Mai Thái Lĩnh - Thác Bản Giốc – Những bằng chứng lịch sử

<i>Ngày 8-3 năm 2014, trong một cuộc họp báo bên lề kỳ họp
thứ hai của Quốc hội khoá XII nước Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa, Ngoại trưởng Vương Nghị tuyên bố: "Lập trường của
Trung Quốc là kiên định và rõ ràng trong vấn đề lãnh
thổ và chủ quyền, đó là: không phải của Trung Quốc
một tấc cũng không lấy; nếu là của Trung Quốc, một
tấc cũng quyết bảo vệ."<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn1"><b>[1]</b></a>
Mới nghe qua, chúng ta thấy lập trường này rất hợp tình,
hợp lý. Thế nhưng, có một câu hỏi được đặt ra: nếu Trung
Quốc (tức là Trung Hoa cộng sản) không lấy một tấc đất
nào không phải của mình, cớ sao họ lại chiếm của Việt Nam
phần lớn cồn Pò Thoong và một nửa thác Bản Giốc? </i>

<i>Bài viết này giới thiệu một số tài liệu của thời Pháp
thuộc nhằm chứng minh thác Bản Giốc hoàn toàn thuộc chủ
quyền của Việt Nam.</i>

<b>I. Những tài liệu sớm nhất (cuối thế kỷ 19 – đầu
thế kỷ 20)</b>

Nguồn tài liệu này khá phong phú, nhưng lâu nay rất khó tiếp
cận. Sau đây, chỉ xin giới thiệu một số tài liệu tiêu
biểu:

<b>1)</b> <b>Cuốn sách về biên giới Quảng Tây của thiếu tá
P. Famin</b>

Tài liệu sớm nhất có đề cập đến thác Bản Giốc có lẽ
là cuốn <i>Ở Bắc Kỳ và trên vùng biên giới Quảng Tây (Au
Tonkin et sur la frontière du Kwang-Si) </i>của thiếu tá P. Famin
xuất bản tại Paris vào năm 1895.<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn2">[2]</a>
Giá trị lớn nhất của tài liệu này là ở chỗ nó được
viết bởi một "người trong cuộc", bởi vì tác giả từng
là Phó Chủ nhiệm Ủy ban cắm mốc biên giới Việt-Trung năm
1894 (Vice-président de la commission d'abornement des frontières
sino-annamites en 1894).<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn3">[3]</a>

Trong cuốn sách này, tác giả đã viết về dòng sông Qui Thuận
(tức Quây Sơn) và thác Tu Tong (tức thác Bản Giốc) như sau:
"Dòng sông Qui-Thuan (Qui-Thuận) xinh xắn – phụ lưu trực
tiếp của sông Si-Kiang (Tây Giang) chảy ngang qua phần phía bắc
(của Khu quân sự thứ hai)<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn4">[4]</a>.
Dòng sông này rộng 60 mét, đi vào đất Bắc Kỳ qua cửa Ai-Lung
và rời khỏi Bắc Kỳ ở gần đồn Nam-Ton của Trung Hoa, sau khi
đã tưới một thung lũng rộng lớn rất phì nhiêu. Hai
ki-lô-mét trước khi rời đất Bắc Kỳ, nó vượt qua một bậc
thềm đá và tạo thành một dòng thác tuyệt đẹp cao 40 mét.
Cột nước khổng lồ rơi ầm ầm xuống bồn nước thứ nhất,
từ nơi đó lại nảy lên thành những chùm tia sủi bọt trên
những bậc thang bằng đá vôi nhẵn bóng. Vào mùa mưa, dòng
thác đó bày ra một dáng vẻ tuyệt vời, tiếng động của
thác nước nghe vọng từ xa và dội lại trong vùng núi với
một tiếng sấm, trong khi những đám hơi nước hình thành ở
vùng lân cận và tan ra thành một cơn mưa nhỏ." (<i>sđd</i>,
tr. 12-13)

Trong cuốn sách này, Famin cũng dành hẳn một chương (chương X:
Une colonne dans la région de Cao-Bang) để trình bày các cuộc hành
quân trong năm 1892 nhằm bình định vùng "Đệ nhị quân khu"
– trong đó có hạt Cao Bằng (cercle de Cao-Bang), chống lại một
băng cướp vũ trang đông đến 400 tên từ Trung Hoa tràn sang.

Tại trang 142-143, có một đoạn đáng chú ý như sau: "Ngày 15,
vừa mới bắt đầu sáng, nhóm thứ nhất khởi hành và đến
được dòng sông gần Ban-Juoc (Bản Giốc) – bằng cách đi theo
một con đường rất xấu; những trạm gác được thiết lập
ngay lập tức trên tất cả các đỉnh cao của bờ bên phải.
Trạm gác tận cùng bên phải nằm gần các thác nước Tu Tong
(chutes de Tu-Tong) – ngay trên đường biên giới, trạm gác bên
trái thông thương về phía Dong-Mon với các trạm gác của trung
úy Bellion. Như vậy, toàn bộ bờ phải của sông Quei-Chum (Qui
Thuận, hay Quây Sơn) đã được chiếm đóng. "

<center><img
src="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2014/03/image00162.jpg"
width="560"></center>

<em><center>Hình 1: Bản đồ hành quân của quân Pháp chống toán
cướp từ Trung Hoa sang.</center></em>

Những chấm tròn màu đen là vị trí các trạm gác của quân
Pháp

Nhìn vào tấm bản đồ kèm theo, chúng ta thấy "trạm gác
tận cùng ở bên phải" là một điểm nằm cạnh bờ sông, ở
hạ lưu của thác Tu Tong – tức thác Bản Giốc (hình 1). Đây
chính là nơi mà dòng sông Quây-Sơn trở thành đường biên
giới giữa hai nước. Trạm Bản Giốc (Famin phiên âm là <i>Ban
Juoc</i>, phát âm theo tiếng Pháp rất giống với Bản Giốc trong
tiếng Việt) về sau trở thành đồn Bản Giốc như thường
thấy trong các bản đồ sau này. Căn cứ vào hình vẽ thác
nước và cồn đất trên bản đồ, chúng ta thấy cồn Pò Thoong
và toàn bộ thác nước thuộc về phía nước ta. Để độc
giả có thể so sánh, tôi phóng to một phần của tấm bản đồ
trong cuốn sách của Famin và đặt nó bên cạnh tấm bản đồ
mà theo lời Giáo sư Nguyễn Ngọc Giao, đã được tìm thấy
tại Vụ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp.<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn5">[5]</a>
Mặc dù giữa hai tấm bản đồ có những nét tương tự, chúng
ta có thể thấy tấm bản đồ của Famin rõ ràng hơn, chứng
minh đường biên giới không hề chia thác nước ra làm hai phần
(hình 2). Đó cũng chính là lý do khiến cho các chính quyền ở
Trung Hoa lục địa từ thời nhà Thanh cho đến thời Dân quốc
không hề có chút "thắc mắc" gì về chủ quyền của nước
ta đối với thác Bản Giốc cũng như cồn Pò Thoong.

<center><img
src="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2014/03/image00252.jpg"
width="560"></center>

<em><center>Hình 2: So sánh bản đồ của Famin (trái) và bản
đồ tìm thấy tại Bộ Ngoại giao Pháp (phải).</center></em>

<b>2) Cuốn hồi ký của bà Isabelle Massieu (1901)</b>

Cuối thế kỷ 19, một phụ nữ người Pháp tên là Isabelle
Massieu đã thực hiện một chuyến du lịch đến vùng Trung-Ấn
(Indo-Chine).<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn6">[6]</a>
Đến Sài-gòn vào thượng tuần tháng 10 năm 1896, bà đã thực
hiện một hành trình kéo dài gần 8 tháng, đi qua một số địa
điểm ở Cambodge (Kampuchea), Thái Lan, Miến Điện, Lào và Việt
Nam. Trong chặng cuối của cuộc hành trình, bà đã thực hiện
một chuyến du hành ở vùng thượng du phía Bắc nước ta –
giáp biên giới Trung Quốc.

Trong cuốn hồi ký xuất bản tại Pháp năm 1901 nhan đề <i>Tôi
đã đi khắp vùng Trung-Ấn như thế nào? (Comment j'ai parcouru
l'Indo-Chine), </i>bà đã dành một chương (chương 3 của phần
IV) để trình bày về các khu quân sự (territoires militaires) ở
phía bắc nước ta – bao gồm các tỉnh sát biên giới Trung Hoa,
nơi mà người Pháp vừa mới hoàn thành quá trình "bình
định" (pacification). Về thác Bản Giốc, bà viết:

"Chỉ riêng trong khu vực Trùng Khánh Phủ, ba dòng sông lớn
tạo thành những thung lũng rộng – có người ở và được
trồng trọt tốt, tô điểm thêm những thác nước tuyệt đẹp;
những thác này sẽ rất nổi tiếng nếu nằm trong vùng núi
Alpes. Tôi còn nhớ: vào ngày hôm sau khi tôi đến đó, trong
một chuyến đi dạo khoảng 50 ki-lô-mét, ở rất gần Pak-Muong,
tôi đã rất xúc động khi đứng trước dãy thác của sông
Quei-Cheum (sông Quây Sơn) – chắn ngang quang cảnh nơi này. Ngoài
ra, trên con đường đi Bancra, thác Bản Giốc với hình bán
nguyệt, nằm trong một thung lũng xanh tươi và những ngọn núi
đẹp như tranh vẽ, với những đám bọt trắng xóa xếp thành
tầng trên một chiều cao 60 mét. Nó tạo thành năm hoặc sáu
dòng thác riêng biệt xếp chồng lên nhau nhiều lần và được
trang trí bằng những dải thực vật nhiệt đới. Nếu nằm ở
nước Anh, những thác nước đó sẽ được ca ngợi trong những
tạp chí minh họa; còn ở Bắc Kỳ, thác Bản Giốc – một
trong những thác nước đẹp nhất và có khung cảnh đẹp nhất
mà chúng ta có thể tìm thấy, chỉ được các sĩ quan trong vùng
biết đến."<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn7">[7]</a>

<center><img
src="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2014/03/image00326.jpg"
width="560"></center>

<em><center>Hình 3: Bà Isabelle Massieu và bìa cuốn sách viết về
chuyến du lịch bán đảo Trung-Ấn</center></em>

Chương nói trên cũng đã được tách riêng để đăng trên
<i>Tạp chí Địa Lý (Revue de géographie) </i>do Ludovic Drapeyron
sáng lập, tập XLVIII, tháng 1-tháng 6 năm 1901 dưới nhan đề
"Những khu quân sự tại Bắc Kỳ" (Les territoires militaires du
Tonkin). <a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn8">[8]</a>

Có thể coi Isabelle Massieu là một trong những "du khách"
ngoại quốc sớm nhất đã đặt chân đến vùng thung lũng sông
Quây Sơn và để lại cho chúng ta một tài liệu mang tính khách
quan, chứng minh thác Bản Giốc hoàn toàn thuộc về phía Việt
Nam, sau khi đường biên giới Việt-Trung đã được phân định
rõ ràng.

<b>3) Cuốn sách viết về người dân vùng núi Bắc Kỳ của
đại tá Diguet (1908) </b>

Từ tháng 9 năm 1907 đến tháng 1 năm 1908, tờ <i>Revue coloniale
(Tạp chí Thuộc địa)</i> đăng tải một loạt bài của đại
tá Edouard Diguet viết về các sắc dân miền núi ở phía Bắc
nước ta. Năm sau (1908), loạt bài này được in thành một cuốn
sách nhan đề là <i>Người miền núi ở Bắc Kỳ (Les montagnards
du Tonkin).<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn9"><b>[9]</b></a></i>
Mục đích của cuốn sách là trình bày về các sắc dân thiểu
số tại vùng Thượng du Bắc Kỳ. Tại trang 3, tác giả viết
như sau:

"Đó là cao nguyên Ba Châu (Quảng Uyên, Trùng Khánh Phủ và
Hạ Lang) – nằm ở độ cao 400 hay 500 mét. Đó là xứ sở của
các hang động – nơi mà toàn bộ dân cư của các tổng trú
ngụ trong những thời kỳ rối ren, vùng đất của những dòng
sông bị chìm mất hút dưới những dãy núi đá để rồi lại
hiện ra ở những nơi xa hơn, xứ sở của những thác nước mà
trong đó cần phải kể đến những thác nước tuyệt vời ở
Bản Giốc." Trong số các ảnh chụp, có một tấm ảnh của
thác Bản Giốc (hình 4).

<center><img
src="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2014/03/image00417.jpg"
width="520"></center>

<em><center>Hình 4: Thác Bản Giốc (trong sách của
Diguet)</center></em>

<center><img
src="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2014/03/image00513.jpg"
width="495"></center>

<em><center>Hình 5: Thân binh vùng biên giới Trung Hoa tại đồn
Trà Lĩnh
</center></em>
Ngoài ra còn có một số tấm ảnh chụp các đồn canh của
quân Pháp tại vùng biên giới tỉnh Cao-Bằng, như tấm ảnh
chụp một số sĩ quan Pháp đang điểm binh tại đồn Trà Lĩnh
(hình 5). Các binh sĩ người địa phương trong ảnh được gọi
là <i>partisans (thân binh).</i> Điều đó cho thấy vùng biên giới
giữa Bắc Kỳ và Trung Hoa thời đó được canh phòng rất cẩn
mật, nhất là để đề phòng các toán cướp từ biên giới
tràn sang.

<b>4) Luận án tiến sĩ của đại úy Paul Marabail</b>

Song song với tác phẩm của đại tá Diguet là một luận văn
tiến sĩ do Paul Marabail – một đại úy bộ binh thuộc địa
(capitaine d'infanterie coloniale) thực hiện. Luận án này sau khi
đệ trình lên Khoa trưởng Khoa Văn tại đại học Paris vào
tháng 5 năm 1907 đã được phép in thành một cuốn sách dày hơn
500 trang vào năm 1908.<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn10">[10]</a>

Trong công trình nghiên cứu này, tác giả mô tả về dòng sông
Quei-Cheum (tức Quây Sơn, Qui Thuận) như sau: "Sông Quei-Cheum
bắt nguồn từ một địa điểm không xa Kouei-Tchouen, tưới
chợ Hang-Hoa và đi vào Bắc Kỳ phía trước lô-cốt Pac-Muong.
Đó là một dòng sông có dòng chảy mạnh và bị cắt ngang bởi
nhiều thác nước; nó nhận một phụ lưu từ phía bên phải –
phụ lưu này sinh ra ở phía nam Quei-Cheum và nhập vào dòng chính
cách đường biên giới của chúng ta vài ki-lô-mét về phía
bắc. Vượt qua khỏi Pac-Muong, sông Quei-Cheum tưới một phần
của khu vực Trùng Khánh Phủ, trở lại đất Trung Hoa để
tưới vùng đất An-Binh và Tai-Ping Chau, rồi chảy theo hướng
gần như từ bắc xuống nam và nhập vào sông Tso-Kiang (Tả
Giang) ở phía thượng lưu của Tai-Ping-Chau (Thái Bình Châu)."
(trang 195-196). Cần lưu ý: Tả Giang là một nhánh của sông Tây
Giang (Si-Kiang), Tây Giang lại là nhánh lớn nhất của Châu Giang
(tức sông Quảng Đông).

<center><img
src="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2014/03/image00613.jpg"
width="560"></center>

<center><em>Hình 6: Bản đồ các khu rừng và núi đá có rừng
(Nguồn: Paul Marabail)</em></center>

Ở một đoạn khác, ông viết: "Đồn Trùng Khánh Phủ được
nối liền với Tra-Linh (Trà Lĩnh), như chúng tôi đã ghi nhận
trong đoạn trước. Từ điểm này, nhiều con đường mòn dẫn
đến nhiều lô-cốt nằm rải rác dọc theo biên giới. Sau cùng,
một con đường khác đi về phía Đông dẫn đến Ban-Gioc (Bản
Giốc); từ Po-Tau, nó đi theo thung lũng Song-Quei-Cheum (sông Quây
Sơn) cho đến tận Bản Giốc, băng ngang qua một trong những
phần đẹp nhất của hạt (Cao Bằng).<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn11">[11]</a>
Từ Bản Giốc đến Ban-Cra, trên một đoạn của dòng chảy,
sông này tạo thành một thác nước tuyệt đẹp cao hơn 35 mét.
Ba ki-lô-mét sau đồn Ban-Cra, con đường sử dụng một thứ
đường hầm do thiên nhiên tạo ra, dài 250 mét, rộng 20 mét và
cao từ 3 đến 4 mét, trong đó người ta chỉ có thể đi qua
dưới ánh sáng lù mù của những ngọn đuốc mà các cư dân
vùng lân cận mang đến." (trang 485-486)

Điều đáng lưu ý là tại trang 167, có một tấm sơ đồ về
rừng và núi đá có rừng (schéma des forêts et rochers boisés) vẽ
với tỷ lệ 1/861.111 (xem hình 6). Phóng to phần có liên quan
đến thác Bản Giốc, chúng ta có thể thấy rõ thác này nằm
ở thượng lưu của đoạn sông làm thành biên giới Việt-Trung
và hoàn toàn nằm trong lãnh thổ Việt Nam:

<center><img
src="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2014/03/image0071.png"
width="560"></center>

<em><center>Hình 7: Ảnh phóng lớn khu vực thác Bản Giốc
(Nguồn: Paul Marabail)</center></em>

<b>II – Những tài liệu về sau (1910-1950)</b>

Kể từ thập niên 1910 cho đến ngày người Pháp hoàn toàn
rời bỏ Đông Dương, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều tài
liệu chứng minh thác Bản Giốc hoàn toàn là "tài sản quốc
gia" của Việt Nam chứ không phải là sở hữu chung của hai
nước Việt Nam và Trung Hoa. Trong bài này, chỉ xin nêu một số
tài liệu để làm dẫn chứng:

<b>1) Niên giám tổng quát của Đông Dương thuộc Pháp (Annuaire
général de l'Indo-Chine francaise):</b>

Trong các cuốn <i>Niên giám của Đông Dương</i> trước năm 1907
(vd: từ 1901 đến 1906), Bản Giốc chỉ được ghi nhận như
một <i>đồn quân sự (poste militaire)</i>. Nhưng từ <i>Niên giám
1907</i> trở đi (vd: từ 1907 đến 1914), phần nói về sông ngòi
tỉnh Cao Bằng đã ghi chi tiết hơn về sông Quây Sơn và thác
Bản Giốc. Lấy ví dụ: <i>Niên giám 1911</i> ghi như sau:

"Hệ thống sông ngòi của vùng này thuộc về lưu vực
Si-Kiang (Tây Giang) hay còn gọi là sông Quảng Đông (rivière de
Canton).<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn12">[12]</a>
Hướng chung của các sông là Tây-Bắc – Đông-Nam, nghĩa là
cùng hướng với các sông khác ở Bắc Kỳ đổ nước vào
vịnh Bắc Kỳ. Hai con sông chính tưới khu quân sự này một
cách không đều nhau: (1) Sông Bằng Giang đến từ Trung Hoa và
đi ngang qua Sóc-giang, Nước-hai (từ nơi này sông có thể lưu
thông được), Cao Bằng và Tà-lùng. Các phụ lưu chính bao gồm:
ở hữu ngạn có sông Tse-Rao (Giẻ Rào hoặc Dẻ Rào) chảy
đến Nước-hai và Song-Hiem (Sông Hiến) chảy đến Cao Bằng; ở
tả ngạn có sông Trà Lĩnh và Song-ba-Vong (Sông Bắc Vọng) đổ
nước vào gần Ta-lung (Tà Lùng). (2) Song-kuei-Chum (Sông Quây
Sơn): đáng chú ý do có nhiều thác nước, mà một trong số đó
là thác Bản Giốc, đạt đến độ cao 30 m, và là một trong
những "kỳ quan" của vùng này; sông này làm thành biên giới
với Trung Hoa trên một đoạn 20 km của dòng chảy. Sau đó, sông
đổ nước vào sông Tai-Ninh ở Trung Hoa." (<i>Annuaire général de
l'Indo-Chine francaise 1911</i>, p. 294)

<b>2) Các sách hướng dẫn du lịch Đông Dương</b>

Sách hướng dẫn du lịch <i>Indochine du Nord </i>của Madrolle,
xuất bản năm 1932, phần lộ trình từ Cao Bằng đến Ban-Cra
ghi:

<center><img
src="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2014/03/image008.png"
width="560"></center>

<center><em>Hình 8: Trích trang 97, sách hướng dẫn của Madrolle
</em></center>
"82 km, <i>Bản Giốc,</i> nằm cạnh các thác nước Tu-tong (2km)
mà mức chênh lệch là 34 mét. Các thác nước hùng vĩ trong mùa
mưa (từ tháng 6 đến tháng 9). Lòng sông tạo thành biên giới
giữa Bắc Kỳ và Trung Hoa cho đến tận đồn Li-ban. Nhà trọ
(bungalow) trong đồn gác cũ."<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn13">[13]</a>

Nếu so sánh cuốn hướng dẫn du lịch này của Madrolle với
một cuốn được xuất bản trước đó (năm 1924), chúng ta có
thể thấy một số thay đổi: nếu vào năm 1924, Bản Giốc còn
là một đồn lính (poste militaire) thì đến năm 1932, đồn này
đã bị hủy bỏ, cơ sở cũ của đồn lính được sử dụng
để làm nhà trọ (bungalow) cho du khách. Một chi tiết khác cũng
được điều chỉnh: mức chênh lệch (dénivellement) về cao độ
được ghi là 25m (1925) về sau được ghi là 34 m (1932).

Cần chú ý chi tiết "lòng sông nơi đây làm thành biên giới
(le lit de la rivière constitue ici la frontière…). Điều này có
nghĩa là lòng sông từ phía hạ lưu của thác làm thành đường
biên giới, chứ không có hề có chuyện biên giới giữa hai
nước bắt đầu từ cồn Pò Thoong hay thác Bản Giốc. Việc
chia cồn Pò Thoong ở thượng lưu của thác để lấy đó làm
căn cứ chia đôi thác Bản Giốc chỉ là sản phẩm của các
nhà ngoại giao thời cộng sản nhằm che giấu chuyện Trung Hoa
cộng sản xâm chiếm thắng cảnh thiên nhiên này.

Trong một cuốn sách hướng dẫn du lịch khác của Taupin
(<i>Guide touristique général de l'Indochine – Guide alphabétique
Taupin, </i>Édition G. Taupin &amp; Cie, Hanoi 1937), chúng ta thấy thác
Bản Giốc được giới thiệu như sau:

<center><img
src="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2014/03/image0092.jpg"
width="436"></center>
<center><em>
Hình 9: Trích trang 18, sách hướng dẫn của Taupin</em></center>

<b>- Bản Giốc</b> <b>(Tỉnh Cao Bằng, Đệ nhị quân khu) –
BẮC KỲ: </b>150 dân. <b>Khoảng cách</b>: Bancra, 11km; Cao Bằng, 78
km; Trùng Khánh Phủ, 26 km. (Đường bộ ô-tô có thể đi
được). Dịch vụ ô-tô hàng ngày đi Cao- Bằng, Trùng Khánh
Phủ – qua ngả Quang-Yen (đúng ra là Quảng Uyên). Không có
khách sạn nhưng đồn cũ ở Bản Giốc có thể cung cấp một
chỗ trọ tuyệt hảo. <b>Xem</b>: Bản-Giốc (hang động và thác
nước), xưa kia là nơi trú ẩn của dân khi bị bọn cướp vây
hãm. <b>Du ngoạn</b>: Các hang động dài 4 km, dòng nước ngầm,
nhũ đá (thạch nhũ, stalactites), măng đá (stalagmites), cách 3 km,
đường mòn dành cho lừa ngựa. Thác "Song-Kouei-San" (sông
Quây Sơn) rộng 65 m, cao 40 mét (cách Bản Giốc 2km). [<i>sđd</i>,
trang 18]

Ngoài ra còn có một số chi tiết về <b>tỉnh Cao Bằng</b>
(thuộc Đệ nhị quân khu) có liên quan đến Bản Giốc:

<b>"Săn bắn:</b> Vùng này có nhiều thú săn, ngoại trừ vùng
phụ cận tiếp giáp (thị xã) Cao Bằng là nơi mà thú rừng bị
săn quá mức; nhưng địa hình hiểm trở thường khiến cho
việc săn bắn trở nên cực nhọc. Vùng thuận lợi nhất là
Trùng Khánh Phủ – Bản Giốc: có rất nhiều gà, chim trĩ, đa
đa. Có những thú dữ như gấu – khá nhiều trên khắp cả
vùng này, beo và một ít cọp ở Pia-Ouac. <b>Cá:</b> Những dòng
sông có nhiều cá, ngoại trừ vùng mỏ là nơi mà các nhà máy
rửa quặng làm ô nhiễm dòng nước. Cá nói chung là tuyệt
hảo. Phương pháp đánh cá bằng chim cốc (pêche au cormoran)
được thực hành trên sông Bằng Giang. Sông Quây Sơn – ở
vùng phụ cận của Bản Giốc, có một loài cá được sưu tầm
đặc biệt và được đánh giá rất cao vì thịt ngon và thơm
– nhờ vào một vài loại cỏ mà theo lời thổ dân, chỉ mọc
ở nơi này." (<i>sđd</i>, trang 49)

<b>3) Tài liệu của Chính quyền Bảo hộ tại Bắc Kỳ
(Protectorat du Tonkin)</b>

Trong <i>Báo cáo về tình hình hành chính, kinh tế và tài chính
của Bắc Kỳ trong giai đoạn 1934-1936, </i>có một đoạn đề
cập đến các biện pháp bảo vệ các di tích, thắng cảnh
thiên nhiên: cấm dán các bích chương hay các bảng quảng cáo,
khai thác hầm mỏ hay mỏ đá và nói chung là tạo ra một sự
sửa đổi nào đó đối với tự nhiên hay tình trạng của các
địa điểm đã được xếp hạng – trong đó có các hồ Ba
Bể, vịnh Hạ Long, các hang động và thác ở Bản Giốc. Các
biện pháp này đã được thiết lập bởi sắc lệnh ký ngày
15-11-1930 của Toàn quyền Đông Dương và được áp dụng vào
lãnh thổ của Bắc Kỳ bởi một nghị định của Thống sứ
Bắc Kỳ (Résident Supérieur du Tonkin) ký ngày 30-5-1932. (<i>Rapport
sur la situation administrative, économique et financière du Tonkin durant
la période 1935-1936</i>, Imprimerie d'Extrême-Orient, Hanoi, 1936, p.
25)

<b>4) Tài liệu tiếng Việt</b>

<i>Hội Giáo dục hỗ tương Bắc Kỳ (Société d'enseignement
mutuel du Tonkin) </i>là một hiệp hội được thành lập trong
thập niên 1920. Hội này còn có tên tiếng Việt là <i>Hội Trí
tri, </i>Chủ tịch là học giả Phạm Quỳnh. Hội có xuất bản
một tập san có tên là <i>Bulletin de la Société d'enseignement
mutuel du Tonkin, </i>phát hành 3 tháng một lần, trong đó đăng
các bài viết bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Việt<i>. </i>

Bắt đầu từ số 3 tập IV (tháng 7-tháng 9 năm 1923) cho đến
số 4 tập V (tháng 10-tháng 12 năm 1924), tập san này đăng một
loạt bài viết nhan đề "Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ" của
ba tác giả Đỗ Đình Nghiêm, Ngô Vi Liễn và Phạm Văn Thư.
Trong phần nói về tỉnh Cao Bằng, có đề cập đến sông Quây
Sơn và thác Bản Giốc.<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn14">[14]</a>
Loạt bài viết nói trên về sau được xuất bản thành một
tập sách, được Hội đồng duyệt sách duyệt y cho phép dùng
trong các trường Pháp-Việt. Đoạn trích sau đây dựa trên
cuốn <i>Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ</i> của ba tác giả nói
trên, bản in lần thứ tư (nhà in Lê Văn Tân, Hà Nội 1930, 144
trang), với lời tựa của Phạm Quỳnh – chủ bút tạp chí Nam
Phong:

"<b>Sông ngòi</b>: Trong tỉnh có hai con sông là: (1) Sông Bằng
Giang ở bên Tàu chảy sang qua Sốc Giang, Nước-Hai và Tà-Lùng.
Chi lưu sông ấy thì về tả ngạn có sông Tse-Lao chảy về
Nước-Hai, và sông Hiến chảy về Cao Bằng, về hữu ngạn thì
có sông Trà Lĩnh và sông Bắc Vong. (2) Sông Quây Sơn, có nhiều
thác lắm mà cái lạ nhất là thác Bản-Giốc, cao 30 thước
tây. Con sông ấy phân địa giới với nước Tàu trong một
khoảng dài đến 20 km rồi chảy vào sông Tai-Ninh bên Tầu."<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn15">[15]</a>
(<i>sđd</i>, trang 122)

Ngoài ra, sách còn liệt kê 8 thắng cảnh (7 hang động và một
thác nước) của tỉnh Cao Bằng, trong đó có hai thắng cảnh
thuộc khu vực thác Bản Giốc: "(I) Hang Bản-Giốc: Ở cách
Trùng Khánh Phủ 23 km. Hang dài 4 thước tây, có nhũ đá đẹp
lắm; (II) Thác Sông Quây Sơn: Thác này bề ngang đo được 65
thước tây, cao 40 thước tây, cách đồn Bản-Giốc 2km."
(<i>sđd</i>, trang 125).

<b>5) Báo chí: </b>Thác Bản Giốc đã được đề cập nhiều
trên báo chí. Chỉ xin nêu vài tài liệu tiêu biểu sưu tầm
được:

<b><i>5.1. Les Annales politiques et littéraires (Biên niên chính trị
và văn học)</i></b>

Từ số 2312 đến số 2315 (năm 1928) có đăng bài du ký nhiều
kỳ "L'Indochine en zigzags" của nhà văn Pierre Billotey. Trong
phần cuối của bài viết đăng trên số 2315 (1er Août 1928) có
đoạn tả cảnh thác Bản Giốc (trang 118) và kèm theo là một
tấm ảnh chụp thác Bản Giốc (trang 119).

<center><img
src="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2014/03/image0107.jpg"
width="560"></center>

<center><img
src="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2014/03/image0112.jpg"
width="560" /></center>

<center>Hình 10: Tạp chí <i>Les Annales politiques et littéraires</i>
số 2315:</center>

trang bìa, đoạn văn tả thác Bản Giốc và tấm ảnh chụp
thác Bản Giốc

<i> 5.2. Tạp chí của hãng hàng không Air France</i>

Chúng ta đều biết Air France là hãng hàng không lớn nhất của
nước Pháp. <i>Tạp chí Air-France Revue </i>số mùa xuân năm 1950
đã được dành để giới thiệu tài nguyên và thắng cảnh
của các nước nằm trong Lãnh thổ hải ngoại (Territoires
d'Outre-Mer) của Liên hiệp Pháp (Union française). Trong bài viết
"L'économie indochinoise" (Kinh tế Đông Dương) của André
Surmer (trang 157-161), có đăng tấm ảnh chụp thác Bản Giốc (xem
hình 11).

<center><img
src="http://www.boxitvn.net/wp-content/uploads/2014/03/image0123.jpg"
width="359"></center>

<center><em>Hình 11: Các thác Bản Giốc ở Cao Bằng – Bắc Kỳ
(Les chutes de Ban-Gioc à Cao-Bang, au Tonkin)
</em></center>
<b>Thay lời kết</b>

Tất cả những tài liệu vừa giới thiệu trên đây được
tìm thấy trong <i>Thư viện Quốc gia Pháp </i>(<i>Bibliothèque
nationale de France, BNF</i>) – thư viện lớn nhất của nước
Pháp. Nhờ <i>Thư viện số hóa Gallica</i><a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftn16">[16]</a>,
ngày nay ở bất cứ nơi nào trên thế giới, chúng ta cũng có
thể tiếp cận được các tài liệu quý giá này. Những tài
liệu này được xuất bản từ cuối thế kỷ 19 (sau khi đã
phân giới cắm mốc dựa theo các công ước Pháp-Thanh) cho đến
năm 1950, chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với toàn
bộ thác Bản Giốc. Chúng ta có thể tin rằng: các chính phủ
Trung Hoa suốt từ thời nhà Thanh cho đến thời Trung Hoa Dân
quốc không hề có chút yêu sách nào đối với thác Bản Giốc.
Vì vậy, mâu thuẫn về chủ quyền đối với thác Bản Giốc
và cồn Pò Thoong thật sự chỉ xảy ra giữa hai đảng cộng
sản Trung Quốc và Việt Nam – khi hai đảng này nắm chính
quyền ở lục địa Trung Hoa và miền Bắc Việt Nam.

Từ đó nảy sinh một số câu hỏi: (1) Tại sao từ chỗ
"thác Bản Giốc hoàn toàn thuộc về Việt Nam" lại dẫn
đến sự tranh chấp khiến cho ngày nay Việt Nam mất phần lớn
cồn Pò Thoong và một nửa thác Bản Giốc? (2) Tại sao phía
Việt Nam "thừa bằng chứng lịch sử" để chứng minh chủ
quyền đối với thác Bản Giốc rốt cục lại "thiếu bằng
chứng pháp lý" trong cuộc đàm phán về biên giới trên bộ,
dẫn đến việc mất một nửa thác Bản Giốc về tay ngoại
bang?

Trong phạm vi của bài viết này, tôi không đi sâu phân tích hai
vấn đề nêu trên, mà chỉ muốn chứng minh một sự thật
khách quan là: <b><i>thác Bản Giốc hoàn toàn nằm trong lãnh thổ
của nước Việt Nam, thuộc quyền sở hữu của nhân dân Việt
Nam.</i> </b>Bất cứ ai làm mất một phần thác Bản Giốc về
tay ngoại bang đều phải chịu trách nhiệm trước lịch sử,
trước các thế hệ người Việt trong tương lai.

Mặt khác, những tài liệu đó cho thấy lời nói của ông Bộ
trưởng Ngoại giao Vương Nghị là hoàn toàn giả dối, không
đáng tin cậy. Bởi lẽ nếu "Trung Quốc không giành một tấc
đất nào không thuộc chủ quyền của Trung Quốc" thì tại sao
một nước lớn như Trung Quốc lại thèm thuồng một cái thác
nhỏ như thác Bản Giốc – thậm chí một nửa thác cũng quyết
giành lấy ? Hay chúng ta phải hiểu lời nói của ông Vương
Nghị theo cách khác: <i>Trung Quốc không thèm giành một tấc
đất nào của nước khác nếu tấc đất ấy không có giá
trị; nhưng đối với những mảnh đất có ý nghĩa lịch sử,
có giá trị về kinh tế hay quân sự thì dù chỉ là một tấc,
Trung Quốc cũng quyết tâm giành cho bằng được.</i>

Áp dụng ý tưởng ấy vào trường hợp của Biển Đông, chúng
ta lại càng thấy rõ hơn: Trung Quốc (tức Trung Hoa cộng sản)
sẵn sàng làm mọi cách để giành được không phải chỉ
"một tấc lãnh hải hay hải đảo", không phải chỉ "quần
đảo Hoàng Sa" hay "bãi đá ngầm Gạc Ma" mà còn đang âm
mưu khống chế toàn bộ Biển Đông. Nếu không giành được
bằng mưu ma chước quỷ thì họ sẵn sàng dùng chính sách pháo
hạm (gunboat diplomacy) – cái chính sách mà suốt thế kỷ 20 họ
đã nhân danh "phong trào giải phóng dân tộc", nhân danh
"thế giới thứ ba" lớn tiếng tố cáo từ "chủ nghĩa
thực dân cũ" cho đến "chủ nghĩa thực dân mới".

Cho hay: lịch sử càng diễn biến thì người ta càng nhìn rõ:
đâu mới thật sự là "chủ nghĩa thực dân giấu mặt"?
Đâu mới thật sự là "sự thống trị của nước lớn đối
với các nước nhỏ"?

<i>Đà Lạt ngày 19-3-2014 </i>

<b>M. T. L.</b>

Tác giả gửi trực tiếp cho <i>BVN</i>.

<hr width="33%"> <a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref1">[1]</a>
Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị nói về vấn
đề lãnh thổ và chủ quyền, <i>china.com</i> 9-3-2014: <a
href="http://vietnamese.china.com/news/china/808/20140309/46568.html">http://vietnamese.china.com/news/china/808/20140309/46568.html</a>

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref2">[2]</a>
Le commandant P. Famin, <i>Au Tonkin et sur la frontière du Kwang-Si</i>,
Ed. Augustin Challamel, Paris, 1895.

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref3">[3]</a>
Pierre Paul Famin (1855-1922) được phong quân hàm thiếu tướng
(général de brigade) vào năm 1902 và trung tướng (général de
division) vào năm 1905.

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref4">[4]</a>
Vào lúc này, <i>Khu quân sự thứ hai</i> bao gồm hai tỉnh Cao
Bằng, Lạng Sơn và một phần của tỉnh Thái Nguyên.

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref5">[5]</a>
Nguyễn Ngọc Giao, "Từ Nam Quan đến Bản Giốc", <i>Diễn
Đàn </i>số 129, tháng 5/2003.

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref6">[6]</a>
Từ Indo-Chine theo nghĩa rộng có nghĩa là bán đảo Trung-Ấn,
dùng để chỉ toàn bộ vùng Đông Nam Á, nằm giữa Ấn Độ và
Trung Hoa. Theo nghĩa hẹp, Indochine dùng để chỉ Đông Dương
thuộc Pháp (Indochine française), bao gồm ba nước Việt Nam, Lào
và Kampuchea.

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref7">[7]</a>
Isabelle Massieu,<i> Comment j'ai parcouru l'Indo-Chine</i>, Librairie
Plon, Paris 1901, pp. 338-339.

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref8">[8]</a>
<i>Revue de géographie, tome XLVIII,</i> Janvier-Juin 1901, pp. 283-299.

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref9">[9]</a>
Colonel E. Diguet, <i>Les montagnards du Tonkin</i>, Ed. Agustin Challamel,
Paris 1908.

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref10">[10]</a>
Paul Marabail, <i>Étude sur le cercle du Cao-Bang</i>, Thèse de doctorat
d'université présentée à la Faculté des Lettres de Paris, Ed. Émile
Larose, Paris 1908.

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref11">[11]</a>
Vào thời đó, vùng thượng du Bắc Kỳ được chia thành các
<i>khu quân sự (territoire militaire)</i>, mỗi khu quân sự bao gồm
một số <i>hạt (cercle)</i>, mỗi hạt lại được chia thành các
<i>khu vực (secteur)</i>. Cao Bằng là một hạt (cercle de Cao-Bang)
nằm trong Khu quân sự thứ hai. Trong tiếng Việt thời đó, khu
quân sự thường được dịch là <i>Đạo quan binh.</i>

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref12">[12]</a>
Thật ra, Si-Kiang (Tây Giang) chỉ là một trong ba nhánh của sông
Châu Giang (tức sông Quảng Đông) – mặc dù là nhánh lớn
nhất.

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref13">[13]</a>
<i>Indochine du Nord, </i>Guide de Madrolle, Librairie Hachett, Paris 1932,
p. 97.

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref14">[14]</a>
<i>Bulletin de la Société d'enseignement mutuel du Tonkin,</i> Tome V, No
4, Octobre-Décembre 1924, pp. 557-560.

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref15">[15]</a>
Trong bản này, nhiều tên sông đã được hiệu đính – so với
bản in trên tạp chí. Riêng tên Tse-Lao, một số tài liệu khác
ghi là Tse-Rao, người Việt gọi là sông Giẻ Rào hay Dẻ Rào.

<a
href="file:///G:/Bauxite%20VN/23-3-2014/Bai%202%20Thac%20Ban%20Gioc%20bang%20chung%20lich%20su%20-MaiThaiLinh.htm#_ftnref16">[16]</a>
<i>Gallica – Bibliothèque numérique</i>: <a
href="http://gallica.bnf.fr/">http://gallica.bnf.fr/</a>


***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20140323/mai-thai-linh-thac-ban-gioc-nhung-bang-chung-lich-su),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét