<blockquote>Các tác giả cảm ơn Dương Danh Huy đã thảo luận và
góp ý về vấn đề này và cộng tác trong việc soạn bản đồ
các mốc biên giới.
<strong>Lưu ý:</strong>
(a) Hai chữ tắt AMS và NĐT dùng nhiều trong bài được định
nghĩa ở ngay đoạn đầu.
(b) Chữ "ải" (ải Nam Quan) chỉ một chỗ hẹp giữa hai sườn
núi, còn "cửa" (cửa Nam Quan) chỉ kiến trúc xây nơi đó để
kiểm soát biên giới.
<strong>Diễn Đàn:</strong> Các bản đồ và hình ảnh, nếu quá
lớn, đã được chúng tôi thu nhỏ. Tuy nhiên vì tầm quan trọng
của các thông tin này, bạn đọc có thể xem nguyên bản do các
tác giả gửi tới, lớn hơn, bằng cách bấm nút phải vào hình
ảnh rồi làm theo chỉ dẫn.</blockquote>
Trong một bài trước [1] chúng tôi đã giới thiệu một số
bản đồ biên giới Việt-Trung dựa theo bản đồ của quân
đội Mỹ (Army Map Service, AMS) xuất bản năm 1964 [2], với những
mốc giới mới tính toán theo Nghị định thư về cắm mốc
biên giới 2009 (NĐT) [3]. Bản đồ này dựa theo bản đồ tỷ
lệ 1:25 000 của Sở Địa dư Đông Dương (Service Geographique de
l'Indochine, SGI) thời Pháp thuộc, nên có nhiều khả năng phản
ánh đúng biên giới thời đó theo quan điểm của Pháp về Công
ước Pháp-Thanh. Xin tạm gọi biên giới vẽ trên bản đồ AMS
là "biên giới AMS".
Chúng tôi cũng đã lưu ý độc giả rằng bản đồ AMS có
những sai số có thể lên tới 200 m, nên muốn so sánh đích xác
hai biên giới thì cần phải điều chỉnh lại vị trí các mốc
theo địa hình mô tả trong NĐT nhằm giảm thiểu sai số. Trong
bài này chúng tôi sẽ điều chỉnh vị trí mốc giới ở khu
vực Đồng Đăng - Nam Quan để xem so với biên giới AMS Việt
Nam đã được gì mất gì nơi đó.
<h2>PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH SỰ KHÁC BIỆT BIÊN GIỚI</h2>
Vì khu vực Nam Quan là một vùng nhạy cảm, có ý nghĩa lịch
sử đặc biệt và thu hút sự chú ý của tất cả những
người quan tâm về biên giới cũng như của quần chúng nói
chung, nên mọi phân tích phải đặc biệt cẩn trọng và có
những tiêu chuẩn khách quan.
Chúng tôi dùng Adobe Photoshop, đặt bản đồ AMS lên một lớp
(layer), đặt bộ mốc giới vẽ theo NĐT lên một lớp khác,
rồi di chuyển lớp mốc nhiều khoảng cách khác nhau (nhưng
phần lớn vẫn trong vòng sai số khoảng 200 m [1] của bản đồ
AMS). Tức là khi di chuyển các mốc, vị trí tương đối giữa
chúng không thay đổi. Sau đó, chúng tôi đối chiếu với NĐT
xem những nét địa hình (landmark) như sông suối, đỉnh núi,
đường lộ, đường sắt, v.v. ở các mốc có giống như NĐT
mô tả hay không.
Làm như vậy tức là chúng ta đã giả thiết rằng, ít ra trong
một khu vực vài km, địa hình (vị trí tương đối của sông
suối, đồi núi, đường lộ, đường sắt, v.v.) được thể
hiện một cách chính xác trên bản đồ AMS.
Vị trí đông-tây (kinh độ) của bộ mốc có thể xác định
khá chính xác trên bản đồ vì hai mốc 1116-1117 (cách nhau 85 m)
nằm hai bên Quốc lộ 1 và hai mốc 1121-1122 (cách nhau 72 m) nằm
hai bên một con suối và đường sắt cách nhau khoảng 60 m. Mỗi
lần di chuyển bộ mốc chúng tôi đều điều chỉnh kinh độ
cho phù hợp những điều trên. Vì vậy chúng ta có thể tập
trung vào việc tìm vị trí bắc nam.
Gần Nam Quan có rất nhiều mốc nằm trên những đỉnh núi:
mốc 1095, 1101, 1102, 1110, 1113, 1120, 1124, 1126, 1129 và cũng có vài
đỉnh núi nằm trên đường biên giới mà NĐT có nêu rõ toạ
độ dù không có cắm mốc. Ngoài ra còn những cột mốc nằm
trên sống núi, trên yên ngựa, những đoạn đi qua khe suối v.v.
có thể giúp điều chỉnh vị trí của biên giới. Để độc
giả dễ dàng theo dõi, chúng tôi có trích phần trong NĐT nói
về các cột mốc và cách vẽ biên giới khu vực này trong Phụ
lục.
Tuy nói là xê dịch bộ mốc trên bản đồ, nhưng phải hiểu
là chúng tôi chỉ xê dịch bản đồ chứ không thay đổi toạ
độ các mốc (vì chúng đã được hai nước chính thức thỏa
thuận). Chẳng hạn, xê dịch bộ mốc 100 m về phía nam trên
bản đồ có nghĩa là dịch bản đồ 100 m về phía bắc.
<h2>VỊ TRÍ BIÊN GIỚI MỚI</h2>
Chúng tôi đã thử nhiều cách để làm địa hình quanh các mốc
phù hợp với NĐT.
Cách thứ nhất: chúng tôi giữ nguyên vị trí các mốc như đã
tính toán từ các tọa độ trong Nghị định thư và vẽ trong
bài trước [1]. Cách này giả thiết rằng bản đồ AMS thể
hiện tọa độ các địa hình một cách chính xác, không có sai
số hệ thống (systematic error). Theo cách này, biên giới mới
cách biên giới AMS hơn 200 m về phía nam trên Quốc lộ 1.
Bản đồ 1 cho thấy thấy các mốc 1101, 1102, 1110, 1113, 1120,
1124, 1126, 1129 và điểm 364 m giữa hai mốc 1118 và 1119 không
nằm trên đỉnh núi như theo NĐT. Vì vậy, có thể kết luận
rằng cách này kém chính xác và có thể bác bỏ.
<img
src="http://www.diendan.org/viet-nam/so-sanh-bien-gioi../unaltered-map.jpg"
width="600" />
<center><em>Bản đồ 1: Giữ nguyên vị trí các mốc
mới</em></center>
Cách thứ hai: chúng tôi đặt cột "km 0" nằm trên biên giới
AMS. Tuy cách này di chuyển cột mốc hơn sai số 200 m của bản
đồ, nhưng cần phải kiểm tra vì báo chí và nhân viên nhà
nước CHXHCN Việt Nam đã phát biểu nhiều lần rằng mốc 1118
hoặc km 0 (hai điểm này có vĩ độ gần trùng nhau, chỉ lệch
nhau chừng 15 m theo hướng bắc-nam, tương đương với 0,3 mm
trên bản đồ tỷ lệ 1:50 000) trùng với biên giới cũ [4, 5].
Nếu biên giới AMS thể hiện chính xác biên giới cũ, và nếu
chúng ta không mất gì ở ải Nam Quan trong hiệp ước 1999 như
theo các phát biểu trên, thì cách này sẽ cho ta thấy vị trí
của biên giới mới một cách khá chính xác.
Bản đồ 2 cho thấy trong tất cả các mốc mà NĐT ghi là ở
trên đỉnh núi, không có mốc nào nằm như vậy trong bản đồ
vẽ theo cách này. Ngoài ra, cũng không có suối nào đi qua giữa
hai mốc 1125 và 1126 như trong NĐT. Do đó có thể kết luận
rằng cách này không chính xác và có thể bác bỏ.
<img
src="http://www.diendan.org/viet-nam/so-sanh-bien-gioi../km0-is-old-border.jpg"
width="600" />
<em><center>Bản đồ 2: Đặt cột km 0 nằm trên biên giới
AMS</center></em>
Cách thứ ba: chúng tôi xê dịch biên giới 100m về phía nam (so
với biên giới trên bản đồ AMS) trên Quốc lộ 1. Cách này
dựa theo mô tả sau trong Bị vong lục 1979 [6]: "Cũng tại khu
vực này, phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18
nằm cách cửa Nam Quan 100 mét trên đường quốc lộ để xóa
vết tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột
ki-lô-mét 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100 mét,
coi đó là vị trí đường quốc giới giữa hai nước ở khu
vực này".
Bản đồ 3 cho thấy trong các mốc mà NĐT ghi là nằm trên
đỉnh núi, chỉ có mốc 1120 và 1124 thỏa mãn điều kiện này.
Do đó cách này kém chính xác và có thể bác bỏ.
<img
src="http://www.diendan.org/viet-nam/so-sanh-bien-gioi../bi-vong-luc.jpg"
width="600" />
<em><center>Bản đồ 3: Dịch biên giới 100m về phía nam trên
Quốc lộ 1</center></em>
Cách thứ tư: chúng tôi xê dịch bộ mốc từng chục mét, cho
tới khi có sự trùng hợp thỏa đáng nhất giữa địa hình
quanh các mốc với các mô tả trong NĐT. Khi dịch chuyển các
mốc tới vị trí 75 m về phía Nam chúng tôi đạt được sự
trùng hợp tối đa(Bản đồ 4). Điều này có nghĩa là trên
bản đồ AMS các chi tiết địa hình và biên giới đã được
thể hiện lệch về phía Nam 75 m so với vị trí thực của
chúng. Khoảng cách này vẫn nằm trong vòng sai số của bản
đồ [1].
<img src="http://www.diendan.org/viet-nam/so-sanh-bien-gioi../landmarks.jpg"
width="600" />
<em><center>Bản đồ 4: Dùng địa hình để điều chỉnh vị trí
các mốc</center></em>
Ở vị trí này, các mốc 1095, 1102, 1110, 1113, 1124, đỉnh 436 m
(giữa mốc 1110 và 1111) và đỉnh 364 m (giữa mốc 1118 và 1119,
đề chữ 371 trên bản đồ AMS) đều nằm trên các đỉnh núi
(sai số dưới 30 m) đúng như mô tả trong NĐT. Riêng mốc 1120,
theo NĐT, cũng nằm trên một đỉnh núi nhưng bản đồ AMS không
thể hiện có núi ở vị trí này. Tuy nhiên, kiểm tra lại bản
đồ nhỏ tỷ lệ 1:10 000 trong bản đồ 29 đăng trên Công báo
số 642-649 của chính phủ Việt Nam thì quả có một núi nhỏ
ở đó, mà bản đồ AMS không vẽ tuy địa hình chung quanh thì
tương tự (xin xem đoạn sau). Những mỏm núi nhỏ có thể không
xuất hiện trên bản đồ AMS nếu bề cao của chúng ít hơn
cách biệt độ cao (20 m) giữa các đường đẳng cao (contours).
Mốc 1101 nằm hơi chếch một đỉnh (cách chừng 40 m). Chỉ có
hai mốc 1126, 1129 không nằm trên đỉnh núi như trong NĐT. Có
thể là những khu này ở xa nên đo đạc không còn chính xác,
nhưng cũng có thể vì lý do tương tự như trường hợp mốc
1120.
Mốc 1115 đi tới mốc 1116 theo sống núi từ tây sang đông. Mốc
1125 và 1126 nằm hai bên suối. Những nét địa hình này đều
đúng như trong NĐT. Độc giả có thể tự kiểm tra những nét
khác.
Ngoài ra địa hình chung quanh biên giới mới ở khu vực Hữu
Nghị Quan (mốc 1116-1122) còn có thể so sánh trên bản đồ
nhỏ, tỷ lệ 1:10 000 ở góc trên bên phải của bản đồ 29
trong Công báo [7] (Bản đồ 5). Địa hình trên hai bản đồ
(của chúng tôi và từ Công báo) rất giống nhau, vị trí của
các đỉnh, suối, đường sắt v.v. đều tương tự.
<center><img
src="http://www.diendan.org/viet-nam/so-sanh-bien-gioi../small-map-compared-1116-1122.jpg"
width="450" /></center>
<em><center>Bản đồ 5. So sánh chi tiết địa hình khu vực mốc
1116-1122</center></em>
Tương tự, bản đồ nhỏ ở khu vực mốc 1103/1-1108 cho thấy
địa hình bản đồ biên giới mới của chúng tôi rất xít xao
với địa hình trong bản đồ tỷ lệ 1:5000 của Công báo (Bản
đồ 6), biên giới mới bọc sát quanh một đầm lầy và qua vài
đỉnh nhỏ.
<center><img
src="http://www.diendan.org/viet-nam/so-sanh-bien-gioi../small-map-compared-1103-1108.jpg"
width="500" /></center>
<em><center>Bản đồ 6. So sánh chi tiết địa hình khu vực mốc
1103/1-1108.</center></em>
Chúng tôi kết luận rằng bản đồ 4 thể hiện chính xác (trong
vòng khoảng 30 m) vị trí của các mốc giới mới trên bản
đồ AMS. Đặc biệt, đỉnh núi ghi "371" trên bản đồ 5 có
một mốc địa trắc (hình tam giác) là một điểm để các nhà
địa trắc dùng để tính tọa độ chuẩn cho vùng đó, nên vị
trí biết rất chính xác. Bản đồ 7 giống Bản đồ 4 nhưng
vẽ thêm đường biên giới mới giữa các mốc, biên giới này
lấy từ bản đồ của NĐT và được chồng lên các mốc, cho
thấy là vị trí tương đối của các mốc mà chúng tôi vẽ
bằng phần mềm là chính xác. Hai bản đồ này sẽ được dùng
trong phần còn lại của bài.
<img
src="http://www.diendan.org/viet-nam/so-sanh-bien-gioi../final-with-2-borders.jpg"
width="600" />
<em><center>Bản đồ 7. So sánh biên giới mới với biên giới
trên bản đồ AMS</center></em>
<h2><center>VỊ TRÍ ẢI NAM QUAN TRONG BẢN ĐỒ AMS CÓ CHÍNH XÁC
KHÔNG?</center></h2>
Người đọc có thể tự hỏi là bản đồ AMS có thể hiện
chính xác vị trí ải Nam Quan không, vì nếu không thì khó kết
luận là Việt Nam đã nhượng bộ bao nhiêu, ít ra là dọc theo
đường Quốc lộ 1. Để chứng tỏ là AMS thể hiện vị trí
ải Nam Quan một cách chính xác, chúng tôi xin đưa hình 1 dưới
đây, cho thấy cửa Nam Quan từ một tấm ảnh thời Pháp, chụp
từ phía Việt Nam (vì thấy cổng nhỏ phía Việt Nam trước
cổng lớn phía Trung Hoa). Điều đáng chú ý là trước khi tới
ải, có một khu đất trũng ở phía đông (d) giữa hai ngọn
đồi (f, g) khiến đường lộ phải vòng sang trái (phía tây) ở
điểm c.
<center><img
src="http://www.diendan.org/viet-nam/so-sanh-bien-gioi../dia-hinh-ai.jpg"
/></center>
<em><center>Hình 1. Địa hình ải Nam Quan cũ so với bản đồ
AMS</center></em>
So sánh tấm ảnh đó với bản đồ AMS trên hình 1, ta thấy các
nét địa hình này được diễn tả đầy đủ. Nếu đứng ở
điểm X gần cạnh dưới bản đồ thì sẽ thấy được cảnh
trong ảnh. Điểm a là mốc 18, b là cửa Nam Quan, d là khu đất
trũng (vạch đỏ trên bản đồ). Cột km 0 bây giờ ở khoảng
trong khóm chuối (e), góc dưới bên trái. Địa hình phía nam
biên giới mới (km 0) không có những nét nói trên. Chúng ta có
thể kết luận rằng vị trí ải Nam Quan cũ trên bản đồ AMS
là chính xác so với địa hình.
<h2>Ý NGHĨA VỀ LÃNH THỔ VÀ QUÂN SỰ CỦA SỰ KHÁC BIỆT GIỮA
BIÊN GIỚI MỚI VÀ BIÊN GIỚI AMS</h2>
Bản đồ 4 và 7 cho thấy là, so với biên giới AMS, biên giới
mới đã lấn về phía nam một cách đáng kể trong khu vực này.
Trên Quốc lộ 1, so với bản đồ AMS, biên giới đã lùi
khoảng 290 m về phía Nam. Trên đường sắt Bằng Tường-Đồng
Đăng, biên giới đã lùi khoảng 360 m về phía Nam. Giữa hai
mốc 16 và 17 cũ (khoảng mốc 1103 và 1114 mới), Việt Nam đã
mất khoảng 3/4 km2 (theo ước lượng của chúng tôi). Phía đông
bắc của mốc 1129 Việt Nam cũng mất một vùng đất đáng kể
so với biên giới AMS.
Về mặt địa hình, biên giới AMS ở Nam Quan đi dọc theo một
sống núi theo hướng tây đông, qua một thung lũng (cửa ải
nằm đâu đó trong thung lũng này) và tiếp tục đi lên một
ngọn đồi. Địa hình biên giới mới cũng tương tự, chỉ
khác là biên giới mới đi theo một sống núi khác nằm về
phía Nam khoảng 300 m, và biên giới mới còn lùi thêm về phía
nam vài chục mét nữa dọc đường sắt.
Hình 2 so sánh biên giới mới và biên giới AMS trên một tấm
không ảnh của Google Earth. Ảnh chụp nghiêng nên cho ta hình
ảnh về địa hình. Hai đường biên giới vẽ sơ lược theo 3
chiều nên lên xuống cùng địa hình. Đường vàng mỏng là
biên giới do Google Earth vẽ (chúng tôi có nhiều bằng chứng
rằng họ cũng vẽ biên giới theo bản đồ AMS nên nó cũng bị
dịch khoảng 75 m về phía nam). So sánh không ảnh với bản đồ
AMS ở dưới, ta dễ dàng nhìn ra những nét địa hình. Mỗi
điểm quan trọng trên hai biên giới đều đánh số hay chữ
để dễ so sánh.
<img
src="http://www.diendan.org/viet-nam/so-sanh-bien-gioi../google-earth.jpg"
width="600" />
<em>Hình 2. Không ảnh Google Earth (trên) so sánh với bản đồ
AMS.
Trên không ảnh, đường đỏ là biên giới mới, đường tím
là biên giới AMS.</em>
Cả trên bản đồ lẫn không ảnh, phía đông ải Nam quan cũ là
hai ngọn đồi sát nhau (đồi kép), biên giới AMS chạy từ ải
(f) lên đỉnh phía nam (g). Phía đông biên giới mới (điểm 3,
có mũi tên của Google Earth chỉ vào tọa độ của km 0) là một
ngọn đồi đơn độc (điểm 5). Không thể lẫn lộn được hai
ngọn đồi đó. Không ảnh từ trên chụp thẳng xuống cho thấy
rõ điều này (Hình 3).
<img
src="http://www.diendan.org/viet-nam/so-sanh-bien-gioi../google-earth-b.jpg"
width="600" />
<em><center>Hình 3. Không ảnh Google Earth cho thấy rõ đồi kép ở
biên giới AMS (đường tím) và đồi đơn ở biên giới mới
(đường đỏ)</center></em>
Như đã thấy, biên giới ở Nam Quan đã lùi về phía nam khoảng
300 m. Ở đây 300 m này rất quan trọng. Về mặt địa hình, Nam
Quan là một "ải kép", vì thung lũng chứa quốc lộ thắt lại
ở hai điểm cách nhau 300 m: điểm bắc là ải Nam quan cũ,
điểm nam là km 0 bây giờ (xem không ảnh hình 2 và 3). Phía bắc
và nam "ải kép" này là những thung lũng tương đối rộng. Hai
bên mỗi ải là những đồi hay sống núi có thể dùng để quan
sát hoặc khống chế bên kia.
Với biên giới AMS, Việt-Trung chia nhau các cao điểm hai bên ải
Bắc (sống núi c-d-e-f và đỉnh g trên hình 2), còn Việt Nam
chiếm các cao điểm hai bên ải Nam (sống núi 2-3 và đỉnh 5).
Điều này cho ta một lợi thế rất lớn khi có xung đột, giúp
ta kiểm soát sự ra vào ở cửa ải. Với biên giới mới, tình
thế đã đảo ngược, bên TQ kiểm soát các cao điểm sau ải
(mới) và chia các cao điểm hai bên ải (mới) với VN.
Dọc phía tây quốc lộ có những khác biệt cũng rất quan
trọng về mặt quân sự. Biên giới AMS chạy từ đỉnh núi (c)
ở phía tây ải cũ rồi quay về hướng nam và chạy dọc một
sống núi rất cao (b-a và tiếp tục về hướng tây), sống núi
này khống chế thung lũng của QL 1 suốt dọc gần 1 km. Biên
giới mới ở về phía đông biên giới AMS, chạy dọc lưng
chừng sườn núi (từ 2 đến 1 và tiếp tục về hướng tây
nam), phần dưới về Việt Nam, phần trên thuộc Trung Quốc. Như
vậy, với biên giới mới Trung Quốc kiểm soát tất cả các
đỉnh núi và sống núi dọc ải và đường quốc lộ ra biên
giới: một lợi thế rõ rệt về mặt quân sự và là điều mà
họ không có được với biên giới AMS.
Hình 4 là không ảnh Google Earth vùng từ Đồng Đăng tới Nam
Quan, nhìn nghiêng 35<sup>0</sup> và trục cao độ tăng gấp đôi
cho rõ địa hình. Vị trí cửa Hữu Nghị Quan, km 0 và các mốc
biên giới do Google Earth đặt lên theo tọa độ trong NĐT. Ta
thấy từ mốc 1114 về phía bắc, bản đồ AMS vẽ hai bên chia
nhau sống núi thì bây giờ Trung Quốc chiếm các cao điểm. Từ
mốc 1114 về phía Nam, bản đồ AMS vẽ rặng núi hoàn toàn bên
Việt Nam thì bây giờ hai bên chia nhau sống núi. Có những công
sự lớn của TQ ở vùng lấn qua Việt Nam, bọc trong các mốc
1103/1 tới 1114. Có thể nói là cửa ngõ Việt Nam suốt từ Nam
Quan tới Đồng Đăng theo biên giới mới bị áp chế hay đe
dọa.
<img
src="http://www.diendan.org/viet-nam/so-sanh-bien-gioi../google-earth-c.jpg"
width="600" />
<em>Hình 4. Không ảnh Google Earth vùng biên giới từ Đồng Đăng
tới
Nam Quan, với vị trí các mốc mới. Đường vạch đỏ là biên
giới AMS.</em>
Phía đông bắc ải Nam Quan, từ mốc 1123 tới mốc 1128 (bản
đồ 7), tình trạng cũng tương tự. Suốt dọc đoạn này biên
giới mới đã lấn về phía Việt Nam khoảng 100-300 m, biên
giới AMS nằm trên sống một rặng núi cao, biên giới mới nằm
lưng chừng sườn núi phía VN, tức là Việt Nam đã mất tất
cả các cao điểm.
Nếu biên giới AMS phản ánh đúng biên giới lịch sử thì
việc để mất các vị trí quan yếu về mặt quốc phòng như
thế này vào tay Trung Quốc, một nước láng giềng lớn từng
nhiều lần xâm lấn ta bằng võ lực, là một điều khó thể
biện minh được.
<h2>VỀ VỊ TRÍ CÁC CỘT MỐC 18 VÀ 19 CŨ</h2>
Trên bản đồ AMS, vị trí của mốc 18 cũ (nằm trên một sống
núi phía Tây ải Nam Quan) có thể không chính xác vì theo biên
bản của toán cắm mốc Pháp Thanh, mốc này được đặt ở
trên (bên) đường đi Đồng Đăng, phía trước (tức là phía
Nam) cửa Nam Quan 100 m (à 100 m en avant de la porte de Nam-Quan sur le
chemin de Dong-Dang) [8].
Còn mốc 19 thì nằm trên đỉnh ngọn đồi ngay phía Đông cửa
ải, trong khi đó, theo báo chí nhà nước và nhân viên bộ
Ngoại giao CHXHCN Việt Nam phụ trách vấn đề biên giới thì
mốc 19 nằm ở vị trí của mốc 1118 mới như đã nói trong
phần trên. Hai vị trí này cách nhau khoảng 250 m và nằm trên
hai ngọn đồi khác nhau. Theo biên bản cắm mốc đã nói, thì
mốc 19 phải nằm ở trên một đỉnh đồi ("sur le sommet placé
face du fort chinois de Kouei-Tao"). Ngoài ra, mốc 19 trong bản đồ
AMS thì ở một đỉnh đồi có cao độ 364 m, nhưng mốc 1118, mà
theo báo chí và nhân viên nhà nước Việt Nam thì trùng với
mốc 19 cũ, lại ở trên sườn đồi, với cao độ 320,6 m. Khó
mà tin đội cắm mốc Pháp Thanh đã phạm một nhầm lẫn về
cao độ tương đương với một tòa nhà 15 tầng! Ngọn đồi mà
bộ Ngoại giao VN cho là mang mốc 19 (1118 mới) là một điểm
trắc địa, tức là trên đỉnh có đặt một mốc dấu nào đó
dùng để định chuẩn tọa độ, nên các nhà làm bản đồ
chắc chắn biết chính xác vị trí của nó và khó có thể
nhầm lẫn với một ngọn đồi khác cách đó 300 m. Hơn
nữa,bản đồ AMS thể hiện ngọn đồi đó hoàn toàn nằm trong
lãnh thổ Việt Nam (vị trí của mốc trắc địa cũng nói lên
điều này). Khó có khả năng xảy ra việc những người làm
bản đồ lại nhầm lẫn một ngọn đồi có chứa cột mốc
biên giới với một ngọn đồi tách rời nằm hoàn toàn trong
lãnh thổ của một bên.
Như vậy, có khả năng cao là mốc 19 trên bản đồ AMS đã
được thể hiện chính xác và điều này có nghĩa là sau này
mốc đó đã bị dời khoảng hơn 250 m về phía Nam, sang một
ngọn đồi khác. Chúng ta nên nhớ là ngọn đồi này đã bị
Trung Quốc chiếm một thời gian dài, và ngay cả lúc đàm phán
vẫn bị họ chiếm đóng, nên khả năng là họ đã di chuyển
cột mốc không phải là nhỏ. Nhà nước Việt Nam cần phải
giải thích vì lý do gì họ đã không khẳng định vị trí của
mốc 19 như trên bản đồ AMS, một vị trí phù hợp hơn với
biên bản cắm mốc, mà lại khẳng định một vị trí vừa
không phù hợp với biên bản (vì không nằm trên đỉnh núi)
vừa rất thiệt thòi cho Việt Nam.
<h2>KẾT LUẬN</h2>
1. Bản đồ 4 và 7, mà chúng tôi đã điều chỉnh theo địa
hình và kiểm chứng bằng nhiều cách, có thể coi là trình bày
chính xác (trong vòng chừng 30 m) vị trí của biên giới 1999
trên bản đồ AMS mà quân đội Mỹ vẽ năm 1964, dựa theo bản
đồ của Pháp.
2. Trên Quốc lộ 1, biên giới đã lùi khoảng 290 m về phía Nam.
3. Trên đường sắt Bằng Tường-Đồng Đăng, biên giới đã
lùi khoảng 360 m về phía Nam so với biên giới trên bản đồ
AMS. Nhiều khu vực lân cận bị mất trên dưới 1 km vuông.
4. So với bản đồ AMS thì Việt Nam đã mất hầu hết những
cao điểm (đỉnh và sống núi) chung quanh ải Nam quan và dọc
Quốc lộ 1 cho tới Đồng Đăng, và chỉ còn giữ những sườn
núi thấp.
4. Có khả năng là cột mốc 19 cũ đã bị dời hơn 250 m về
phía nam, qua một ngọn đồi khác, khiến biên giới quanh đó
cũng di chuyển theo.
<strong>Phạm Quang Tuấn và Phan Văn Song</strong>
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Dương Danh Huy, Phạm Quang Tuấn, Phan Văn Song (2013) So sánh
vị trí cột mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc với bản
đồ của quân đội Mỹ.
http://boxitvn.blogspot.com.au/2013/10/so-sanh-vi-tri-cot-moc-bien-gioi-viet.html,
https://danluan.org/tin-tuc/20131007/so-sanh-vi-tri-cot-moc-bien-gioi-viet-nam-trung-quoc-voi-ban-do-cua-quan-doi-my
[2] http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/
[3] Nghị định thư phân giới cắm mốc biên giới trên đất
liền Việt Nam - Trung Quốc giữa Việt Nam - Trung Hoa. Công báo,
Chính phủ CHXHCN Việt Nam, 634+635 tới số 640+641.
http://congbao.chinhphu.vn/noi-dung-van-ban-so-36_2010_SL-LPQT-(5924)?cbid=6117
[4] Báo QĐND viết: "Đường biên giới đi qua Km0 rồi đến mốc
19 cũ và đến điểm cách điểm nối ray 148 mét về phía Bắc.
Hiện nay ta đã cắm mốc 1116 và 1117 đối xứng với nhau qua
quốc lộ 1A của Việt Nam, và mốc 1118 trùng vị trí mốc 19
(cũ). Như vậy, đường biên giới lịch sử tại khu vực này
không những đã được tôn trọng mà còn được cụ thể hóa
bằng một hệ thống cột mốc mới hiện đại".
http://www.qdnd.vn/qdndsite/en-us/75/48397/print/Default.aspx
[5] Ông Vũ Dũng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao trả lời phỏng
vấn: "Hiệp ước 1999 đã xác định đường biên giới đi qua
Km 0, qua mốc 19 cũ do Pháp và nhà Thanh cắm và qua điểm nằm
cách điểm nối ray 148 m về phía bắc"
http://phapluattp.vn/237883p0c1013/cam-moc-bien-gioi-tai-cua-khau-huu-nghi.htm
[6] Bị vong lục của Bộ ngoại giao nước CHXHCNVN về việc nhà
cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lấn lãnh thổ Việt
Nam ở vùng biên giới, 15/3/1979.
[7] Bản đồ biên giới đất trên liền giữa nước CHXHCN Việt
nam và nước CHND Trung Hoa. Công báo, Chính phủ CHXHCN Việt Nam,
142+149.
http://congbao.chinhphu.vn/noi-dung-van-ban-so-36_2010_SL-LPQT-%285924%29?cbid=8248
[8] Trương Nhân Tuấn (2009) Biên Giới Việt Nam: vùng tiếp giáp
tỉnh Quảng Tây.
http://thongluan.co/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=4102.
________________________________________________________
<blockquote>PHỤ LỤC:
<h2><center>Trích Nghị Định Thư mô tả biên giới
trong khu vực Đồng Đăng-Nam Quan</center></h2>
Mốc giới số 1095 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 536,71m, tọa độ
địa lý 210 59' 31,093" vĩ độ Bắc, 1060 41' 01,621" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1095, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Nam, đến mốc giới số 1096. Chiều dài đoạn biên
giới này là 0,223km.
Mốc giới số 1096 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt tại thung lũng, có độ cao là 500,47m, tọa độ
địa lý 210 59' 23,876" vĩ độ Bắc, 1060 41' 00,800" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1096, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Nam, đến mốc giới số 1097. Chiều dài đoạn biên
giới này là 0,253km.
Mốc giới số 1097 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 519,99m, tọa độ
địa lý 210 59' 15,759" vĩ độ Bắc, 1060 40' 59,436" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1097, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Nam, đến mốc giới số 1097/1. Chiều dài đoạn biên
giới này là 0,094km.
Mốc giới số 1097/1 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng
đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 525,25m, tọa
độ địa lý 210 59' 12,691" vĩ độ Bắc, 1060 40' 59,339"
kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1097/1, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Nam, cắt qua khe, đến mốc giới số 1097/2. Chiều dài
đoạn biên giới này là 0,165km.
Mốc giới số 1097/2 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng
đá hoa cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 524,59m, tọa
độ địa lý 210 59' 07,331" vĩ độ Bắc, 1060 40' 59,769"
kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1097/2, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Nam - Đông Nam, đến mốc giới số 1098. Chiều dài
đoạn biên giới này là 0,228km.
Mốc giới số 1098 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên dốc núi, cạnh đường mòn, có độ cao là
472,07m, tọa độ địa lý 210 59' 00,617" vĩ độ Bắc, 1060
41' 03,096" kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1098, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Nam - Đông Nam 207m, đến điểm có độ cao 508m (tọa
độ địa lý 210 58' 54,50" vĩ độ Bắc, 1060 41' 06,13" kinh
độ Đông), sau đó theo đường sống núi, hướng chung Nam -
Đông Nam, đến mốc giới số 1099. Chiều dài đoạn biên giới
này là 0,559km.
Mốc giới số 1099 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên yên ngựa, cạnh đường mòn, có độ cao là
352,12m, tọa độ địa lý 210 58' 45,641" vĩ độ Bắc, 1060
41' 12,568" kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1099, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung Đông Nam, đến mốc giới số 1100. Chiều dài
đoạn biên giới này là 0,655km.
Mốc giới số 1100 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên yên ngựa, cạnh đường mòn, có độ cao là
427,07m, tọa độ địa lý 210 58' 32,279" vĩ độ Bắc, 1060
41' 28,777" kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1100, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung Đông Nam, đến mốc giới số 1101. Chiều dài
đoạn biên giới này là 0,620km.
Mốc giới số 1101 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 483,41m, tọa độ
địa lý 210 58' 23,132" vĩ độ Bắc, 1060 41' 41,110" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1101, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Nam, đến mốc giới số 1102. Chiều dài đoạn biên
giới này là 0,144km.
Mốc giới số 1102 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 483,23m, tọa độ
địa lý 210 58' 18,479" vĩ độ Bắc, 1060 41' 41,781" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1102, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Tây Nam, đến mốc giới số 1102/1. Chiều dài đoạn
biên giới này là 0,132km.
Mốc giới số 1102/1 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng
đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 406,05m, tọa
độ địa lý 210 58' 16,031" vĩ độ Bắc, 1060 41' 38,003"
kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1102/1, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Nam - Đông Nam, đến mốc giới số 1102/2. Chiều dài
đoạn biên giới này là 0,086km.
Mốc giới số 1102/2 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng
đá hoa cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 399,14m, tọa
độ địa lý 210 58' 13,408" vĩ độ Bắc, 1060 41' 39,026"
kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1102/2, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Nam, cắt qua một đường mòn, đến điểm có độ cao
470m (đo trên bản đồ), sau đó theo đường sống núi, hướng
chung Tây Nam, đến mốc giới số 1103. Chiều dài đoạn biên
giới này là 0,576km.
Mốc giới số 1103 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên yên ngựa, có độ cao là 333,73m, tọa độ
địa lý 210 58' 00,423" vĩ độ Bắc, 1060 41' 29,282" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1103, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung là hướng Nam, đến mốc giới số 1103/1.
Chiều dài đoạn biên giới này là 0,374km.
Mốc giới số 1103/1 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng
đá hoa cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 371,35m, tọa
độ địa lý 210 57' 50,349 vĩ độ Bắc, 1060 41' 30,442" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1103/1, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung Đông - Đông Bắc 21m, đến điểm có độ cao
382m trên đỉnh núi (tọa độ địa lý 210 57' 50,60" vĩ độ
Bắc, 1060 41' 31,10" kinh độ Đông), sau đó theo đường
thẳng hướng Đông 43m, đến mốc giới số 1103/2. Chiều dài
đoạn biên giới này là 0,064km.
Mốc giới số 1103/2 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng
đá hoa cương, đặt trên dốc núi, cạnh đường mòn, có độ
cao là 347,15m, tọa độ địa lý 210 57' 50,396" vĩ độ Bắc,
1060 41' 32,564" kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1103/2, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung Đông Bắc, đến điểm có độ cao 361m (tọa
độ địa lý 210 57' 52,73" vĩ độ Bắc, 1060 41' 35,56" kinh
độ Đông), sau đó theo đường thẳng, hướng Đông - Đông Nam,
đến mốc giới số 1104. Chiều dài đoạn biên giới này là
0,142km.
Mốc giới số 1104 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt ở phía Tây đường cái từ Cốc Nam (Việt Nam)
đến Long Huai (Trung Quốc), có độ cao là 311,30m, tọa độ
địa lý 210 57' 52,450" vĩ độ Bắc, 1060 41' 36,536" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1104, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông, cắt qua đường cái từ Cốc Nam (Việt Nam) đến
Long Huai (Trung Quốc), đến mốc giới số 1105. Chiều dài đoạn
biên giới này là 0,018km.
Mốc giới số 1105 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt ở phía Đông đường cái từ Cốc Nam (Việt Nam)
đến Long Huai (Trung Quốc), có độ cao là 312,24m, tọa độ
địa lý 210 57' 52,477" vĩ độ Bắc, 1060 41' 37,169" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1105, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông, đến mốc giới số 1106. Chiều dài đoạn biên
giới này là 0,064km.
Mốc giới số 1106 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 359,50m, tọa độ
địa lý 210 57' 52,564" vĩ độ Bắc, 1060 41' 39,392" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1106, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung là hướng Nam, đến mốc giới số 1107. Chiều
dài đoạn biên giới này là 0,278km.
Mốc giới số 1107 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên sống núi, cạnh đường mòn, có độ cao là
349,00m, tọa độ địa lý 210 57' 43,879" vĩ độ Bắc, 1060
41' 40,948" kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1107, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông - Đông Bắc, đến mốc giới số 1108. Chiều dài
đoạn biên giới này là 0,127km.
Mốc giới số 1108 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 418,39m, tọa độ
địa lý 210 57' 45,315" vĩ độ Bắc, 1060 41' 45,103" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1108, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung Đông Nam, đến mốc giới số 1109. Chiều dài
đoạn biên giới này là 0,132km.
Mốc giới số 1109 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên yên ngựa, có độ cao là 369,28m, tọa độ
địa lý 210 57' 42,149" vĩ độ Bắc, 1060 41' 48,174" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1109, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung Đông - Đông Nam, đến mốc giới số 1110.
Chiều dài đoạn biên giới này là 0,313km.
Mốc giới số 1110 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 412,29m, tọa độ
địa lý 210 57' 37,392" vĩ độ Bắc, 1060 41' 56,223" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1110, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông Bắc, đến điểm có độ cao 436m (tọa độ địa
lý 210 57' 42,86" vĩ độ Bắc, 1060 42' 03,91" kinh độ
Đông) sau đó theo đường sống núi, hướng chung Bắc - Đông
Bắc, đến mốc giới số 1111. Chiều dài đoạn biên giới này
là 0,574km.
Mốc giới số 1111 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên yên ngựa, có độ cao là 407,72m, tọa độ
địa lý 210 57' 49,014" vĩ độ Bắc, 1060 42' 07,858" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1111, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung là hướng Bắc, đến điểm có độ cao 430m
(đo trên bản đồ), sau đó theo đường thẳng, hướng Đông
Nam, đến mốc giới số 1112. Chiều dài đoạn biên giới này
là 0,284km.
Mốc giới số 1112 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên yên ngựa, cạnh đường mòn, có độ cao là
404,38m, tọa độ địa lý 210 57' 54,797" vĩ độ Bắc, 1060
42' 10,083" kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1112, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông Nam, đến điểm có độ cao 430m (đo trên bản
đồ), sau đó theo đường sống núi, hướng chung Bắc - Đông
Bắc, đến mốc giới số 1113. Chiều dài đoạn biên giới này
là 0,536km.
Mốc giới số 1113 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 462,77m, tọa độ
địa lý 210 58' 05,022" vĩ độ Bắc, 1060 42' 18,931" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1113, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông Bắc, đến mốc giới số 1114. Chiều dài đoạn
biên giới này là 0,354km.
Mốc giới số 1114 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 390,14m, tọa độ
địa lý 210 58' 12,413" vĩ độ Bắc, 1060 42' 28,406" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1114, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông, đến mốc giới số 1114/1. Chiều dài đoạn biên
giới này là 0,044km.
Mốc giới số 1114/1 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng
đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 360,47m, tọa
độ địa lý 210 58' 12,392" vĩ độ Bắc, 1060 42' 29,923"
kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1114/1, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Bắc, đến mốc giới số 1114/2. Chiều dài đoạn biên
giới này là 0,222km.
Mốc giới số 1114/2 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng
đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 347,79m, tọa
độ địa lý 210 58' 19,589" vĩ độ Bắc, 1060 42' 29,658"
kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1114/2, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Bắc, đến mốc giới số 1114/3. Chiều dài đoạn biên
giới này là 0,128km.
Mốc giới số 1114/3 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng
đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 376,79m, tọa
độ địa lý 210 58' 23,707" vĩ độ Bắc, 1060 42' 29,078"
kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1114/3, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Tây - Tây Bắc, đến mốc giới số 1114/4. Chiều dài
đoạn biên giới này là 0,053km.
Mốc giới số 1114/4 là mốc đơn phụ, loại nhỏ, làm bằng
đá hoa cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 397,11m, tọa
độ địa lý 210 58' 24,670" vĩ độ Bắc, 1060 42' 27,540"
kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1114/4, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Bắc, đến mốc giới số 1115. Chiều dài đoạn biên
giới này là 0,141km.
Mốc giới số 1115 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 421,69m, tọa độ
địa lý 210 58' 29,263" vĩ độ Bắc, 1060 42' 27,763" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1115, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung Đông - Đông Nam, qua điểm có độ cao 359m,
đến điểm có độ cao 334m (tọa độ địa lý 210 58' 25,57"
vĩ độ Bắc, 1060 42' 39,35" kinh độ Đông), sau đó theo
đường thẳng hướng Đông, đến mốc giới số 1116. Chiều
dài đoạn biên giới này là 0,398km.
Mốc giới số 1116 là mốc đơn, loại lớn, làm bằng đá hoa
cương, có gắn quốc huy, đặt trên sườn núi, phía Tây
đường cái từ cửa khẩu Hữu Nghị (Việt Nam) đi Hữu Nghị
Quan (Trung Quốc), có độ cao là 312,30m, tọa độ địa lý 210
58' 25,419" vĩ độ Bắc, 1060 42' 40,798" kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1116, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông, qua Km0, cắt qua đường cái từ cửa khẩu Hữu
Nghị (Việt Nam) đi Hữu Nghị Quan (Trung Quốc), đến mốc giới
số 1117. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,085km.
Mốc giới số 1117 là mốc đơn, loại lớn, làm bằng đá hoa
cương, có gắn quốc huy, đặt trên sườn núi, phía Đông
đường cái từ cửa khẩu Hữu Nghị (Việt Nam) đi Hữu Nghị
Quan (Trung Quốc), có độ cao là 312,50m, tọa độ địa lý 210
58' 25,138" vĩ độ Bắc, 1060 42' 43,744" kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1117, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông - Đông Bắc, đến mốc giới số 1118. Chiều dài
đoạn biên giới này là 0,034km.
Mốc giới số 1118 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên sườn núi, có độ cao là 320,63m, tọa độ
địa lý 210 58' 25,625" vĩ độ Bắc, 1060 42' 44,789" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1118, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung là hướng Nam, qua điểm có độ cao 364m (tọa
độ địa lý 210 58' 22,87" vĩ độ Bắc, 1060 42' 45,52" kinh
độ Đông), đến mốc giới số 1119. Chiều dài đoạn biên
giới này là 0,165km.
Mốc giới số 1119 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 350,96m, tọa độ
địa lý 210 58' 20,386" vĩ độ Bắc, 1060 42' 45,328" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1119, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung là hướng Đông, đến mốc giới số 1120.
Chiều dài đoạn biên giới này là 0,201km.
Mốc giới số 1120 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 320,91m, tọa độ
địa lý 210 58' 20,184" vĩ độ Bắc, 1060 42' 51,888" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1120, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông, đến mốc giới số 1121. Chiều dài đoạn biên
giới này là 0,062km.
Mốc giới số 1121 là mốc đơn, loại lớn, làm bằng đá hoa
cương, có gắn quốc huy, đặt trên dốc núi, có độ cao là
294,96m, tọa độ địa lý 210 58' 19,949" vĩ độ Bắc, 1060
42' 54,029" kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1121, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông, cắt qua một con suối và đường sắt từ Đồng
Đăng (Việt Nam) đi Bằng Tường (Trung Quốc), đến mốc giới
số 1122. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,072km.
Mốc giới số 1122 là mốc đơn, loại lớn, làm bằng đá hoa
cương, có gắn quốc huy, đặt ở phía Đông đường sắt từ
Đồng Đăng (Việt Nam) đi Bằng Tường (Trung Quốc), có độ cao
là 294,33m, tọa độ địa lý 210 58' 20,001" vĩ độ Bắc, 1060
42' 56,545" kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1122, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông, đến điểm có độ cao 315m ( tọa độ địa lý
210 58' 20,02" vĩ độ Bắc, 1060 42' 57,75" kinh độ Đông),
sau đó theo đường sống núi, hướng chung Bắc - Đông Bắc,
đến mốc giới số 1123. Chiều dài đoạn biên giới này là
0,259km.
Mốc giới số 1123 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 354,12m, tọa độ
địa lý 210 58' 26,722" vĩ độ Bắc, 1060 43' 00,748" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1123, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung Đông - Đông Bắc, qua điểm có độ cao 368m
(tọa độ địa lý 210 58' 26,90" vĩ độ Bắc, 1060 43'
07,17" kinh độ Đông), đến mốc giới số 1124. Chiều dài
đoạn biên giới này là 0,472km.
Mốc giới số 1124 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên đỉnh núi Co Mìn, có độ cao là 403,68m, tọa
độ địa lý 210 58' 32,425" vĩ độ Bắc, 1060 43' 14,054"
kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1124, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông Bắc, cắt qua một đường mòn, đến mốc giới
số 1125. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,320km.
Mốc giới số 1125 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên dốc núi, có độ cao là 368,86m, tọa độ
địa lý 210 58' 40,967" vĩ độ Bắc, 1060 43' 20,436" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1125, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Bắc - Đông Bắc, cắt qua một con suối, đến mốc
giới số 1126. Chiều dài đoạn biên giới này là 0,113km.
Mốc giới số 1126 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên đỉnh núi nhỏ, có độ cao là 360,80m, tọa
độ địa lý 210 58' 44,032" vĩ độ Bắc, 1060 43' 22,579"
kinh độ Đông.
Từ mốc giới số 1126, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông Bắc, cắt qua khe, đến mốc giới số 1127. Chiều
dài đoạn biên giới này là 0,272km.
Mốc giới số 1127 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 430,25m, tọa độ
địa lý 210 58' 50,717" vĩ độ Bắc, 1060 43' 28,775" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1127, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung Bắc - Đông Bắc, đến mốc giới số 1128.
Chiều dài đoạn biên giới này là 0,941km.
Mốc giới số 1128 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 610,97m, tọa độ
địa lý 210 59' 13,022" vĩ độ Bắc, 1060 43' 42,315" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1128, đường biên giới theo đường sống
núi, hướng chung Bắc - Đông Bắc, đến mốc giới số 1129.
Chiều dài đoạn biên giới này là 0,994km.
Mốc giới số 1129 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên đỉnh núi, có độ cao là 612,69m, tọa độ
địa lý 210 59' 41,964" vĩ độ Bắc, 1060 43' 49,942" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1129, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Bắc - Đông Bắc, đến mốc giới số 1130. Chiều dài
đoạn biên giới này là 0,311km.
Mốc giới số 1130 là mốc đơn, loại trung, làm bằng đá hoa
cương, đặt trên sống núi, có độ cao là 550,78m, tọa độ
địa lý 210 59' 50,422" vĩ độ Bắc, 1060 43' 55,901" kinh
độ Đông.
Từ mốc giới số 1130, đường biên giới theo đường thẳng,
hướng Đông Bắc, cắt qua khe, đến mốc giới số 1131. Chiều
dài đoạn biên giới này là 0,327km.</blockquote>
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20131020/so-sanh-bien-gioi-moi-o-khu-vuc-nam-quan-voi-ban-do-cua-quan-doi-my),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét