hoạt động có chất lượng khoa học</h2>
Muốn có phản biện xã hội thì trước hết xã hội phải có
thói quen thảo luận, mà muốn tạo thói quen thảo luận cho xã
hội thì nhất thiết phải trả lại cho xã hội cảm hứng nói,
tức là trả lại cho xã hội quyền tự do ngôn luận để khích
lệ xã hội tham gia vào những cuộc thảo luận hoặc tranh luận
trên quy mô xã hội về tất cả các vấn đề. Khi xã hội
được huấn luyện thông qua những cuộc thảo luận như vậy
thì xã hội mới có đủ năng lực để phản biện những vấn
đề hệ trọng khác, vì khi nói đến phản biện xã hội tức
là phản biện những vấn đề hệ trọng của đời sống chính
trị. Cho nên, điều kiện thứ nhất là cần phải thực thi tự
do ngôn luận. Phản biện là biểu hiện chuyên nghiệp của
việc người ta thực thi quyền tự do ngôn luận nên phải
khẳng định quyền tự do nói trước. Tự do ngôn luận là
quyền đầu ra của mọi ý kiến phản biện. Nếu không có tự
do ngôn luận thì không có cách gì để phản biện. Không có
quyền nói thì anh cứ nghĩ mãi và anh có nghĩ kiểu gì, nghĩ hay
đến mấy mà không nói được thì cũng vô ích vì anh không có
cách gì để thể hiện được ý nghĩ ấy. Nếu hạn chế
quyền tự do phổ biến các quan điểm thì có nghĩa là dành
toàn bộ các quyền tự do cho một loại quan điểm và nếu xã
hội chỉ được hướng dẫn bằng một loại quan điểm thì vô
cùng nguy hiểm vì nó tất yếu sẽ dẫn đến sự đơn điệu
và lệch lạc của đời sống. Cho nên, tự do ngôn luận chính
là một trong những chìa khoá cực kỳ quan trọng để làm cân
bằng tất cả các khuynh hướng, để mỗi một điểm trong
đời sống xã hội nhận được nhiều thông tin khác nhau giúp
cho các thành viên trong xã hội có năng lực lựa chọn. Bản
chất của tự do là quyền được lựa chọn và sự phong phú
để lựa chọn. Muốn có sự phong phú để lựa chọn thì con
người phải có quyền phổ biến quan điểm, tức là quyền tự
do ngôn luận. Quyền tự do ngôn luận là tiền đề, là điều
kiện cơ bản để con người thực thi các quyền tự do lựa
chọn.
Thứ hai, phản biện xã hội là trạng thái chuyên nghiệp của
quá trình thảo luận cho nên nó cần có sự tham gia của hai
lực lượng, lực lượng thứ nhất là để nói một cách
chuyên nghiệp và lực lượng thứ hai là để nghĩ một cách
chuyên nghiệp. Trước khi nói phải nghĩ, nghĩ chuyên nghiệp là
giới trí thức và nói chuyên nghiệp là giới báo chí. Phản
biện xã hội là sự tranh luận một cách chuyên nghiệp giữa
các lực lượng xã hội với nhau hoặc là với nhà cầm quyền
để tạo sự chính xác chính trị của mỗi một hành động có
chất lượng chính sách hoặc định hướng, cho nên, nếu không
có sự tham gia của hai lực lượng này thì quá trình còn lại
là quá trình phản ứng xã hội chứ không phải là phản biện
xã hội.
Vấn đề của những nước chậm phát triển là cần phải xây
dựng một đội ngũ trí thức. Tại sao lại đặt ra vấn đề
này? Bởi vì với chất lượng con người ở những nước này
thì chưa thể có đội ngũ trí thức tiên tiến được. Đội
ngũ trí thức ở đó mới đạt đến trạng thái hơn nhân dân
và họ tự hào là mình hơn nhân dân. Đó là nỗi đau khổ lớn
nhất và là chỉ tiêu tập trung nhất để mô tả tình trạng
chậm phát triển của xã hội. Khi nào giới trí thức nhận
thức được rằng trí thức là tội đồ của nhân dân, có sứ
mệnh nghĩ hộ nhân dân, nghĩ trước nhân dân và biết biến
nhân dân trở thành đồng minh của sự suy nghĩ của mình thì
đấy là dấu hiệu bắt đầu của sự phát triển. Vở kịch
"Nguyễn Trãi ở Đông Quan" của Nguyễn Đình Thi cách đây
gần ba chục năm đã nói điều này, đó là người trí thức
phải nói hộ nhân dân. Tuy nhiên, người trí thức nói hộ nhân
dân thì vẫn chưa đủ để tạo ra sự đồng thuận xã hội.
Người trí thức không chỉ nói hộ nhân dân mà quan trọng hơn
là phải hướng dẫn nhân dân để tạo cho nhân dân thói quen
nói lên tiếng nói của chính mình.
Khi người trí thức yêu nhân dân của mình thì thành đạt bao
nhiêu cũng không đủ, cũng không làm cho người ta thoả mãn
bởi lý tưởng của tri thức nằm trong nỗi khổ, trong sự suy
nghĩ của nhân dân chứ không phải nằm trong sự thành đạt
của cá nhân. Những trí thức Pháp ở thời kỳ Khai sáng chính
là những ví dụ về tầng lớp trí thức coi mình là tội đồ
của nhân dân. Nhà nước Pháp truy bắt Diderot, truy bắt
Montesquieu, truy bắt Voltaire. Voltaire phải trốn lên biên giới
trong các nhà thờ lớn của nước Pháp, ở đấy ông ta viết
những tác phẩm về tự do. Montesquieu và Diderot cũng thế. Cho
nên, xã hội muốn phát triển thì việc đầu tiên là phải
phát triển đội ngũ trung lưu của xã hội mà ở những nước
chậm phát triển thì tầng lớp trung lưu của xã hội là những
người trí thức, chứ không phải là những kẻ buôn bán lắm
tiền.
Bộ phận nói chuyên nghiệp là giới báo chí ở những quốc gia
chậm phát triển cũng có những vấn đề của nó. Do sự bức
xúc của đời sống nên giới báo chí thường có xu hướng cứ
đòi hỏi, cứ làm to tất cả những thứ thực ra rất khiêm
tốn, rất gần gũi với đời sống con người. Đấy chính là
một trong những nhược điểm của giới báo chí. Tôi cho rằng
chúng ta không nên đao to búa lớn, không nên gạch chân dưới
những đòi hỏi của mình. Chẳng hạn, trong một chế độ
chính trị chịu sự chi phối của quá khứ mà đòi hỏi các
nhà chính trị phải thay đổi hay phải cắt bỏ ngay những bộ
phận đã được mã hoá bởi quá khứ ra khỏi cơ thể chính
trị thì đó là đòi hỏi khó chấp nhận. Nhưng nếu chúng ta
đưa ra những đòi hỏi về xã hội dân sự thì đấy lại là
quyền rất chính đáng. Chúng ta hãy đòi hỏi một cách từ
tốn tất cả những gì cần cho đời sống con người. Hãy chia
nhỏ tất cả những đòi hỏi lớn. Chúng ta xây dựng nền dân
chủ bằng việc xây dựng các quyền nhỏ nhoi liên quan đến
thân phận con người trước. Và chúng ta thấy rằng tất cả
những thứ nhỏ nhoi khiêm nhường ấy không chỉ chúng ta cần,
mà con cái những nhà chính trị cầm quyền cũng cần. Họ thấy
sự gần gũi của những đòi hỏi của chúng ta so với những
đòi hỏi của con cái họ và họ không thấy nguy cơ chính trị
nào trong những đòi hỏi ấy cả, hay nói cách khác, chúng ta
sẽ có được sự cảm thông chính trị rất con người giữa
chúng ta và họ, đấy chính là mục tiêu và là phương thức
tối ưu của hoạt động báo chí.
Có nhiều người cho rằng chức năng thức tỉnh cảm hứng xã
hội cũng như thức tỉnh nhận thức xã hội là của báo chí,
nhưng báo chí lại không có đủ quyền tự do thì làm thế nào
để xã hội có thể thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn ấy được.
Xét về mặt định tính thì có vẻ như ý kiến ấy là đúng,
nhưng trên thực tế thì không đúng. Anh có tự do đến đâu
thì anh hãy tận dụng cho hết cái không gian ấy đi. Nói to quá
trong một căn phòng bé thì chỉ làm váng tai người nghe, cho
nên, hãy nói những điều vừa phải trong một không gian thích
hợp, hãy khích lệ mọi người và dần dần họ sẽ đòi một
không gian lớn hơn. Các không gian tự nó nở ra cùng với thời
gian, cùng với trí tuệ của con người chứ không phải nở ra
bằng sự nói to của bất kỳ ai. Chúng ta có nói to mấy cũng
không làm thủng được bức tường chính trị, nhưng nếu
người dân đòi hỏi thì bức tường ấy sẽ tự giãn. Cho nên
phải kiên nhẫn. Nếu chúng ta xem chính trị là một cuộc đấu
tranh thì chúng ta hiểu sai toàn bộ giá trị của đời sống
chính trị. Chính trị không phải là đối lập, không phải là
đối kháng, không phải là đấu tranh, chính trị là quá trình
xã hội thuyết phục lẫn nhau về sự hợp lý cho sự phát
triển. Và phản biện xã hội chính là một trong những cách
thức để thực hiện quá trình ấy.
Trong thời đại ngày nay, chúng ta không thể tiếp tục xem
động lực phát triển của xã hội là đấu tranh giai cấp mà
phải xem sự phát triển dân trí là động lực của sự phát
triển. Trước khi làm cho dân chúng trở thành những người có
chất lượng chính trị tốt thì phải giúp họ trở thành
người tốt đã. Bởi vì những người muốn làm người tốt
có số lượng lớn hơn rất nhiều so với những người muốn
tham gia tốt vào đời sống chính trị. Chúng ta hãy góp phần
làm cho con người trở thành người hơn đã. Trên nền tảng
ấy, con người mới có điều kiện để nhận thức về sự
phải chăng của đời sống chính trị. Chính trị phải được
phán xét bởi chất lượng con người, chứ không chỉ bởi
chất lượng của nhà chính trị. Chúng ta có một nghìn nhà
chính trị tốt nhưng chúng ta có một triệu người dân tồi
thì xã hội cũng không thể tốt lên được. Nhưng chúng ta có
một triệu người dân tốt mà chúng ta chỉ có 10 nhà chính
trị tốt và có 90 nhà chính trị tồi, thì xã hội vẫn tốt
lên. Cách mạng tháng Tám là một ví dụ về một xã hội như
thế. Các nhà chính trị dựa vào chất lượng tử tế của xã
hội Việt Nam thời đó đã tạo ra được cuộc cách mạng
tháng Tám. Cho nên, để hướng dẫn người dân làm chính trị
tốt, trước hết cần phải hướng dẫn họ làm người tốt.
Đấy là lời khuyên của tôi với tư cách là một phản biện
xã hội đối với báo chí. Báo chí cần phải góp những tiếng
nói có hệ thống để xã hội thức tỉnh về câu chuyện tổ
chức và rèn luyện nền dân chủ một cách từ tốn, một cách
yên tĩnh để khi con người già rồi, ngẩng đầu lên, thấy
trên đầu mình có nền dân chủ.
<h2>IV. Thiết chế phản biện xã hội</h2>
<h3>Xã hội dân sự với vai trò phản biện và vai trò trọng
tài</h3>
Xã hội dân sự là một xã hội tự cân bằng. Chính sự tự
cân bằng của xã hội đã tạo ra nhà nước và đặc biệt là
tạo ra chức năng và nội dung của hoạt động nhà nước. Ở
mỗi một thời đại, mỗi một thể chế chính trị hoặc mỗi
một trình độ phát triển, nội dung của xã hội dân sự khác
nhau. Gần đây, khi nói đến xã hội dân sự người ta vẫn nói
đến các tổ chức độc lập với nhà nước, tức là các tổ
chức phi chính phủ. Tôi có phát biểu tại Singapore trong một
cuộc hội thảo rằng tôi không đồng ý với cách định nghĩa
này, vì các tổ chức phi chính phủ chỉ là một biểu hiện
của xã hội dân sự chứ không phải là toàn bộ xã hội dân
sự. Nó là biểu hiện ở một trạng thái phát triển nào đó,
ở một số quốc gia nào đó của xã hội dân sự chứ không
phải là xã hội dân sự.
Xã hội dân sự là xã hội phi nhà nước. Xã hội dân sự tồn
tại song song với nhà nước. Nó có các quy tắc văn hóa để
hạn chế tất cả sự cực đoan, tất cả những hành vi không
phù hợp với lợi ích công cộng. Trong đời sống dân sự hàng
ngày con người ít cần đến nhà nước, con người có những
tổ chức phi chính phủ để thể hiện những loại hình ý chí
khác nhau của cộng đồng, họ thương thảo với nhau và tạo ra
sự đồng thuận xã hội. Người Á Đông chúng ta không quen
với xã hội dân sự cho nên định nghĩa về xã hội dân sự
của chúng ta hiện nay vẫn không đúng. Xã hội dân sự mà
chúng ta định nghĩa vẫn là cái gì đó có tính chất tôn
trọng nhân dân nhưng lại không tôn trọng quyền tự cân bằng
của xã hội. Ở một số quốc gia, nhà nước là tất cả,
luôn luôn tồn tại nhà nước để giải quyết một loạt các
vấn đề mà nhà nước cho rằng xã hội dân sự không làm
được. Việc pháp luật không thừa nhận tình trạng không có
nhà nước trong một loạt các khu vực khác nhau của đời sống
làm cho nó mất đi những điều kiện tồn tại của xã hội
dân sự.
Cần phải nhấn mạnh rằng, bản chất của xã hội dân sự là
tính tự lập của xã hội, tức là xã hội phải giải quyết
các vấn đề của nó. Nhà nước là một bộ phận của xã
hội nhằm giải quyết những vấn đề có chất lượng chiến
lược của đời sống chứ không phải là người giải quyết
tất cả các vấn đề của đời sống. Xã hội dân sự là
một xã hội tự quản lấy mình và đến một mức độ mà nó
không có khả năng để tự quản nữa thì phần còn lại đó
rơi vào nhà nước chuyên nghiệp. Hay nói cách khác, nhà nước
chuyên nghiệp là bộ phận nối dài của xã hội dân sự để
giải quyết những công việc mà bản thân xã hội không tự
giải quyết được.
Sẽ không thể có hoạt động phản biện xã hội nếu xã hội
dân sự không được tôn trọng hoặc không có được địa vị
hợp pháp của nó. Bởi thứ nhất, phản biện là một quyền
tự nhiên, là tiếng nói của xã hội dân sự, xã hội không có
địa vị hợp pháp thì có nghĩa là quyền ấy cũng không hợp
pháp. Vậy làm thế nào để xã hội thực hiện quyền phản
biện? Thứ hai, xã hội cũng chính là trọng tài của các cuộc
phản biện, hay nói đúng hơn là trọng tài giữa các khuynh
hướng khác nhau tranh luận với nhau thông qua phản biện, Sự
đánh giá đúng sai được thể hiện bằng sự hoan hô của xã
hội đối với từng loại ý kiến, đối với từng mức độ
chất lượng của ý kiến. Nếu xã hội không được tôn
trọng, xã hội không có địa vị hợp pháp thì liệu xã hội
có thể tự do thể hiện sự hoan hô của mình đối với những
ý kiến có chất lượng không? Và khi đó phản biện xã hội
liệu có còn tác dụng? Cho nên, vấn đề ở đây là chúng ta
cần phải xác định rõ vai trò và địa vị của xã hội dân
sự để có được quan niệm đúng đắn về xã hội dân sự,
dựa vào đó mà thức tỉnh xã hội về những quyền hợp pháp
của mình, đồng thời thức tỉnh nhà nước về việc tôn
trọng địa vị hợp pháp của xã hội dân sự.
<h3>Nhà nước với chức năng quản lý hoạt động phản
biện</h3>
Như đã nói ở trên, phản biện là một đặc trưng của nền
dân chủ. Chỉ có những nhà nước mạnh mẽ thì mới thừa
nhận một cách công khai và rõ ràng các quyền tham gia vào đời
sống chính trị của người dân. Nếu quyền tham gia vào đời
sống chính trị của người dân không được khẳng định một
cách tự nhiên thì đó là biểu hiện của sự bất lực hoặc
sự ép của nhà nước. Tuy nhiên, khi nhà nước thừa nhận cái
quyền ấy mà xã hội vẫn không tham gia thì nó thể hiện tính
chậm phát triển về chính trị của xã hội. Trong tình trạng
như vậy nếu nói là nhà nước không cho thì không đúng vì nó
không khoa học. Trong mọi trường hợp, chúng ta đều phải phân
tích một cách khoa học. Quyền tham gia một cách tự nhiên vào
đời sống chính trị phải được kiểm soát một cách an toàn
bởi nhà nước, bởi vì nhà nước mà không kiểm soát sự an
toàn chính trị trong quá trình các lực lượng xã hội tham gia
vào quá trình ấy thì nhà nước không hoàn thành chức năng
của nó là bảo vệ sự yên ổn của xã hội. Nhưng nếu nhà
nước làm quá lên thì nhà nước tiêu diệt năng lực sống
của xã hội hay hạn chế các quyền sống tự nhiên của xã
hội. Cái sai ở đây là nhà nước nhận thức sai về vùng ảnh
hưởng của mình đối với sự phát triển. Anh tưởng là
người dân tham gia vào các tiến trình chính trị thì đất
nước sẽ không ổn định thì đó là nghĩ sai. Bắt đầu từ
nghĩ sai cho nên dẫn đến làm sai. Nên hiểu rằng nếu nhân dân
tham gia một cách tích cực trong khuôn khổ điều chỉnh của
pháp luật vào các tiến trình chính trị thì đấy chính là mở
rộng động lực phát triển của xã hội. Khi chúng ta đi khám
bệnh mà không định hướng được căn bệnh thì chúng ta sẽ
phạm sai lầm. Để hoàn tất các chức năng chính trị đảm
bảo yên ổn xã hội, một số nhà nước đã làm quá nên làm
cản trở tiến trình phát triển, cho nên, nhiệm vụ của nhà
nước là phải xác định được ranh giới hợp lý của quản
lý. Đo đếm cái ranh giới hợp lý giữa tự do và quản lý là
toàn bộ trí tuệ của nhà cầm quyền.
Gần đây, trong xã hội chúng ta cũng xuất hiện nhiều tranh
luận về vấn đề phản biện xã hội. Về phía nhà nước
cũng có những chính sách vĩ mô khuyến khích phản biện xã
hội, cụ thể là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được giao
thực hiện phản biện xã hội. Đấy là những dấu hiệu tích
cực. Tuy nhiên có một vấn đề nên xem xét đó là liệu có
nên giao cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện một hoạt
động vốn dĩ là quyền tự nhiên của xã hội? Như đã phân
tích, phản biện xã hội là hoạt động tự nhiên của xã
hội, nó thể hiện quyền tự nhiên của xã hội. Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam không đủ cơ sở pháp lý cũng như khoa học
để có thể thực hiện chức năng phản biện. Nó có thể lãnh
đạo hoạt động phản biện nhưng nó không phải là tổ chức
phản biện. Phản biện là xã hội nói tiếng nói của mình
để những người đưa ra các chính sách buộc phải uốn nắn
lại chính sách của mình, buộc phải cân bằng lại khuynh
hướng của mình cho phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam không phải là một tổ chức làm
được việc ấy và cũng không nên làm việc ấy. Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam là tổ chức tập hợp các lực lượng quần
chúng của xã hội Việt Nam, có nghĩa là Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam là một tổ chức nối dài của nhà nước trong đời
sống quần chúng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam bắt sâu rễ
trong đời sống xã hội, do đó, nó có điều kiện để nắm
bắt nguyện vọng và tổ chức cho các nguyện vọng khác nhau có
tiếng nói. Cho nên, nếu nói rằng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
hỗ trợ nhà nước trong việc tổ chức và lãnh đạo hoạt
động phản biện thì mới nhất quán với hệ thống chính trị
hiện nay chúng ta đang thừa nhận.
<h2>V. Đi tìm giải pháp cho giải pháp</h2>
Tìm kiếm sự phát triển trong thời đại ngày nay đã trở
thành động cơ của tất cả các nghiên cứu khoa học. Chúng ta
đi tìm các giải pháp khoa học để góp ý với giới cầm
quyền trong việc tìm kiếm sự phát triển, nhưng để cho giải
pháp mà chúng ta nghiên cứu trở thành giải pháp trong thực tế
thì phải có giải pháp của giải pháp. Giải pháp của giải
pháp là các quyền tự do. Nghiên cứu phản biện xã hội chính
là nghiên cứu về quyền tự do ngôn luận, một trong những
quyền tự do cơ bản. Không có quyền này thì các quyền tự do
khác khó có thể trở thành hiện thực. Bởi vì như đã phân
tích, ngôn luận chính là quyền tự do lựa chọn và bày tỏ
về sự lựa chọn của xã hội, nếu xã hội không có quyền
lựa chọn thì xã hội sẽ không có tự do. Do đó, trong quá
trình tổ chức và rèn luyện nền dân chủ phản biện xã hội
cần phải được biến thành một quyền phổ biến. Như đã
phân tích ở những phần trên, xã hội phải có khả năng nói
tiếng nói của mình nhưng nhà nước với chức năng chủ yếu
của nó là đảm bảo an ninh xã hội vẫn cần có những hoạt
động quản lý. Cho nên, vấn đề cần nghiên cứu là làm thế
nào để hoạt động quản lý của nhà nước không lấn át xã
hội đến mức tạo ra nguy cơ đẩy xã hội vào tình trạng
bất hợp pháp hoặc mất năng lực phản biện. Tôi cho rằng
để giải quyết được vấn đề này, chúng ta phải nhận
thức một cách rõ ràng về vai trò của xã hội dân sự và
mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của xã hội dân
sự và qui mô của nhà nước.
Đã từ lâu, tất cả chúng ta quá quen thuộc với quan điểm
nhà nước là một hiện tượng lịch sử có đầu và có cuối,
có nghĩa là nhà nước sẽ biến mất khi không còn giai cấp,
đến mức chúng ta tin chắc rằng đó là quy luật bất di bất
dịch. Đấy chính là một trong những bế tắc trong lý luận
về nhà nước. Theo quan điểm của tôi, nhà nước tồn tại
vĩnh viễn bởi vì xã hội tồn tại vĩnh viễn. Xã hội dân
sự tồn tại vĩnh viễn, sự nối dài, sự chuyên nghiệp hoá
trong việc điều hành xã hội là vai trò của nhà nước, do nhà
nước thực hiện và nó tồn tại vĩnh viễn. Nhà nước không
biến mất cùng bất kỳ cái gì cả trừ khi biến mất loài
người. Tôi cũng không nghĩ rằng có một quy luật là xã hội
càng phát triển thì vai trò của nhà nước càng thu hẹp lại.
Bởi vì cuộc sống có nhiều pha, trong đó có thể sắp xếp
thành hai pha cơ bản là bình thường và khủng hoảng. Trong sự
phát triển bình thường, nhà nước quả thật có thể thu hẹp
chức năng lại. Nhưng trong những giai đoạn khủng hoảng của
đời sống phát triển, nhà nước sẽ có những chức năng mở
rộng ra. Ví dụ, ở Mỹ chúng ta thấy rằng nhà nước dưới
thời của Tổng thống Bill Clinton là một nhà nước thông
thường. Các quyền tự do thông thường của người dân được
đảm bảo và được tôn trọng một cách đầy đủ. Nhưng khi
đến thời Tổng thổng Bush, sau sự kiện 11/9 thì xã hội
khủng hoảng, do đó, chính phủ Mỹ buộc phải thay đổi và nó
lấn át một số quyền đương nhiên của xã hội dân sự. Vì
thế, tổng thống có quyền nghe lén điện thoại không phải
để phục vụ những mục tiêu riêng của tổng thống mà phục
vụ chức năng quản lý xã hội trong thời chiến. Cho nên, không
phải là càng ngày nhà nước càng thu hẹp mà các yêu cầu của
xã hội dân sự đối với vai trò của nhà nước trong mỗi
một pha khác nhau của đời sống phát triển là rất khác nhau.
Vì thế, không có quy luật xã hội càng phát triển thì nhà
nước càng thu hẹp vai trò. Xã hội càng phát triển thì càng
dễ có những sự bùng nổ, những sự bùng nổ của đời sống
phát triển tạo ra những đòi hỏi mới, những đòi hỏi có
thể là thu hẹp, có thể là mở rộng nhà nước. Nói cách
khác, quy mô của nhà nước cũng như những chức năng của nó
phát triển nhịp nhàng với sự đòi hỏi về vai trò của nhà
nước của đời sống. Ở đây không có sự mâu thuẫn, vai trò
của nhà nước đến đâu là do đòi hỏi điều hành của xã
hội chứ không phải là nhà nước đòi hỏi xã hội phải mở
rộng hoặc thu hẹp vai trò của mình. Nhà nước là một hệ
thống chính trị mang chất lượng bị động đối với sự
phát triển.
Theo một kết quả khảo sát thì hiện nay ở các nước phát
triển, mỗi năm chính phủ giải quyết khoảng từ 350 – 450
đầu việc. Một số nước đang phát triển như Trung Quốc thì
một năm chính phủ giải quyết khoảng 1200 đầu việc, ở
Việt nam là khoảng 6000 – 6500 đầu việc. Nhìn nhận một cách
đơn giản thì có vẻ như những kết quả nghiên cứu như vậy
phản ánh rằng trình độ của xã hội càng cao thì nhà nước
càng ít việc đi, nhưng nhà nước chỉ ít những việc thông
thường chứ không hề ít việc trong việc tìm kiếm con đường
phát triển của xã hội. Nghiên cứu vai trò của nhà nước
thông qua đầu việc chỉ là một loại nghiên cứu về trạng
thái phát triển của xã hội chứ không thể là nghiên cứu về
trạng thái phát triển của nhà nước. Trạng thái phát triển
của nhà nước là nó đảm bảo khả năng hướng dẫn sự phát
triển xã hội của nó chứ không phải là nó làm thay xã hội
những công việc hằng ngày. Kết luận rằng xã hội càng phát
triển, nhà nước càng ít việc thì tôi không đồng ý. Tôi cho
rằng xã hội càng phát triển thì vai trò của nhà nước càng
lớn bởi vì nhà nước không còn là một bộ máy để làm
những việc thông thường mà nhà nước trở thành bộ não chỉ
đạo sự phát triển xã hội. Đấy chính là mục tiêu mà các
nhà nước cần hướng tới.
Để đi đến mục tiêu ấy, trước hết cần phải tạo ra một
tiền đề cho nó, đó chính là đưa xã hội ra khỏi tình trạng
lạc hậu phổ biến của nó. Chúng ta không thể khăng khăng
đổ hoàn toàn lỗi cho nhà nước rằng xã hội lạc hậu vì
nhà nước tồi được, bởi vì nhà nước sản sinh ra từ chính
xã hội. Ở những xã hội lạc hậu, con người không có khả
năng phản biện, thậm chí cũng không có năng lực phản đối
và họ thay thế sự phản đối bằng sự bất mãn yếm thế.
Sự bất mãn yếm thế tạo ra trạng thái lãn công chính trị,
sự lãn công chính trị dần dần tạo ra sự lười biếng chính
trị, sự lười biếng chính trị là nguồn gốc của tất cả
mọi sự chậm phát triển. Khi xã hội không tham gia vào các quá
trình chính trị thì có hai nguyên nhân: thứ nhất là nó không
đủ năng lực và trí tuệ để tham gia vào các khuynh hướng
chính trị và thứ hai là nó không có quyền tham gia. Nhưng như
đã nói ở trên, trong trường hợp nguyên nhân thứ hai đã
được loại trừ mà xã hội vẫn không tham gia thì nó thể
hiện tính chậm phát triển về chính trị của xã hội. Chính
vì vậy chúng ta cần phải thức tỉnh về một thực tế là tư
duy cần cho một xã hội chậm phát triển bây giờ là tư duy
vượt lên trên trạng thái lạc hậu.
Trong khi nghiên cứu về Tự do, tôi thấy rằng các xã hội
phương Đông không phát triển bằng phương Tây vì phương Đông
thiếu tự do. Người Trung Quốc chẳng kém gì người Tây, nền
văn minh Trung Hoa có trước nền văn minh châu Âu, nhưng vì không
có tự do cho nên họ không ra khỏi trạng thái lạc hậu của
chính mình được. Anh nghĩ về những điều cá nhân anh tâm
đắc mà không biết rằng sự nghĩ của riêng anh không tạo ra
sự phát triển được vì nó không tạo ra cảm hứng xã hội.
Đến bây giờ, người viết về trăng hay nhất của nước Trung
Hoa chỉ có hai nhà thơ là Lý Bạch và Đỗ Phủ. Một tỉ ba
người dân Trung Hoa không làm thơ về trăng hay được như họ,
vì con người không thể có cảm hứng trong khi người ta đang
nghĩ về miếng bánh. Trong bộ phim "Phải sống" của đạo
diễn Trương Nghệ Mưu, ông bác sĩ, nạn nhân của cách mạng
văn hoá, mà gia đình ông Phú Quý đón về để cứu con gái
mình đã chết vì ăn liền một lúc bảy cái bánh bao. Trong khi
người ta mải nghĩ về cái bánh bao thì trăng chẳng có nghĩa
gì cả. Cho nên, cần phải trả lại cho đời sống Tự do và
làm cho con người thức tỉnh một cách tập thể về giá trị
của Tự do. Và những nhà lãnh đạo mọi nước trên thế giới
cần phải hiểu rằng Tự do là nguồn gốc của sự sống,
nguồn gốc của việc hình thành các giá trị con người, nguồn
gốc của phát triển. Không có tự do thì không có giải pháp
nào, không có trí khôn nào có thể đưa một đất nước ra
khỏi tình trạng chậm phát triển được.
(Hết)
Nguồn: Tạp chí The Journal of Global Issues & Solutions năm 2007 của
Nhà xuất bản "Bibliotheque: World Wide International Publishers"
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(http://danluan.org/node/6318), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét