Trung Quốc đã biết vận dụng một cách rất khéo léo sức
mạnh kinh tế của mình vào lãnh vực ngoại giao, gia tăng uy tín
và ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế, dần dần
vượt qua các cường quốc khác như Nga, Anh, Đức, Pháp và đang
ngày càng trở nên một đối thủ đáng ngại của Mỹ.
Ngay lúc những dòng này được viết ra thì tổng khối lượng
kinh tế của Trung Quốc đã vượt Nhật Bản để trở thành
nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, chỉ đứng sau có Mỹ,
với tổng GDP lên đến 1,330 tỉ dollars trong tam cá nguyệt thứ
hai của năm 2010 này, trong lúc GDP của Nhật trong cùng thời kỳ
là 1,280 tỉ dollars. Cả năm 2009 thì GDP của Trung Quốc là 4,900
tỉ dollars; Nhật bản là 5,067 tỉ, và Mỹ là 14,256 tỉ dollars.
Số liệu của năm 2007 cho thấy, trị giá xuất cảng của Trung
Quốc ra toàn thế giới đã vượt qua Mỹ: 1,218 tỉ dollars so
với 1,162 tỉ dollars. Tổng trị giá đầu tư nước ngoài (FDI)
của TQ tính đến năm 2007 lên đến gần 100 tỉ dollars. Năm
2008 tổng trị giá mậu dịch của Mỹ đối với Trung Quốc là
433 tỉ dollars, trong đó nhập khẩu là 348 tỉ và xuất khẩu
chỉ có 86 tỉ dollars. Nghĩa là Mỹ đã bị khiếm hụt mậu
dịch với Trung Quốc đến 262 tỉ dollars. Trung Quốc hiện là
chủ nợ lớn nhất của Mỹ, nghĩa là nước đang mua nhiều các
công khố phiếu dài hạn của nước này, theo số liệu mới
đây là đến hơn 867 tỉ dollars, chưa kể khoảng hơn 400 tỉ
ngân phiếu Trung Quốc mua từ hai công ty tài trợ địa ốc do
chính phủ Mỹ đỡ đầu là Fannie Mae và Freddie Mac! Tổng cộng
Mỹ đang nợ của Trung Quốc gần 1,300 tỉ dollar!
Những số liệu trên nói lên sức mạnh kinh tế lớn lao hiện
nay của Trung Quốc, và Trung Quốc đã xử dụng sức mạnh kinh
tế để đó gây ảnh hưởng đối với các quốc gia khác thông
qua các công cụ: Đầu tư, viện trợ nhân đạo, các chương
trình trao đổi văn hoá, tham gia các dự án song phương hay đa
phương, và ngoại giao. Người ta thường gán cho chính sách
đối ngọai của Trung Quốc là thuộc về dạng Soft Power
Diplomacy, một từ được dùng đầu tiên bởi Joseph Nye, cựu
phụ tá bộ trưởng Quốc phòng và Viện trưởng Havard, tác
giả quyển sách nổi tiếng ra năm 2004 Soft Power: the Mean to
Success in World Politics. Vắn tắt thì soft power là dùng sự
thuyết phục thay cho cưỡng ép (persuasion rather than coercion), tìm
cách gây ảnh hưởng thông qua trao đổi văn hoá, viện trợ kinh
tế với điều kiện dễ dàng, đầu tư, tham gia các hoạt
động đa quốc gia, tránh không áp đặt một cách thô bạo các
giá trị lý tưởng như dân chủ-nhân quyền lên các nước
khác, không phê phán công việc nội bộ kẻ khác.
Trung Quốc cũng đã cố gắng gây dựng một hình ảnh đẹp về
mình đối với dân chúng khắp thế giới thông qua các hoạt
động trao đổi văn hoá, dạy tiếng Hoa, giúp huấn luyện các
viên chức hành chánh ,và ngay cả giúp đào tạo thông tín viên
truyền thông cho các quốc gia đang phát triển. Hiện Trung Quốc
đã thiết lập hơn 500 Viện Khổng Tử (Confucius Institutes) ở
tại hơn 70 quốc gia trên thế giới để giới thiệu nét đặc
trưng văn hoá của mình. Hàng ngàn trường dạy tiếng Hoa
được chính phủ Trung Quốc trợ cấp mở ra tại nhiều nước
trên thế giới. Từ nhiều năm qua số lượng học sinh các
nước ghi danh học tại các đại học Trung Quốc đã gia tăng
rất nhanh. Như Indonesia hiện có số du học sinh học tại Trung
Quốc bằng với số du học sinh học ở Mỹ. Nhiều du học sinh
hoặc nhận được giúp đỡ tài chánh, hoặc được những học
bổng hào phóng của Bắc Kinh trong thời gian du học tại Trung
Quốc. Thái Lan hiện cũng gởi nhiều du học sinh qua Trung Quốc
học hơn là gởi qua Mỹ. Nhiều viên chức Thái Lan lại còn
công khai tỏ ra hảnh diện về tổ tiên gốc Trung Hoa của mình.
Ngay cả Philippines, trước là thuộc địa và sau này là đồng
minh của Mỹ, hiện cũng đang có khuynh hướng ngã theo TQ; nhất
là từ năm 2005 sau khi Philippines rút quân tham chiến ở Iraq về
và quan hệ với Mỹ trở nên lạnh nhạt từ đó. Philippines
cũng là nước duy nhất trong khối ASEAN công khai, ngay sau tuyên
bố của ngoại trưởng Clinton, không ủng hộ sự dính líu của
Mỹ vào các tranh chấp ở Biển Đông.
<h3>a- Đối với Đông Nam Á</h3>
Trung Quốc đã chọn Đông Nam Á làm mục tiêu đầu tiên cho
việc mở rộng ảnh hưởng của mình vào ĐNA, và sau đó ra các
nơi khác. Trung Quốc đã tìm cách gia tăng các hoạt động mậu
dịch và tài chánh đối với các nước trong vùng; đặc biệt
nhất là đối với những đồng minh truyền thống của Mỹ,
cố tìm cách để trung hoà ảnh hưởng kinh tế của Mỹ đối
với các quốc gia đó với những thủ đọan tài chánh tinh vi.
Như cách đây mấy ngày, Trung Quốc đã ký với Singapore, một
trung tâm của thị trường tài chánh Á châu, thành lập một
quỹ trao đổi tiền tệ trị giá 150 tỉ nhân dân tệ (hơn 22
tỉ dollars). Mục đích chính của quỹ đó là giúp giới nhập
cảng của các quốc gia trong khu vực có thể nhập cảng hàng
Trung Quốc dùng đồng nhân dân tệ mà không phải xử dụng
dollars làm tiền tệ trung gian trong giao dịch quốc tế. Trước
đó, Trung Quốc cũng đã thành lập những quỹ tương tự như
vậy với Thái Lan, và đề nghị với nhiều nước khác. Rõ
ràng các loại quỹ như vậy (gọi là currency swaps) nếu được
áp dụng mở rộng sẽ giúp gia tăng ảnh hưởng kinh tế của
Trung Quốc, đồng thời đẩy lùi vai trò tiền tệ quốc tế
của đồng dollars.
Trung Quốc cũng đã thành công trong việc thành lập khu vực tự
do mậu dịch (Free Trade Area) với khối ASEAN. Mức độ trao đổi
mậu dịch giữa hai bên, Trung Quốc & ASEAN, trong khoảng từ năm
2001 đến 2009, đã tăng từ 41.6 tỉ lên đến 213 tỉ dollars;
với đà đó thì đến năm 2012 mậu dịch của Trung Quốc sẽ
vượt quá mậu dịch của Mỹ đối với khối ASEAN. Năm ngoái
Trung Quốc cũng đã cùng với ASEAN thành lập một quỹ hợp tác
đầu tư trị giá 10 tỉ dollars dùng cho các dự án về hạ
tầng cơ sở, năng lượng, kỹ thuật tin học và viễn thông.
Trung Quốc cũng gia tăng viện trợ cho các quốc gia trong Vùng,
như Lào, Campuchia, Miến Điện. Viện trợ cho các nước này
thường tập trung vào các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở
như đường sá, cầu cống, bến cảng và các cơ sở năng
lượng. Lối viện trợ của Trung Quốc có những điểm hấp
dẩn khác xa với lối viện trợ thường có của các quốc gia
Âu - Mỹ. Trước hết, những viện trợ cho các công trình xây
dựng hạ tầng cơ sở dễ gây những ấn tượng tốt cho dân
chúng ở các nước nhận viện trợ; tuy rằng trên thực tế
việc xây dựng cầu đường bến cảng mang lại nhiều lợi
ích, không chỉ cho dân địa phương, mà còn cho cả việc vận
chuyển và thu mua nguyên nhiên liệu của Trung Quốc. Chẳng hạn
việc xây dựng bến cảng và con đường nối từ bến cảng
đó của Myanmar lên tới Vân Nam mang lại rất nhiều thuận
tiện cho việc vận chuyển dầu hoả Trung Quốc mua từ Trung
Đông về, nhưng bề ngoài các công trình giao thông đó lại
rất được lòng của người Miến Điện, và cũng đã giúp
Trung Quốc tuyên truyền ảnh hưởng của mình đối với dân
chúng các nước lân cận. Mặt khác, viện trợ của Trung Quốc
lại không đặt các điều kiện về nhân quyền và dân chủ
như các viện trợ của các quốc gia Âu - Mỹ thường có đối
với các quốc gia nhận viện trợ. Trung Quốc chỉ thường
đặt hai điều kiện khá dễ dàng: không thừa nhận Đài Loan
như một quốc gia độc lập, và ủng hộ cho Trung Quốc tại
các diễn đàn quốc tế, nhất là tại Liên Hiệp Quốc. Ngoài
ra, Trung Quốc luôn tuyên bố không can thiệp vào các vấn đề
nội bộ của nước nhận viện trợ. Những năm về sau này
mậu dịch của Trung Quốc đối với ASEAN đã bắt kịp và
vượt cả Mỹ. Như trong bảng sau đây cho thấy là từ năm 1995
đến năm 2008 lượng mậu dịch của Trung Quốc đối với khối
ASEAN đã gia tăng rất nhanh. Bổng chốc, ASEAN trở thành một
thị trường xuất nhập khẩu quan trọng của Trung Quốc. Số
liệu trong Bảng 1 nói lên sự gia tăng rất nhanh tỉ trọng mậu
dịch, và cùng với nó là ảnh hưởng, của TQ đối với khối
ASEAN. Trong khi đó, ASEAN không phải là không quan trọng đối
với Mỹ. Với mức xuất cảng hơn 68 tỉ dollars, ASEAN vẫn là
một thị trường lớn của Mỹ; nhất là trong giai hiện nay khi
mà xuất cảng là ưu tiên hàng đầu đóng góp vào việc phục
hồi kinh tế. Mặt khác, ASEAN còn là thị trường đầu tư
lớn của Mỹ, số liệu năm 2007 cho biết tổng FDI (Foreign Direct
Investment) của Mỹ vào thị trường này lên đến 130 tỉ
dollars, lớn hơn cả đầu tư vào TQ và Ấn Độ.
<em><strong>BẢNG 1. - MẬU DỊCH TRUNG QUỐC & MỸ VỚI KHỐI
ASEAN</strong></em>
<table><tr><td> </td><td>1995</td><td>2008</td><td>Bách phân thay
đổi</td></tr>
<tr><td>China xuất cảng qua ASEAN</td><td>10,474 *</td><td>114,139
*</td><td>989.7%</td></tr>
<tr><td>US xuất cảng qua
ASEAN</td><td>39,676*</td><td>68,151*</td><td>71.8%</td></tr>
<tr><td>China nhập cảng từ
ASEAN</td><td>9,901*</td><td>116,933*</td><td>1081%</td></tr>
<tr><td>US nhập cảng từ
ASEAN</td><td>62,176*</td><td>110,157*</td><td>77.2%</td></tr></table>
*Tính bằng triệu dollars.
Riêng đối với Biển Đông, từ lâu Trung Quốc đã không ngừng
nổ lực khoanh các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông lại trong
phạm vi khu vực, chỉ riêng giữa Trung Quốc và các nước trong
khối ASEAN mà thôi, và ngay cả chỉ muốn giải quyết tay đôi
giữa Trung Quốc và nước liên quan. Do áp lực ngày càng tăng
của khối ASEAN, dần dà Trung Quốc đành chấp nhận nêu các
vấn đề tranh chấp tại các hội nghị đa phương của khối
đó. Mục tiêu chính của Trung Quốc là không có sự can dự
cuả một cường quốc từ bên ngoài khu vực; chính yếu là từ
Mỹ (external powers). Suốt mấy thập niên qua, Trung Quốc đã tìm
đủ mọi cách để gây ảnh hưởng với khối ASEAN. Cử chỉ
đẹp đầu tiên là trong vụ khủng hoảng tài chánh Á Châu năm
1997-98, trong khi giới đầu tư và các hedge funds của Mỹ và Âu
Châu tháo chạy gây ra sụp đổ tài chánh bắt đầu từ Thái
Lan sau đó lan sang các nước Malysia, Indonesia, Nam Hàn, Hồng
Kông, Philippines,v.v... thì Trung Quốc đã chìa tay giúp bằng
cách kìm giữ đồng Nhân Dân tệ, gia tăng tín dụng, ưu đãi
thuế quan, tạo điều kiện tài chánh và mậu dịch thuận lợi
cho các quốc gia đó giảm thiểu hậu quả của cuộc khủng
hoàng và thúc đẩy sự phục hồi. Sau lần đó, ảnh hưởng
Trung Quốc đối với ASEAN gia tăng, đôi bên dần dần đồng ý
hình thành khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN dự trù
thực hiện vào năm 2010 này. Trung Quốc cũng tìm cách gây ảnh
hưởng với diễn đàn APEC và khéo léo tìm cách loại dần Mỹ
ra khỏi tổ chức này. Lưu lượng mậu dịch, và cùng với nó
là quan hệ kinh tế, của Trung Quốc đối với khối ASEAN và
các nước Á Châu gia tăng rất nhanh, đã có dấu hiệu là ảnh
hưởng kinh tế của Trung Quốc ngày càng đẩy lùi ảnh hưởng
của Mỹ. Ngay cả Nhật Bản, rồi Nam Hàn cũng đang ngày càng
có tỉ trọng mậu dịch nghiêng dần về phía Trung Quốc. Tóm
lại, mục tiêu chiến lược đầu tiên của Trung Quốc là đẩy
lùi ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi ĐNA, và sau nữa, khỏi Á
Châu; ngăn cản sự dính líu của Mỹ vào các tranh chấp ở khu
vực này, để chỉ còn Trung Quốc là cường quốc duy nhất
đóng vai trọng tài trong các xung đột địa phương. Mặt nào
đó, Trung Quốc muốn khôi phục lại địa vị của đế quốc
Trung Hoa trước kia, thời mà dưới vòm trời (thiên hạ) thì
nước của người Hán là ở trung tâm (trung quốc), vây quanh là
các chư hầu phiên thuộc như An Nam, Cao Ly, Nhật Bản.v.v...Vừa
là khôi phục mà cũng vừa là rửa mối nhục bị liệt cường
phương Tây xâu xé trong gần cả thế kỷ trước đây.
<h3>b- Đối với Phi Châu</h3>
Với cung cách như vậy, viện trợ, và cùng với nó là ảnh
hưởng, của Trung Quốc trở nên rất hấp dẫn đối với,
không chỉ các quốc gia nghèo ở ĐNA, mà cả với các quốc gia
khác ở Phi Châu và Mỹ Latin. Không ngạc nhiên là các quốc gia
Phi Châu, như Nigeria, Yemen, Zimbabwea, Sudan, v.v… đã ngày càng có
quan hệ mật thiết với Trung Quốc hơn với Âu-Mỹ. Một trong
những điểm chính yếu, là khác với Âu-Mỹ, Trung Quốc trong
khi giao thiệp với các quốc gia đó đã không đả động gì
đến những nhược điểm thiết thân của chế độ chính trị
của họ như sự độc tài, vi phạm nhân quyền, tham nhũng hoặc
ô nhiễm môi trường. Trung Quốc chỉ luôn tuyên bố là tôn
trọng chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ của họ, và bất
can thiệp vào nội bộ của nhau. Chủ trương đó của Trung
Quốc đã có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với các
quốc gia đang phát triển thường có chế độ độc tài, quân
phiệt, do một thiểu số cai trị, và là những quốc gia
thường hay bị các quốc gia Âu-Mỹ lên án vì thiếu dân chủ,
có những vi phạm nhân quyền trầm trọng, điều kiện làm
việc không an toàn và không quan tâm đến vấn đề môi
trường.
Trung Quốc cũng tích cực đóng góp lực lượng duy trì của
Liên Hiệp Quốc. Về mặt này, Trung Quốc chỉ đứng thứ hai
sau Pháp. Trung Quốc đẩy mạnh các viện trợ nhân đạo và y
tế cho nhiều quốc gia, như đã gởi đến 15,000 bác sĩ đến
giúp tại hơn 47 quốc gia ở Phi Châu và đã chăm sóc cho hơn 180
triệu bệnh nhân ở đó. Chỉ riêng tại Yemen, trong 40 năm qua,
Trung Quốc đã gởi hơn 2000 chuyên viên y tế đến giúp quốc
gia này trong vấn đề chăm sóc sức khỏe cho dân chúng tại đó
trong những cơn tai biến. Đổi lại Trung Quốc đã được
nhiều ưu tiên trong thị trường dầu hoả tại Yemen trong nhiều
thập niên qua. Cũng cần thêm rằng Phi Châu là nơi cung cấp
đến 30% lượng dầu nhập cảng của Trung Quốc. Trung Quốc
trong hơn hai thập kỷ qua là cường quốc đã hoặc cho Phi Châu
vay nhiều nợ với lãi suất ưu đãi (concessionary loans), hoặc
tha nợ nhiều nhất, thông qua China Import-Export Bank, và viện
trợ nhiều cho các lãnh vực hạ tầng cơ sở, thực phẩm và y
tế. Dưới con mắt của nhiều giới lãnh đạo Phi Châu thì
Trung Quốc đã đối xử với họ một cách bình đẳng và tôn
trọng chủ quyền, không can thiệp vào chuyện nội bộ của
họ. Có thể nói rằng Trung Quốc đã thành công đáng kể trong
nổ lực tranh giành ảnh hưởng với Mỹ ở Phi Châu.
Trong những thập niên vừa qua, Trung Quốc cũng đã nổ lực xâm
nhập, gây ảnh hưởng vào các quốc gia Nam Mỹ, nổi bật nhất
là với Venezuela, Brazil. TQ đã tìm cách khai thác những mâu
thuẩn lâu đời giữa Hoa Kỳ và các quốc gia Nam Mỹ để
thiết lập các quan hệ kinh tế và gia tăng ảnh hưởng của
mình. Từ khi Giang Trạch Dân thăm viếng vào năm 2001 đến nay,
Trung Quốc đã gia tăng lượng đầu tư vào Nam Mỹ. Chỉ riêng
về hạ tầng cơ sở, Trung Quốc đã đầu tư vào Brazil 8 tỉ
dollars, gần 20 tỉ vào Argentina, chừng gần 2 tỉ dollars vào
Venezuela; và hàng trăm triệu vào các quốc gia khác trong vùng.
Trung Quốc đã tìm thấy ở Nam Mỹ như là thị trường tốt cho
các sản phẩm của Trung Quốc và cho nhu cầu về dầu hoả,
quặng sắt, và quặng đồng rất cần cho nền kinh tế của
mình. Trung Quốc cũng hợp tác rất chặt chẻ với Venezuela và
Cuba trong lãnh vực tin học và sinh học.
<h3>c- Đối với Trung Đông</h3>
Hiện nay Mỹ phải nhập đến 27% nhu cầu dầu hỏa từ Trung
Đông. Trung Quốc lại nhập đến 50% nhu cầu dầu hoả cho sự
phát triển kinh tế của mình từ vùng đó. Nhưng Trung Đông
lại là địa bàn chiến lược sinh tử của Mỹ, như cựu Tổng
Thống Carter trước đây đã từng tuyên bố năm 1980: "Bất
cứ toan tính của một lực lượng bên ngoài nào nhằm kiểm
soát vùng Vịnh sẽ bị coi như là một hành động tấn công
vào quyền lợi sống còn của Mỹ, sẽ bị đẩy lùi bằng mọi
phương cách cần thiết, kể cả bằng quân sự".(<em>Any attempt
by any outside force to gain control of the Persian Gulf region will be
regarded as an assault on the vital interest of the US. It will be repelled
by use of any means necessary including military force</em>).
Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Henry Jackson cũng từng nói rằng:
"Những đe doạ đối với sự liên tục của dòng dầu hỏa
từ vùng Vịnh là hết sức nguy hiểm cho nền kinh tế của Tây
Phương và Nhật Bản đến mức có thể gây ra đại chiến"
(<em>Threats to the continuous flow of oil through the Gulf would so much
endanger to the Western and Japanese economies as to be grounds for general
war</em>).
Tuy nhiên mức cương quyết đó của Mỹ chưa hẳn đã làm Trung
Quốc nản lòng. Do nhu cầu sống chết về dầu hoả, Trung Quốc
đã cố gắng tìm nhiều cách lách qua lá chắn của Mỹ để
mở rộng quan hệ với các quốc gia giàu có về dầu hoả ở
Trung Đông. Có lẽ không mấy ai chú ý rằng chính một trong
những nổ lực thâm nhập vào vựa dầu hoả Trung Đông của
Trung Quốc đã góp phần khai mào việc Mỹ tấn công Iraq năm
2003.
Trữ lượng dầu hoả của Iraq lớn đứng hàng thứ hai trên
thế giới chỉ sau Saudi Arabia. Ưu điểm của dầu hoả Iraq là
dễ khai thác, giá thành thấp hơn các nơi khác và phẩm chất
cao. Ngoài ra, Iraq còn có nhiều vùng có tiềm năng lớn về
dầu hoả, nhưng chưa được thăm dò. Nhiều chuyên gia dự đoán
rằng nếu thăm dò hết toàn bộ lãnh thổ thì có khả năng
trữ lượng dầu của Iraq còn lớn hơn trữ lượng 250 tỉ
thùng của Saudi Arabia. Vì những lẽ đó Iraq trở nên một nơi
rất hấp dẩn đối với nhiều nước và các công ty dầu hoả,
trong đó có Trung Quốc. Saddam Hussein, trong giai đoạn đang còn
bị LHQ cấm vận, đã dự trù việc khai thác nguồn tài nguyên
dầu hoả đó, với những kế hoạch sản xuất lớn, một khi
việc cấm vận kết thúc. Khác với thông lệ ở Trung Đông,
Saddam dự trù áp dụng quy chế Production Sharing Agreement (PSA) vào
việc sản xuất dầu ở Iraq sau khi hết cấm vận; theo đó
chính phủ Iraq sẽ không độc quyền sỡ hữu các mỏ dầu, mà
để cho các công ty dầu hoả ngoại quốc được ký khế ước
khai thác dầu và ăn chia lợi tức với Iraq. Saddam Hussein đã
khéo léo dùng miếng mồi dầu hoả đó vào việc vận động
các cường quốc trong Hội Đồng Bảo An LHQ: Pháp, Nga, Trung
Quốc sớm bỏ cấm vận cho Iraq.
Trung Quốc, với công ty dầu quốc doanh CNOC (China National Oil
Corporation), đã không bỏ lỡ cơ hội, ngay từ năm 1997, khi sự
cấm vận vẫn đang diễn ra, đã ký kết được với Saddam
Hussein nhiều hợp đồng PSA để khai thác dầu hoả tại một
số mỏ dầu lớn ở Iraq; hai mỏ lớn là Al-Ahdab và Halfayah, ở
phía Đông Iraq, với công suất lên đến cả 500,000 thùng/ngày!
Ngoài ra, Trung Quốc, thông qua công ty viễn thông Huawei
Technologies, vi phạm lệnh cấm vận của LHQ, trong nhiều năm đã
cung cấp nhiều phương tiện thông tin tối tân, giúp Iraq xây
dựng và nâng cấp hệ thống viễn thông dùng sợi thuỷ tinh
quang học (fiber-optic communication network). Sự tích cực xâm nhập
của Trung Quốc vào Iraq, một vựa dầu quan trọng ở Trung
Đông, là vùng, như lời của cựu Tổng thống Carter, đã
được trích dẫn ở trên, mang lợi ích sống còn (vital
interests) của Mỹ, đã khiến Mỹ phản ứng tối đa, dẫn đến
cuộc chiến Iraq năm 2003; một cuộc chiến mà ngay như nhân vật
không đảng phái là Alan Greenspan cũng đã phải thốt lên:
<em>"I am saddened that it is politically inconvenient to acknowledge what
everyone knows: the Iraq war is largely about oil"</em>( Thật đáng
buồn rằng nó là một bất tiện về mặt chính trị để thừa
nhận điều mà ai cũng biết rồi: chiến tranh Iraq phần chính
là về dầu hoả).
Sau Iraq, quốc gia quan trọng ở Trung Đông mà Trung Quốc tìm
cách kết thân là Iran. Chính tại Iran mà sự khác biệt về
chính sách của Trung Quốc đối với Mỹ trở nên gay gắt. Từ
nhiều năm qua, trong tư cách một trong năm thành viên thường
trực của Hội Đồng Bảo An LHQ (UNSC) có quyền phủ quyết,
Trung Quốc đã nhiều lần bày tỏ lập trường trái với quan
điểm của Mỹ. Nỗ lực của Mỹ và Âu Châu để vận động
tổ chức việc cấm vận Iran thường xuyên gặp phải sự cản
trở từ Nga và Trung Quốc; nhất là từ Trung Quốc. Đáp ứng
đề nghị cấm vận của Mỹ, Trung Quốc thường kêu gọi đàm
phán với Iran để thuyết phục Iran chấp nhận phát triển năng
lượng nguyên tử cho mục đích hoà bình dưới sự giám sát
của IAEA (Cơ quan Năng lượng Quốc tế). Sau một thời gian dài,
với nhiều thôi thúc từ Mỹ, Anh, Pháp, cuối cùng tháng 6/2010
Trung Quốc miễn cưỡng đồng ý ký nghị quyết UNSCR 1929 cấm
vận Iran nhắm chính yếu vào các lãnh vực quân sự và tài
chánh. Nhưng cùng với việc ký kết nghị quyết cấm vận, Trung
Quốc cũng lên tiếng đòi hỏi rằng việc cấm vận phải không
nên gây ảnh hưởng đến đời sống bình thường của dân
chúng Iran và không cản trở các nổ lực ngoại giao tiếp theo.
Tuy đồng ý ký kết vào nghị quyết cấm vận của Hội Đồng
Bảo An LHQ, nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục duy trì quan hệ kinh
tế gắn bó riêng với Iran, đặc biệt là trong hai lãnh vực
xây dựng và năng lượng. Trong khi các công ty Tây Phương, do
sự cấm vận, ngưng hoạt động doanh nghiệp và rời khỏi thị
trường Iran, hàng trăm công ty của Trung Quốc đã nhảy vào thay
chân. Trung Quốc đã trở nên đối tác lớn nhất của Iran với
khối lượng mậu dịch năm 2009 lên đến hơn 21 tỉ dollars, so
với chỉ hơn 400 triệu dollars 15 năm trước đó. Điều đó nói
lên sự tiến triển vượt bực trong quan hệ mậu dịch giữa
hai quốc gia. Riêng về lãnh vực năng lượng không thôi, Iran
bán cho Trung Quốc trung bình gần nửa triệu thùng dầu một
ngày, thu chừng 15 tỉ dollars/năm. Tuy là nước sản xuất dầu
hoả, nhưng do kỹ thuật lọc dầu kém, Iran thường phải nhập
cảng xăng dầu từ nước ngoài, và đó là nhược điểm của
Iran mà việc cấm vận của Mỹ nhắm vào. Nhưng Trung Quốc lại
là quốc gia vẫn tiếp tục cung cấp xăng dầu cho Iran, đáp
ứng đến 1/3 tổng nhu cầu xăng dầu của Iran. Cách đây mấy
hôm Trung Quốc lại ký một hợp đồng trị giá 1 tỉ dollars
xây dựng công trình hoá dầu cho Iran. Nghĩa là Trung Quốc đã
công khai giảm nhẹ hiệu năng cấm vận của Mỹ đối với
Iran. Việc này và cùng với sự cố ý dung dưỡng Bắc Hàn có
lẽ đã khiến Tổng thống Obama có lời lẽ mạnh mẽ đối
với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tại hội nghị G20 vừa qua khi hai
bên hội kiến.
Về mặt ngoại giao, Iran đã được TQ mời tham gia họp với
tổ chức Hợp tác Thượng Hải (Sanghai Cooperation Organization,
SCO), một tổ chức khu vực gồm Nga, Trung Quốc, và các quốc
gia Trung Á, được lập ra trong cố gắng hạn chế ảnh hưởng
của Mỹ vào Trung Á.
<h3>d- Đối với Âu Châu</h3>
Ngay cả ở Âu Châu, Trung Quốc cũng đã tìm cách can thiệp vào,
ngấm ngầm đối chọi với Mỹ, gây thiện cảm với các nước
nhỏ để lôi kéo đồng minh. Trong cuộc tranh chấp ở Kosovo,
toà đại sứ của Trung Quốc ở Belgrade đã bị hoả tiển của
Mỹ bắn phá chỉ vì có tin tình báo cho biết là Trung Quốc đã
ngầm hổ trợ cho Slobodan Milosevic và dùng điện đài của toà
đại sứ để giúp quân Serbia chuyển tiếp mệnh lệnh.
Tóm lại, sự thành công của việc thực thi 4 hiện đại hoá,
kinh tế của Trung Quốc đã phát triển rất nhanh với một tốc
độ chóng mặt, vượt qua nhiều quốc gia khác, kể cả Nhật
Bản, đến nay trở thành nền kinh tế lớn thứ hai chỉ sau
Mỹ. Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, là sự gia tăng về
địa vị và ảnh hưởng trên phạm vi thế giới, đến mức
đang trở thành kẻ thách thức đối với ngôi vị siêu cường
số một thế giới của Mỹ. Càng ngày càng có bằng chứng là
Trung Quốc không vươn lên một cách hoà bình. Từ Á châu, qua
Trung Đông, qua Mỹ Latin, rồi Âu Châu và trên các diễn đàn
quốc tế, ở đâu người ta cũng thấy là Trung Quốc đang tìm
cách gây dựng ảnh hưởng cho mình và tranh cường với Mỹ.
Đã và đang có nhiều dự đoán về sự đối đầu khó tránh
khỏi giữa Mỹ, cường quốc bá chủ cả thế giới từ sau
Đệ Nhị Thế chiến đến nay, và Trung Quốc một siêu cường
đang lên mà mức độ tăng trưởng kinh tế vẫn chưa có dấu
hiệu chậm lại. Những va chạm sơ khởi trên Biển Đông của
vụ tàu USNS hồi tháng 3/2009 Impeccaple và những sự kiện đang
xảy ra trong những ngày vừa qua ở vùng Biển Vàng quanh bán
đảo Triều Tiên có vẻ như khẳng định mức chính xác của
dự đoán vừa nói. Lời tuyên bố vừa rồi của Ngoại trưởng
Mỹ về quốc tế hoá các tranh chấp trên Biển Đông, tiếp ngay
với phản ứng mạnh mẽ từ phía bộ trưởng ngoại giao Trung
Quốc, lại càng khiến cho người ta tin rằng dự đoán về sự
đối đầu Trung-Mỹ đang trở nên hiện thực.
(còn tiếp)
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6359), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét