Đỗ Kim Thêm - Hiến Pháp Cộng Hoà: Lý Thuyết của Immanuel Kant và Thực Tế tại Việt Nam (1)

<h2>Vấn đề</h2>

Hiến pháp là nền tảng pháp lý cho sự chung sống của một
dân tộc và là điều kiện tiên quyết cho sự thịnh vuợng
của đất nước. Hiện nay vấn đề sôi nổi trong công luận
là tìm một mô hình thích hợp và một lộ trình khả thi cho
việc tu chỉnh Hiến pháp Việt Nam. Các góp ý xoay quanh các chủ
đề du nhập nguyên tắc tam quyền phân lập, lập mối ràng
buộc giữa Đảng quyền và luật pháp, trao lại thẩm quyền
lập hiến cho toàn dân, nâng cao kỹ năng lập pháp và lập quy
của quốc hội và tôn trọng thực thi nhân quyền của chính
quyền là chính.

Để đóng góp vào việc thảo luận chung, tiểu luận sau đây
sẽ giới thiệu mô hình hiến pháp theo thể chế cộng hoà,
một luận điểm về luật Hiến pháp mà Immanuel Kant đã cổ vũ
trong luận thuyết „Hướng về một nền hoà bình vĩnh cữu"
để làm cơ sở sở chiếu với hiện trạng Hiến pháp Việt
Nam.

<h2>Lý thuyết của Immanuel Kant</h2>

<h3>Tác giả</h3>

Immanuel Kant (1724-1804) là giáo sư Siêu hình học và Đạo đức
học tại đại học Königsberg thuộc Phổ nay là Kaliningrad
thuộc Nga. Với các tác phẩm kinh điển bậc nhất như Kritik der
reinen Vernunft, Kritik der praktischen Vernunft và Kritik der Urteilskraft
ông là một triết gia hàng đầu trong phong trào khai sáng tại
phương Tây và được hậu thế tôn vinh là ngưòi khai sinh ra
môn Đạo đức học hiện đại.

<h3>Tác phẩm</h3>

Trong chiều hướng đóng góp cho nổ lực hoà đàm giữa Pháp và
Phổ tại Basel, Kant đã giới thiệu một sơ thảo triết học
„Zum ewigen Frieden" (1795) „Hướng về một nền hòa bình vĩnh
cữu" nhằm thảo luận về những nguyên tắc để đem lại
một nền hoà bình cho nhân loại. Điểm quan trọng trong luận
văn này của Kant là đặt lại mối quan hệ giữa luật hiến
pháp và luật quốc tế, cổ vũ tinh thần thượng tôn luật
pháp trong việc giải quyết các tranh chấp quốc nội và hợp
tác quốc tế. Trong lĩnh vực soạn thảo luật hiến pháp ông
cho rằng "Hiến pháp dân sự của mọi quốc gia phải theo thể
chế cộng hòa", đây là một điều kiện tiên quyết mà nội
dung sẽ được trích dịch và dẫn luận sau đây.

<h3>Trích dịch nội dung</h3>

Điều khoản chung quyết thứ nhất: "Hiến pháp dân sự của
mọi quốc gia phải theo thể chế cộng hòa".

Thứ nhất, hiến pháp này được lập ra phải dựa trên nguyên
tắc tự do cho mọi thành viên của xã hội như là một con
người; thứ hai, tất cả mọi người phải bị ràng buộc vào
một pháp chế chung và duy nhất như một chủ thể; và thứ ba,
hiến pháp quy định luật bình đẳng dành cho tất cả mọi
người như công dân. Hiến pháp, cơ sở duy nhất mà nguồn gốc
dựa trên tư tưởng của một hợp đồng nguyên thủy để
thiết lập cho một quyền lập pháp hợp pháp của dân tộc,
phải theo thể chế cộng hoà [1]. Khi đặt vấn đề này liên
hệ đến luật pháp thì hiến pháp cộng hòa tự nó là nguyên
tắc nền tảng hình thức của mọi loại hiến pháp dân sự.
Vấn đề là hiến pháp này có thể là cách duy nhất dẫn đến
một nền hòa bình vĩnh cữu không.

Ngoài nguồn gốc vững chắc, hiến pháp cộng hòa là cơ sở
thuần túy bắt nguồn từ các khái niệm luật pháp và sẽ có
triển vọng đạt được kết quả mong đợi, cụ thế là một
nền hòa bình vĩnh cữu. Lý do đó như sau: - Nếu khuôn khổ
của hiến pháp không quy định khác hơn, thì vấn đề gây
chiến cần có sự đồng thuận của toàn dân. Không có gì
hiển nhiên hơn là vấn đề này phải được cân nhắc cẩn
thận trước khi quyết định đưa đến những kinh hoàng của
chiến cuộc, (có nghĩa là dân phải tự chiến đấu, chịu mới
chiến phí, đóng góp và tái thiết thiệt hại do chiến tranh
để lại, và cuối cùng còn một điều trầm trọng nhất chấp
nhận một gánh nợ sẽ làm hoà bình chua chát hơn, một loại
nợ mà không bao giờ trả hết trong trường hợp một cuộc
chiến mới lại đến và người dân sẽ suy nghĩ là một trò
chơi nguy hiểm khác lại bắt đầu). Ngược lại, nếu trong
hiến pháp mà người dân chỉ là thuộc hạ, nghiã là không theo
thể chế cộng hòa, thì sự tham chiến là một chuyện trầm
trọng nhất trên thế gian, vì lãnh đạo không còn là người
dân mà là chủ nhân ông của đất nước, không bị chút thiệt
hại nào trong chiến tranh trong khi họ tiếp tục tiệc tùng, săn
bắn, hưởng lạc thú nơi cung điện với yến tiệc. Lãnh đạo
có thể quyết định chiến tranh như một loại trò chơi do
những nguyên nhân không đáng kể. Về biện luận đạo đức
cho cuộc chiến họ lại không bận tâm vì có ngoại giao đoàn
luôn sẵn sàng phục vụ.

Để tránh lầm lẫn giữa hai loại hiến pháp cộng hòa và dân
chủ, ta cần phân biệt như sau. Các hình thức của một đất
nước (dân sự) có thể theo hai nguyên tắc: sự khác biệt dựa
trên số người nằm quyền lực cai trị tối cao của nhà
nước hoặc phương cách cai trị của nhà lãnh đạo mà bất
kể họ là ai. Phương thức thứ nhất được gọi chung là hình
thức cai trị và có thể có ba loại khác nhau, chủ quyền tối
thượng thuộc về một người, hoặc do nhiều người hoặc do
toàn thể dân chúng tạo thành xã hội dân sự, từ đó mà lãnh
đạo có quyền thống trị (chế độ phong kiến, qúy tộc hay
dân chủ và quyền lực chuyên chế, phong kiến hay toàn dân).
Nguyên tắc thứ nhì phân loại theo hình thức chính quyền và
dựa theo hiến pháp mà nhà nước sử dụng quyền tối thượng
(từ mọi hành vi của ý chí chung mà qua đó phần đông dân
chúng tạo thành dân tộc). Trong mối quan hệ này thì hình thức
của chính quyền hoặc cộng hòa hay chuyên chế. Thể chế cộng
hòa là một nguyên tắc tổ chức nhà nước tách rời quyền
hành pháp ra khỏi quyền lập pháp. Thể chế chuyên chế là nhà
nước thực hiện quyền lực nhà nước từ những luật pháp do
mình tự tạo ra mà ý chí chung được coi như là ý riêng của
lãnh đạo. Trong ba hình thái nhà nước, thì dân chủ trong ý
nghĩa của danh từ này là một hình thức chuyên chế cần
thiết, bởi vì nó lập ra quyền hành pháp, mà tất cả có
quyết định chung và trong mọi trường hợp là một cơ chế
quyền lực của toàn thể có quyền chống lại bất cứ một
cá nhân nào mà toàn thể phản đối. Dù gọi là toàn thể,
thực ra không phải lúc nào cũng đúng là toàn thể, mà là một
đa số, thực tế này cho thấy có một điều tự mâu thuẫn
với nguyên tắc ý chí chung và mâu thuẩn với nguyên tắc tự
do.

Bất cứ hình thức chính quyền nào mà không phải là đại
nghị, thì cũng không phải là một hình thức thật sự, bởi
vì nhà lập pháp cũng là người cưỡng chế ý chí của mình,
(giống như trong luận lý học, khi nguyên tắc suy luận tổng
quát cùng lúc lại được suy diễn trở thành nguyên tắc riêng
trong phần kết luận). Khi hai hình thức khác của hiến pháp
luôn có khuyết điểm, nhưng ít nhất trong lốị cai trị này
cũng mở ra một cách tự do để tạo ra một chính quyền khác,
phù hợp với tinh thần của một hệ thống đại nghị như
Friedrich II thường nói: "Tôi chỉ là một người phục vụ
tối cao cho đất nước" [2], vì trong hình thức dân chủ làm
cho điều này bất khả, trong chế độ này mọi người đều
làm chủ ý chí của mình. - Ta có thể nói thành phần nhân sự
trong quyền lực nhà nước càng ít (số lượng nhà lãnh đạo)
thì quyền đại biểu càng rộng, nhờ thế mà hiến pháp của
nhà nước càng có nhiều khả năng thiên về chế độ cộng
hòa, điều này cuối cùng cho phép các cải cách tiệm tiến
cũng đạt được. Chính vì lý do này mà chế độ quý tộc khó
khăn hơn quân chủ, và trong chế độ dân chủ càng không thể
đạt tới hiến pháp hợp pháp hoàn chỉnh duy nhất, ngoại trừ
có cách mang bạo động. Tuy nhiên, điều không thể tranh cãi là
loại hình thức chính quyền này [3] có tầm quan trọng đối
với dân chúng hơn các loại hình thức hiến pháp khác, dù mức
độ thích nghi nhiều hay ít của dân chúng cho mục tiêu này
cũng quan trọng. Hình thức chính quyền khi phù hợp với khái
niệm pháp luật, phải thuộc về hệ thống đại nghị, mà
một chính quyền theo chế độ cộng hoà là hình thức khả thi,
nếu không, dù có hiến pháp nào đi nữa thì loại chính quyền
này cũng chỉ là chuyên chế và bạo lực. - Không có một cái
gọi là nền cộng hòa nào trước đây có thể nhận ra điều
này, các chế độ này bị hoà nhập trong chế độ chuyên chế,
phải lệ thuộc hoàn toàn dưới quyền tối thượng của một
cá nhân, đây là một chiụ đựng nặng nề nhất cho toàn dân.
(Trích dịch từ nguyên tác Đức ngữ „Zum Ewigen Frieden, Ein
Philosophischer Entwurf", Königberg, bey Friederich Nicovius, 1795,
được in lại trong „Die Kritiken", 2008, Zweitausendeins, Frankfurt
am Main, 1099-1112)

<h2>Dẫn luận nguyên tác</h2>

<h3>Nguyên tắc hình thành hiến pháp</h3>

Theo Kant có ba nguyên tắc cho hiến pháp cộng hoà hình thành.
Một là tự do cho mọi người dân, hai là tất cả đều bị
ràng buộc trong một hệ thống pháp luật và ba là tất cả
được bình đẳng trước pháp luật. Hiến pháp dựa trên một
kết ước nguyên thủy, một sự đồng thuận giữa người dân
và nhà nước để quy định sự chung sống. Thực ra, lý thuyết
về kết ước xã hội đã được Rousseau đề xuất, nhưng Kant
đào sâu khiá cạnh ràng buộc khi tất cả đồng thuận trong
sự chung sống này. Từ đó mà tình trạng tự nhiên sống tự
do hổn loạn chấm dứt và nền tảng cho sự chung sống an hoà
thành hình. Kant cho rằng hiến pháp là một quyết định thuần
lý của con người nhằm tạo một cấu trúc quy phạm cho xã
hội và đặc biệt nhất là tạo chính danh cho nhà lãnh đạo
trong việc cai trị.

Chính danh cho chính quyền trong việc cai trị tùy thuộc vào
việc áp dụng pháp luật. Luật pháp phải phù hợp với ý chí
chung của toàn dân và mọi quyền lợi luật định của ngưòi
dân phải được bảo vệ. Không ai có quyền chống đối
người khác mà không dựa trên cơ sở pháp luật, một sự
đồng thuận làm ràng buộc tất cả.

Kant dè dặt hơn khi nói về ý nghĩa sự đồng thuận của toàn
dân, vì toàn dân là một khái niệm tương đối: chính quyền
là một tổ chức không hoàn hảo và mức độ tham gia của dân
chúng vào sinh hoạt chính trị là chừng mực. Nhưng dè dặt
nhất là Kant không cổ vũ công bình và đaọ đức khi toàn dân
thể hiện ý chí chung sống trong luật Hiến pháp. Dù thể hiện
ý chí chung sống nhưng người dân cùng lúc có quyền theo đuổi
tư lợi, vì hai phạm vi này không loại trừ nhau. Kant chú trọng
công bình theo luật thủ tục hơn là nội dung. Một đạo luật
được coi là công bình khi tất cả mọi người có liên quan
vấn đề đều có đồng quyền tham gia quyết định và luôn
tôn trọng các thủ tục sau khi được thoả thuận.

Dù dựa trên quan điểm hợp đồng như Rousseau, nhưng Kant đề
cao nguyên tắc tự do và bình đẳng. Tự do là một quyền bẩm
sinh và không thể chuyển nhượng, nhưng biểu hiện quyền tự
do trong thực tại xã hội là một vấn đề khác. Lập luận
của Kant là „Tự do là một quyền không đòi hỏi tôi lệ
thuộc vào bất cứ luật ngoại tại nào, trừ những luật mà
tôi có thể đồng thuận. Tôi bị ràng buộc pháp luật với
người khác vì trước đó tôi đồng thuận tự đặt mình trong
khuôn khổ luật pháp".

Khi giải thích khái niệm luật pháp Kant cho là luật nào cũng
giới hạn tự do cá nhân, nhưng biểu hiện tự do là "làm
tất cả những gì mình muốn và không gây điều phạm pháp cho
người khác", bởi thế vai trò lý trí cá nhân trở nên quan
trọng hơn khi nhận xét vấn đề. Mức độ cảm nhận tự do
và khả năng hành động nhằm biểu hiện tự do trong thẩm
quyền lập pháp của cá nhân trong xã hội được đặt ra. Do
xác nhận được quyền tự do bẩm sinh và thực thi quyền này
mà luật pháp thành hình. Chính sự khai sáng này là cụ thể
hoá quyền tự do trong thực tế. Hành sử tự do mang đến an
toàn cá nhân và xã hội khi tất cả đều tôn trọng luật
pháp.

Để đạt mục tiêu này thì nguyên tắc bình đẳng trước pháp
luật cần được thực thi. Khi mọi người lệ thuộc luật
pháp thì không tự động có nghiã tất cả đều được bình
đẳng, mà là cần loại bỏ mọi sự phân biệt khi áp dụng
luật pháp, không chấp nhận mọi ưu quyền mà không có cơ sở.
Luật thừa kế, phong hàm qúy tộc, tạo thuận lợi hay gây bất
lợi kinh tế cần phải làm rõ, nếu không phải hủy bỏ. Muốn
bảo đảm bình đẳng trước pháp luật thì thẩm quyền lập
pháp không thuộc về dòng dõi mà toàn dân. Kant nhận thấy các
khái niệm về khế ước nguyên thủy, thẩm quyền lập hiến
và lập pháp của toàn dân và nguyên tắc tự do và bình đẳng
trong hiến pháp cộng hoà liên hệ mật thiết nhau. Công nhận
tính ràng buộc pháp luật pháp như một nguyên tắc hiến định
đã có trong hầu hết tất cả các học thuyết cổ điển của
luật hiến pháp, do đó không thể coi là một đặc thù của
Kant. Trong các luận văn khác về sau, Kant không khai thác chủ
điểm này mà đề cao vể tính độc lập của cá nhân trong
quyết định thuần lý.

<h3>Hiến pháp và hoà bình </h3>

Hiến pháp cộng hoà thể hiện quyền dân tộc tự quyết khi
người dân không còn là người thuần phục kẻ bề trên mà
quyết định tối hậu các vấn đề sinh mệnh của đất nước
và chiến tranh và hoà bình là hai điển hình. Kant lập luận ý
chí toàn dân mới quyết định được hoà hay chiến, một
quyết định thuần lý nhằm bảo vệ quyền lợi dân tộc. Cụ
thể hơn người dân phải nghĩ đến thiệt hại sinh mạng và
tài sản do chiến tranh gây ra, nợ công khi lâm chiến và phí
tổn khi tái thiết mà chỉ có dân là chịu lảnh mọi chiến
phí trong khi giới lãnh đạo tiếp tục an huởng đặc quyền do
chế độ ban phát. Kant chỉ bàn đến quyết định gây chiến
nhưng không đề cập đến chiến tranh tự vệ. Dân chúng không
muốn có chiến tranh, nhưng khi thực hiện nguyện vọng đúng
theo thủ tục hiến định thì hoà bình sẽ là điều kiện khả
thi. Hành vi tuyến chiến hay chấp nhận hoà uớc theo Kant không
phải là một loại luật pháp, đúng hơn là một quyết định
cá biệt trong hoàn cảnh cụ thể; nếu quyết định là của
dân chúng thì hợp hiến, nếu chỉ là của chính quyền thì vi
hiến.

Kant bị phê phán là quá đơn giản khi đề cao lý trí của công
luận và thủ tục hiến định. Các triết gia khác không tin lý
trí thuần lý của toàn dân là chính mà cho là tùy thuộc vào
tinh thần hiếu chiến hay hiếu hoà của lãnh đạo hoặc chính
sách ngoại giao khôn ngoan.

<h3>Hình thức cai trị và phân loại chính quyền</h3>

Phân loại hình thức cai trị dựa vào một người, nhiều
người hay toàn dân do Aristote khởi xướng. Từ quan điểm này
mà Kant giải thích quyền lực là có ba hình thức cai trị:
chuyên chế, qúy tộc hay dân chủ. Thuật ngữ Kant dùng không
thống nhất, nên tìm hiểu ngữ cảnh và so với thuật ngữ
thông dụng hiện nay mới hiểu được nội dung. Về phân loại
chính quyền Kant dựa vào tiêu chuẩn tôn trọng luật pháp để
giải thích. Một chính quyền đặt mình trong pháp luật thì Kant
gọi là cộng hoà, ngược lại là chuyên chế. Ba hình thức cai
trị một người, nhiều người hay toàn dân không liên hệ
đến giá trị; ngược lại, thi hành luật pháp là chuẩn mực
cho sự phân loại hiệu năng chính quyền. Hai cách phân biệt
này song hành trong lý thuyết nhưng có thể kết hợp nhau trong
thực tế.

Kant cho là Hiến pháp cộng hoà dựa trên khái niệm hợp đồng
nguyên thủy mà tự do, bình đẳng và ràng buộc là chính. Các
nguyên tắc hiến định này tùy thuộc ý chí của toàn dân.
Thể hiện ý chí này là hành sử quyền tối thượng, vì
người dân có quyền và có lý trí để quyết định để
phụng sự hoà bình. Khái niệm cộng hoà vào thời của Kant
phải được chúng ta ngày nay hiểu là hình thức dân chủ trực
tiếp, thể hiện tự do trong khuôn khổ đại nghị.

Kant hiểu ý nghĩa của đại nghị là mối quan hệ lập pháp và
hành pháp. Kant phê bình là nhà lập pháp không được phép làm
người cưỡng chế luật pháp, hình thức cai trị này không
thể gọi là đại nghị; trong khi chúng ta ngày nay xem là mối
quan hệ giữa cử tri và đại biểu quốc hội. Dù Kant đề
cập gián tiếp đến tam quyền phân lập, nhưng khái niệm cộng
hoà trong đại nghị của Kant không khác với trào lưu tư duy
hiện đại về hệ thống chính trị dân chủ tự do.

Dù giống nhau trong tổng thể nhưng có sự khác biệt chi tiết
giữa lý thuyết kết ước xã hội của Rousseau và khái niệm
cộng hoà của Kant. Rousseau cho là có sự đồng nhất giữa ý
chí chung và quyền tối thượng của toàn dân. Rousseau phân
biệt ý chí chung và ý chí tất cả. Quyền dân tộc tự quyết
không thể chuyển nhượng và người dân là tác giả các quyết
định chính trị cho đất nước. Dân chủ trực tiếp với cách
toàn dân biểu quyết là hình thức tốt đẹp nhất; ngược
lại, thiết lập một một cơ chế dân chủ gián tiếp qua hình
thức đại hội đại biểu là thiếu hiệu năng.

Khác với Rousseau, Kant đề cao vai trò lý trí trong tiến trình
lập pháp. Luật pháp là một quyết định thuần lý, nhưng là
một hình thức thử nghiệm và có thể thay thế cho phù hợp
với nhu cầu thời đại hơn. Quyền lập pháp của người dân
trong tiến trình này là thể hiện một quyết định lý trí,
một phạm vi thuộc khai sáng tư duy và sử dụng độc lập. Tự
do và bình đẳng của người dân chỉ có trong sự đồng thuận
về các khái niệm pháp luật. Còn nhà lập pháp chỉ đóng vai
trò trung gian thể hiện ý chí lập pháp của toàn dân và không
có quyền bảo vệ tư lợi. Kant không bàn đến khía cạnh đạo
đức cho thể chế. Do đó, tầm quan trọng của công lý và
đạo đức không được đặt ra.

Theo Kant vấn đề không nằm ở hình thức, số lượng một
người, một số người hay toàn dân, mà tinh thần trọng pháp
của chính quyền, một chuẩn mực quyết định khả năng cai
trị và tính chính thống của chế độ. Kant đưa ra hai loại
giải thích: hoặc là cộng hoà (mà chúng ta ngày nay hiểu là
tự do và dân chủ) hoặc chuyên chế. Cộng hoà là một hình
thức thích hợp nhất cho hiến pháp vì thể hiện quyền tự do
và bình đẳng của người dân trong tinh thần trọng pháp, còn
chuyên chế chỉ thể hiện ý chí rịêng và quyền lợi riêng
của lãnh đạo, không có cơ sở pháp luật và người dân không
muốn bị ràng buộc. Chuyên chế khác với dân chủ là ở tính
cách quyết định các vấn đề. Kant hiểu dân chủ theo ý nghiã
cổ điển, mà ngày nay goị là dân chủ trực tiếp, khi đại
biểu dân chúng trong một thành phố quyết định một vần đề
chung.

<h3>Tiến trình thành lập </h3>

Kant coi hiến pháp là một sản phẩm của lý trí, một quyết
định do một tiến trình lâu dài của ý thức độc lập, nhưng
cần phân biệt hình thức cai trị với sự thành hình của nhà
nước để áp dụng khái niệm cộng hoà tốt hơn.

Để luận chứng cho sự chung sống của con người trong xã
hội, Hobbes đề ra giả thuyết khế ước nguyên thủy. Kant
chứng minh là nhà nước hình thành qua chiến tranh, sử dụng
bạo lực, hơn là đồng thuận trong một giải pháp an hoà.
Lịch sử cho biết đồng thuận về hình thức cai trị, một cơ
sở pháp lý, luôn đến sau khi nhà nước đã ra đời và tùy
thuộc vào sự hiện hữu của quyền lực trước đó, mà thực
tế thì không có thế lực nào cưõng lại quyền cai trị này.
Người có quyền cưỡng chế pháp luật lại là người không
thể chứng minh được thẩm quyền lập pháp và tinh thần
trọng pháp. Dù bất cứ hình thức cai trị nào theo Kant hành vi
của chính quyền phải nằm trong trong khuôn khổ áp dụng luật
pháp, cụ thể là tính chính thống phải được chứng minh và
luôn bị kiểm soát. Lãnh đạo phải dựa vào lập luận của
lý trí, không thể cầu xin ơn trên hay dựa thành tích trong
lịch sử đem lại mà biện luận, phải giới hạn quyền lực
cai trị trong ý muốn của toàn dân, đây là một biểu hiện
cụ thể nhất tính chính danh. Theo Kant, nguyên tắc này trở
thành mệnh lệnh cho chính quyền tuân thủ.

Kant phân biệt có hai hình thức cai trị đất nước, một dựa
theo chiều hướng lịch sử, bạo lực cách mạng, một dựa theo
thể chế cộng hoà, lấy pháp luật và lý trí làm cơ sở. Sự
kết hợp giữa hai chiều hướng này sẽ đem lại một sự
tiến hoá tự nhiên cho luật Hiến pháp. Kant phân biệt khái
niệm cộng hoà theo hai khiá cạnh: cộng hoà là một triết
thuyết để thảo luận trong nhu cầu cải cách và là một thể
chế được thành hình trong thực tế đất nước mà áp dụng
luật pháp theo quyết định của lý trí là mục tiêu. Kant nhấn
mạnh hình thức cai trị của chính quyền dựa theo hiến pháp
cộng hoà là tốt đẹp nhất vì phù hợp với lòng dân. Chính
quyền chỉ là một chế độ chính trị ngắn hạn đem lại
một giải pháp tạm thời cho các vấn đề xã hội. Nhưng trong
tiền trình cai trị, với thời gian luật pháp đem lại giá tri
cao hơn, ý thức người dân về uy lực pháp luật sẽ thay
đổi, pháp luật không còn giải quyết vấn đề tạm thời mà
sẽ có giá trị lâu dài, nhờ thế taọ nền tảng của một
nền dân chủ ổn định. Từ trên cơ sở này mà một hiến
pháp tự do dân chủ trong một hệ thống đại nghị và ý thức
trọng pháp của một xã hội dân sự thành hinh. Kant ca ngợi
một hiến pháp hoàn chỉnh là một cơ sở để giáo dục công
dân; nhờ tuân thủ các giá trị luật pháp mà đạo đức cá
nhân và xã hội tốt đẹp hơn. Kant mơ ước tất cả sẽ là
một tiền đề cho việc tiến đến nền hoà bình vĩnh cữu.
Kant thực tế hơn khi cho rằng con đường theo đuối là quá xa
xăm, nhưng nổ lực của chúng ta sẽ là những đóng góp làm thu
ngắn khoảng cách.

(còn tiếp)

___________________________

[1] Biểu hiện tự do ngoại tại một cách hợp pháp không có
thể được định nghiã như người ta thường nói là một
loại quyền "làm tất cả những gì mình muốn và không gây
điều phạm pháp". Nhưng thế nào là quyền? Một khả năng
hành động không phạm pháp. Hoặc có những cách giải thích
về quyền như thế này: Tự do là một khả năng hành động mà
không gây phạm pháp; ta làm những gì mà ta muốn, nhưng không
gây phạm pháp. Hậu quả của lối giải thích này là một sự
trùng ý rổng tuếch. - Đúng ra, biểu hiện tự do ngoaị tại
hợp pháp của tôi có thể được giải thích như sau: Tự do là
một quyền không đòi hỏi tôi lệ thuộc vào bất cứ luật
ngoại tại nào, trừ những luật mà tôi có thể đồng thuận.
- Cũng tương tư như vậy, khi bàn về sự bình đẳng người
dân trong một nước. Theo quan điểm này, không ai bị ràng buộc
pháp luật với người khác mà trước đó không cùng đồng
thuận tự đặt mình chung trong khuôn khổ luật pháp, để sau
đó chịu ràng buộc nhau. (Nguyên tắc bị ràng buộc do luật
pháp nằm trong khái niệm luật hiến pháp, nên không cần phải
giải thích thêm ở đây). Giá trị của quyền này, một loại
quyền bẩm sinh, tất yếu và bất khả chuyển nhượng của
nhân loại, được công nhận và thăng hoa bởi mối quan hệ
của con người với Đấng Tối Cao, nếu ta tin có Đấng này.
Cũng theo nguyên tắc này, người dân có thể tự hình dung ra
họ cũng là một người dân trong một thế giới siêu hình. -
Bởi vậy, những liên hệ đến tự do của tôi, ngay cả khi
nhìn theo luật cuả Đấng Tối Cao mà lý trí của tôi có thể
nhận ra được, thì tôi không bị ràng buộc nào, mà chỉ có
thể bị ràng buộc trong mức độ do chính tôi đồng thuận (qua
luật tự do của lý trí cá nhân tôi, tôi tự tạo ra khái niệm
và ý muốn của Đấng này). Khi hướng nhìn những sinh vật
cực kỳ cao cả hơn ngoài Thượng Đế mà tôi muốn nghĩ tới
(thí dụ như một Eon vĩ đại), thì những gì quan hệ đến
nguyên tắc bình đẳng, tôi thấy không có lý do tại sao trong
chức năng của tôi phải làm nghĩa vụ này, (cũng như Eon làm
nhiệm vụ của riêng mình), khi tôi chỉ có nhiệm vụ tuân hành
từ lệnh của người khác. - Nguyên tắc bình đẳng, (khác với
tự do), không phù hợp khi áp dụng trong mối quan hệ với
Thượng Đế. Lý do của sư thật này là như sau: Thượng Đế
là một chủ thể độc tôn mà ở Ngài không có khái niệm về
nghiã vụ.

Luận về quyền bình đẳng của người dân như kẻ tuân phục,
thì câu trả lời tùy thuộc cách giải quyết vấn đề quyền
kế thừa của giới quý tộc. „Bậc thang xã hội do nhà nước
chấp nhận (cho người dân là cao hay thấp) tùy thuộc vào thành
tích đóng góp hay do được quy định trước". - Điều hiển
nhiên là khi một thứ bậc có liên hệ đến việc sinh ra từ
gia thế, thì một điều không đoan chắc là thành quả, thí dụ
như kỹ năng hoặc trung thành trong khi thi hành chức vụ, sẽ đi
kèm theo. Do đó, việc tạo ân huệ cho một người mà không xét
thành tích là đi quá xa (cho họ có quyền lãnh đạo cũng thế),
nếu xét theo khế ước nguyên thủy (nguyên tắc của tất cả
mọi quyền) thì ý muốn chung của toàn dân không có quyết
định như vậy. Bởi vậy, không thể kết luận rằng một
người quý tộc đương nhiên có đưọc những đặc điểm cao
qúy của dòng tộc. - Những gì liên hệ đến việc phong hàm
quý tộc, (cũng như bổ nhiệm một chức vụ cao hơn cho một
người, mà đáng lý ra phải đạt được qua thành tích), thì
điạ vị xã hội này không thể gắn liền vào con người
giống như tài sản, mà là chức vụ. Do đó, sự bình đẳng
không bị tổn thương, vì khi một người từ nhiệm có nghĩa
là từ bỏ điạ vị chính thức của mình và trở lại vị
thế như người dân.

[2] Người ta thường trách cứ sự tấn phong cho những nhà
lãnh đạo, nhưng lại an ủi cho các thuộc hạ là vì nên xem
lãnh đạo như là người được Thiên Chúa sức dầu thánh,
người hầu cho ý muốn của Thiên Chúa, thay mặt cho Chúa tại
trần thế. Cách xoa dịu vụng về này chỉ làm chóng mặt thêm.
Đối với tôi, điều này không quan trọng. - Thay vì tạo cho
giới lãnh đạo kiêu hãnh thì phải làm cho họ khiêm tốn hơn,
khi họ có lý trí để hiểu rằng (điều này phải là điều
kiện được đặt ra) khi đãm nhận chức vụ, đó là một
điều cao cả đối với một người, phải biết cai trị là
điều thiêng liêng, những gì mà Thiên Chúa để lại trên thế
gian, mà cụ thể là nhân quyền. Và trong từng phút giây nhà
lãnh đạo phải biết lo sợ rằng mình càng tới gần trái táo
dưói ánh mắt của Thiên Chúa.

[3] Mallet du Pan tự hào bằng một loại ngôn ngữ ca ngợi tài
năng, nhưng thực ra là rổng tuếch. Cuối cùng, sau nhiều năm
kinh nghiệm, người ta cũng tin được sự thật qua một câu nói
của Đức Giáo Hoàng: „Hãy để cho kẻ đần độn tiếp tục
tranh luận về một chính quyền tốt nhất, người được cai
trị tốt hơn là điều tốt đẹp nhất". Nói như thế có
nghĩa là: "Chính quyền điều hành tốt nhất là một chính
quyền cai trị tốt nhất". Theo lối diễn đạt của Swift thì
người ta phải cắn hạt đậu để tìm ra con giun trong đó. Như
vậy cũng có nghĩa là đây là một loaị chính quyền tốt nhất
theo ý nghĩa của hiến pháp nhà nước, nhưng thật ra đây là
sai lầm cơ bản. Thí dụ về một sự cai trị tốt đẹp không
thể chứng minh được cho một loại chính quyền tốt đẹp. -
Ai cai trị tốt hơn là Titus và Marcus Aurellius, nhưng khi Titus
để lạị sự nghiệp cho Domitian và Marcus Auriellus trao quyền
cho Comondus, thì lại không xãy ra trong một hiến pháp hoàn
chỉnh, vì người kế nhiệm tỏ ra không thích hợp cho các
chức vụ này, một sự kiện đã biết trước đó và quyền
lực của nhà vua cũng có đủ để ngăn ngừa.





***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130407/do-kim-them-hien-phap-cong-hoa-ly-thuyet-cua-immanuel-kant-va-thuc-te-tai-viet-nam),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét