
không quan tâm phát triển hàng hải mà ngày nay VN phải gánh
lấy hậu quả bị Trung Quốc lấn hiếp trên Biển Đông vì
không có một hạm đội đủ mạnh để chống lại. Lịch sử
thế giới cho thấy rằng dân tộc nào biết tận dụng và phát
huy ưu thế về biển thì đều trở nên phồn thịnh về thương
mãi, có những đội thương thuyền mạnh, kèm theo là những
hạm đội thiện chiến. Vậy có nên chăng tận dụng thời cơ
hiện nay để đặt vấn đề phát triển hàng hải làm nền
tảng cho việc xây dựng hải quân mạnh đủ sức bảo vệ
biển về sau?

Ngoài ra phải giải quyết mối nguy kinh tế bên trong; đó là
sự bất bình đẳng quá lớn về phân phối lợi tức. Sự phân
cách giàu nghèo quá xa là mầm móng của mọi bất ổn chính
trị-xã hội, của sự mất đoàn kết dân tộc và là lực cản
của sự phát triển; hơn nữa là một sự diễu cợt lớn đối
với tên gọi Cộng Hoà Xã hội Chủ Nghĩa của Việt Nam hiện
nay. Nguồn gốc của sự bất bình đẳng là do mâu thuẫn giữa
hạ tầng kinh tế tư hữu hoá/tư bản hoá với thượng tầng
lãnh đạo chuyên chính kiểu Stalinist. Về mặt kinh tế, Việt
Nam đã đi đúng một vòng tròn (luẩn quẩn): từ sung công
ruộng đất, đấu tố tiêu diệt địa chủ đến tư hữu hoá
đất đai và khai sinh giai cấp địa chủ mới(đỏ); từ cải
cách công thương nghiệp xoá bỏ tư doanh, xây dựng kinh tế
quốc doanh đến chuyển qua kinh tế thị trường và tư bản
hoá. Nhưng lãnh đạo thì vẫn là… "Vô ra cũng cha khi nãy"!
Chính sự mâu thuẫn đó là căn nguyên của sự lạc hậu hiện
nay của Việt Nam; một nước có đến 86 triệu dân mà GDP chỉ
hơn 93 tỉ dollars ; trong khi đó Thái Lan có 66 triệu dân, nhưng
GDP lại đến 264 tỉ dollars!

3.- Nền tảng của kinh tế là Văn hoá. Một dân tộc nhỏ,
sống cạnh một dân tộc to lớn, nếu muốn có độc lập thật
sự thì không thể cứ mải mải tôn sùng và lấy văn hoá của
dân tộc lớn đó làm mẫu mực cho mình. Đã hàng mấy ngàn
năm, VN vẫn không thoát được vòng kiềm toả của Trung Quốc
cũng chỉ vì dân Việt không tích cực tạo cho mình một bản
sắc văn hoá độc lập, mà cứ sao chép văn hoá của Trung
Quốc. Đến bây giờ vẫn vậy. Không phải tình cờ mà chế
độ chính trị hai nước hiện nay gần hoàn toàn giống nhau, mà
chính là vì tâm thức hay não trạng sùng bái Trung Quốc đã
thấm vào trong xương tuỷ của đa số người VN; nhất là ở
tầng lớp các thành phần ưu tú. Chẳng những giống nhau về
chính trị, mà ngay cả các tệ trạng ở tầm mức quốc nạn
cũng giống nhau. Đó là vấn đề tham nhũng và hối lộ lan tràn
khắp nơi, thấm vào đến tận cùng mọi ngóc ngách của xã
hội, trở thành một thứ ung thư ở giai đoạn cuối khi mà
mức di căn (metastasis) đã phát tán toàn thân. Sự sụp đổ
của Liên Xô trước đây, không phải do tính ưu việt của chủ
nghĩa tư bản phương Tây mà chính do loại ung thư tham nhũng này
phát sinh từ bên trong Liên Xô.

Phải chấm dứt sự nô lệ văn hoá Trung Quốc, phải tận diệt
óc sùng mộ Trung Quốc dưới tất cả mọi hình thức, người
Việt phải quyết tâm xây dựng một bản sắc văn hoá cho riêng
mình để thật sự độc lập và giữ được biên cương của
Tổ Quốc.Phải trả thánh Khổng lại cho người Hán, và giữ
lấy thánh Trần cho riêng mình.

4.- Cuối cùng căn bản của xây dựng văn hoá là xây dựng con
người. Ngay trong thời phong kiến, ở thế kỷ 14, tiền nhân
cũng đã nhận ra rằng "cần phải khoan sức dân, để bền
gốc rễ"; nghĩa là người xưa đã ý thức được vai trò
chủ tể của người dân đối với giang sơn. Nhưng tiếc thay
hôm nay, ở thế kỷ 21, ở thời đại của Tự Do-Dân Chủ, mà
người dân Việt Nam vẫn chưa được tham gia một cách tích
cực vào việc quyết định vận mệnh của dân tộc và đất
nước mình. Vẫn có một thiểu số tự phụ, một cách rất
lố bịch, rằng chỉ có họ mới biết lãnh đạo, chỉ có họ
mới thật sự là đại biểu của dân, để rồi từ đó tự
giành cho mình độc quyền quyết định mọi vấn đề sinh tử
của Đất Nước, không cho một người dân nào khác, ngoài
những người thuộc phe đảng của họ, can dự vào. Thiểu số
đó vẫn ngang nhiên chà đạp lên những Dân quyền và Nhân
quyền căn bản của đa số dân chúng mà không gặp phải một
sự chế tài nào. Ngay cả việc người dân bày tỏ lòng yêu
nước và sự phẩn nộ trước việc Đất Nước bị xâm lăng
họ cũng không cho! Họ tự đặt mình, không những cao hơn đám
quần chúng mà chính họ luôn vận động sự ủng hộ, mà còn
lên trên cả Luật Pháp; không khác gì trong chế độ phong kiến
xưa vua luôn đứng trên luật pháp. Điều nghịch lý ở đây là
họ, những con người độc quyền lãnh đạo đó, lại tự
nhận mình là đảng của nhân dân.

Ai cũng biết là không thể xây dựng con người, và xây dựng
văn hoá một cách trọn vẹn và phổ quát trong một chế độ
toàn trị, khi mà nền tảng pháp trị bị đặt xuống hàng thứ
hai, phục tùng vào ý chí tuỳ tiện của thiểu số cầm quyền.
Giải pháp duy nhất cho vấn đề xây dựng con người-văn hoá
là một chế độ Dân chủ, trong đó quyền quyết định thuộc
về người dân; và một hệ thống pháp luật nghiêm minh chặt
chẻ, đại diện công lý và là nền tảng của tổ chức quốc
gia, có thẩm quyền tài phán đối với mọi cá nhân, đoàn thể
hay đảng phái. Người Việt sẽ không còn lựa chọn nào khác
nếu muốn vận dụng có ích nước cờ ngoại giao của Tây
Phương hiện đang đi để tự cường, đủ sức bảo vệ mình
khi phải chấp nhận sống bên cạnh mối đe dọa lưu cữu Bắc
Phương.

Sunnyvale, ngày 30/8/2010

Trương Đình Trung

_________________________________________

<h2>Thư mục:</h2>

http://www.zanesvilletimesrecorder.com/article/20100811

http://www.state.gov/secretary/rm/2010/01/135090.htm

Wayne M. Morrison, China economic conditions, Report RL.53534 (CRS
11/20/2008).

http://www.ustr.gov/countries-regions/china

Stratfor, Global Intelligence, August 9th 2010.

http://www.worldpress.org/Asia/3608.cfm.

Drew Thompson, China's soft power in Africa, China Brief N. 21.

Norman, James R. The Oil Card, Triday LLC.

Dr. Henry J. Kenny, Shadow of the Dragon, Brassey's Inc. 2002. P.42-43

Trần Quang Cơ, Hồi Ức và Suy Nghĩ.

Carlyle Thayer, The structure of Vietnam-China relations,1991-2008.

Www. Asiansentinel.com/index2.php?option=com_content&task

http://english.vietnamnet.vn/biz/201007/Viet-Nam-looks-to-ease-trade-deficit-with-China-922282/

Ariel Hui-min Ko, University of Glasgow, UK- China's Foreign Economic
Policy towards Vietnam.

http://www.chinadaily.com.cn/bizchina/2010-02/08/content_9444539.htm

http://news.yahoo.com/s/ap/20100805/ap_on_re_as/as_china_us_carrier_killer

http://www.dailymail.co.uk/news/article-492804/The-uninvited-guest-Chinese-sub-pops-middle-U-S-Navy-exercise-leaving-military-chiefs-red-faced.html

http://www.fas.org/blog/ssp/2008/04/new-chinese-ssbn-deploys-to-hainan-island-naval-base.php

http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2007/01/18/AR2007011801029.html

Susan L. Shirk, China- Fragile Superpower p.1, Oxford University Press 2007.

http://csis.org/files/media/csis/pubs/060626_asia_balance_powers.pdf

Carlyle A. Thayler, Vietnam People's Army: Development and Modernizaton,
2009.

http://www.defenseindustrydaily.com/Vietnam-Reportedly-Set-to-Buy-Russian-Kilo-Class-Subs-05396/

http://www.scribd.com/doc/3099200/The-Asian-Conventional-Military-Balance-in-2006-


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6321), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét