Mohan Malik - Lịch sử là mắt xích yếu trong tuyên bố chủ quyền biển đảo của Bắc Kinh

<b> Trung Quốc nói rằng lịch sử hỗ trợ tuyên bố chủ
quyền biển đảo của mình. Nhưng Trung Quốc thực sự có chủ
quyền ở những vùng biển đó?</b>

Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền với gần như toàn bộ Biển
Đông và đường chủ quyền của họ được in trong hộ chiếu
mới của Trung Quốc và bản đồ chính thức<b>.</b> Lãnh đạo
Trung Quốc và người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước họ ngày
càng nhấn mạnh rằng các đảo, bãi đá, và các rạn san hô ở
Biển Đông là "lãnh thổ Trung Quốc từ thời cổ đại".
Thông thường, các yêu sách chồng lấn về ranh giới chủ
quyền và hàng hải phải được giải quyết thông qua luật
pháp quốc tế, tố tụng tại Tòa án Công lý Quốc tế hoặc
Tòa án Quốc tế về Luật Biển, hoặc hòa giải theo Phụ lục
7 của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Trong
khi Trung Quốc đã phê chuẩn UNCLOS và Công ước này bãi bỏ
tuyên bố chủ quyền "dựa trên lịch sử" nhưng đó là
chính là căn cứ mà Bắc Kinh luôn dùng để khẳng định chủ
quyền. Vào ngày 04 tháng 9 năm 2012, Ngoại trưởng Trung Quốc
Dương Khiết Trì nói với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton rằng
có "rất nhiều bằng chứng lịch sử và pháp lý cho thấy
Trung Quốc có chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông và
các vùng biển lân cận".

Đa số các chuyên gia luật quốc tế đã kết luận rằng
"tuyên bố chủ quyền dựa vào lịch sử" của Trung Quốc
về Biển Đông, gồm quản lý chủ quyền và đặc quyền cho
phép tàu bè đi lại qua vùng biển này, là phi lý và phi pháp.
Các bằng chứng lịch sử của họ, nếu có, đều thiếu tính
thuyết phục. Căn cứ Trung Quốc biện minh cho tuyên bố của
mình đến hòn đảo và rạn san hô ở Biển Đông rất mâu
thuẫn, ngay cả khi chúng có một chút tương đồng với luận
điểm bành trướng mà Hoa Kỳ và các nước đế quốc châu Âu
đã áp dụng trong thế kỷ 18-19. Để bảo vệ quan điểm của
Trung Quốc trong việc mở rộng biên giới lãnh hải của mình
bằng cách tuyên bố chủ quyền tại các đảo và rạn san hô
ở Biển Đông, giáo sư Gia Kinh Quốc tại Khoa Nghiên cứu Quốc
tế tại Đại học Bắc Kinh cho rằng Trung Quốc chỉ đơn
thuần làm theo tiền lệ của phương Tây. Gần đây GS Giả còn
nói với hãng tin AFP rằng "Chuyện này không có gì mới: Hoa
Kỳ có đảo Guam ở châu Á cách xa Mỹ và người Pháp có các
đảo ở Nam Thái Bình Dương".

Phân tích sâu hơn về các "bằng chứng lịch sử" trong
tuyên bố của Trung Quốc cho thấy trên thực tế lịch sử
không đứng về phía họ. Yêu sách của Bắc Kinh đối với
quần đảo Trường Sa dựa trên cơ sở lịch sử rằng các
vương triều trước đây đã <i>không thực thi chủ quyền tại
vùngbiển này.</i> Tại châu Á thời tiền hiện đại, biên
giới của các vương triều có đặc điểm là không xác định
rõ ràng, không được bảo vệ nghiêm ngặt, và hay thay đổi.
Thời đó bá quyền lấn át chủ quyền. Không giống như một
quốc gia hiện đại, biên giới của các đế quốc Trung Hoa
không được vạch định và tuần tra cẩn thận mà được mô
tả như những vùng ranh nhằm bảo vệ trung tâm văn minh Thiên
Triều khỏi các bộ tộc man ri ngoại bang. Quan trọng hơn, trong
các tranh chấp lãnh thổ với láng giềng như Ấn Độ, Miến
Điện và Việt Nam, Bắc Kinh luôn xác định rằng ranh giới
đất liền của họ không được xác định rõ rành. Nhưng khi
nói đến các đảo, bãi đá ngầm, và các rạn san hô ở Biển
Đông, Bắc Kinh lại tuyên bố ngược lại. Nói cách khác, tuyên
bố lịch sử của Trung Quốc rằng ranh giới đất liền của
họ là <b>bất định</b> trái ngược hẳn với lập trường
của họ rằng biên giới trên biển của Trung Quốc là <b>xác
định</b>. Đây là một mâu thuẫn cơ bản không thể chấp
nhận trong lập trường của Trung Quốc về ranh giới trên đất
liền và trên biển. Trên thực tế, từ những năm giữa thế
kỷ 20 Trung Quốc đã tập trung nỗ lực giải quyết mẫu thuẫn
biên giới đất liền và biển đảo với các quốc gia láng
giếng dựa trên khái niệm biên giới bá quyền. Nói đơn giản,
chủ quyền biên giới rõ ràng là một khái niệm không có trong
thời cổ đại mà chỉ được xác định với các quốc hiện
đại sau giai đoạn đế quốc.

Khái niệm về chủ quyền bắt nguồn từ châu Âu với việc
ký kết Hiệp ước Westphalia năm 1648 chứ không phải từ Trung
Quốc hoặc châu Á. Đây là một khái niệm cho biên giới trên
đất liền và không được áp dụng cho quốc gia ở châu Á và
châu Phi cho đến giữa thế kỷ 20. Hệ thống Westphalia dựa
trên khái niệm về bình đẳng pháp lý hay chủ quyền quốc gia
với mốc giới rõ ràng không chỉ khác với quan niệm thời
phong kiến ở châu Âu, mà còn với các nhà nước bá quyền ở
châu Á, Ba Tư, Trung Quốc và Ấn Độ. Trước Hiệp ước
Westphalia, các vương quốc ở châu Âu và các nơi khác không
tuyên bố và thực thi chủ quyền theo quan điểm hiện nay.

Lịch sử, như chúng ta biết, được viết bởi người chiến
thắng, không phải bởi kẻ chiến bại. Biên giới hiện tại
của Trung Quốc chủ yếu phản ánh ranh giới được thiết lập
trong thời kỳ bành trướng ngoạn mục của nhà Thanh (Mãn Châu)
trong thế kỷ 18 và dần dần định hình như hiện nay (ngoại
trừ vùng Ngoại Mông do ảnh hưởng chủ yếu của Liên Xô), sau
đó áp dụng hệ thống chủ quyền quốc gia Westphalia trên toàn
châu Á trong thế kỷ 19-20. Sử sách chính thống của Trung Quốc
ngày nay thường bóp méo tiến trình lịch sử phức tạp này;
họ tuyên bố rằng người Mông Cổ, Tây Tạng, Mãn Châu, và
Hán đều là người Trung Quốc trong khi thực tế Vạn Lý
Trường Thành được xây dựng bởi các triều đại Trung Quốc
để tránh bị tấn công vì Mông Cổ và Mãn Châu ở phía bắc
đã nhiều lần đánh bại người Hán; Vạn Lý Trường Thành
thực sự đại diện cho rào chắn an ninh bên ngoài của các
vương triều nhà Hán. Trong khi hầu hết các sử gia nhìn rõ
rằng cuộc tấn công của quân Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn
chỉ đạo trong những năm 1200 là khởi điểm đe dọa sự sống
còn của nền văn minh cổ đại ở Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Tư
và các quốc gia khác, người Trung Quốc đã xây dựng một
huyền thoại rằng Thành Cát Tư Hãn là người "Trung Quốc",
và do đó tất cả các lãnh thổ mà người Mông Cổ (nhà
Nguyên) đã chiếm đóng hoặc chinh phục (như Tây Tạng và phần
lớn Trung và Nội Á) thuộc về Trung Quốc bằng cách lồng khái
niệm về chủ quyền của châu Âu ở thế kỷ mười sáu vào
hoàn cảnh Châu Á ở thế kỷ mười hai. Tuyên bố chủ quyền
của Trung Quốc với Đài Loan và Biển Đông cũng dựa trên cơ
sở là cả hai đều là một phần của đế chế Mãn Châu.
(Thực ra, trong bản đồ của nhà Thanh, chỉ có đảo Hải Nam
chứ không phải là quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là lãnh
thổ Trung Quốc). Trong phiên bản lịch sử này, bất kỳ lãnh
thổ nào được chinh phục bởi "Người Trung Quốc" trong quá
khứ đều là của Trung Quốc, bất biết được chiếm từ bao
giờ.

Việc viết đi viết lại lịch sử theo góc độ dân tộc chủ
nghĩa để thúc đẩy đoàn kết dân tộc và tăng cường tính
hợp pháp của chế độ được coi là ưu tiên cao nhất của
lãnh đạo Trung Quốc từ cả hai phe: Quốc gia và Cộng Sản.
Lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc cho mình là người thừa
kế di sản của đế quốc Trung Hoa và thường sử dụng các
biểu tượng và cách phát ngôn như là Thiên Triều. Từ sách
giáo khoa tiểu học đến phim truyền hình lịch sử, hệ thống
thông tin do nhà nước kiểm soát đã nhồi nhét các thế hệ
người Trung Quốc những tư tưởng về một đế chế Trung Hoa
vĩ đại. Khi nhà Hán học người Úc Geremie Barmé chỉ ra rằng,
"Chính sách giáo dục và tuyên truyền của Trung Quốc trong
nhiều thập kỷ đã nhấn mạnh vai trò của lịch sử tới sự
tồn vong của nhà nước Trung Quốc… trong khi chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông đã bị bỏ rơi hoàn
toàn trừ cái tên, vai trò của lịch sử trong tương lai của
Trung Quốc vẫn rất kiên định". Vì vậy, các viện nghiên
cứu, truyền thông đại chúng, và các cơ quan giáo dục do nhà
nước kiểm soát đã ngụy tạo nhiều chứng cứ lịch sử như
một công cụ bành trướng (điều này còn được gọi là
"xâm lược bằng bản đồ" ).

Trung Quốc cũng sử dụng văn hóa dân gian, thần thoại, truyền
thuyết, dã sử, để củng cố yêu sách lãnh thổ và hàng hải
lớn hơn và để tạo ra "thực tế" về biên giới trên
đất liền và trên biển. Sách giáo khoa Trung Quốc giao giảng
quan điểm rằng Thiên Triều là trung tâm vũ trụ có nền văn
minh lâu đời nhất và tiên tiến nhất; các nước nhỏ xunh
quanh đã bị Hán hóa một phần ở Đông và Đông Nam Á luôn
phải khấu đầu tôn kính. Phiên bản của lịch sử Trung Quốc
thường cố tình làm mờ đi sự khác biệt giữa ảnh hưởng
bá quyền, quan hệ triều cống, quyền bá chủ ranh giới, thực
tế kiểm soát lãnh thổ. Theo quan điểm ai đã làm chủ trong
quá khứ thì kiểm soát được hiện tại hoạch định tương
lai của mình, Bắc Kinh luôn đánh giá cao "lá bài lịch sử"
(xem xét các chứng cứ lịch sử đã được viết lại) trong
các nỗ lực ngoại giao để đạt được mục tiêu đối
ngoại, đặc biệt là để khai thác nhượng bộ lãnh thổ từ
các nước khác. Không lúc này thì lúc khác, hầu như tất cả
các nước tiếp giáp với Trung Quốc như Mông Cổ, Tây Tạng,
Miến Điện, Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ, Việt Nam, Philippines và
Đài Loan đều bị chèn ép hoặc bằng quân sự hoặc theo quan
điểm lịch sử viết lại của Trung Quốc. Martin Jacques đã lưu
ý trong cuốn <i>Khi Trung Quốc Thống Trị Thế Giới </i>rằng
"dân tộc chủ nghĩa ở Trung Quốc hiện nay có hình hài và
thể thức của Đế quốc Trung Hoa". Nếu không được kiểm
soát, sự ngạo mạn đế quốc hoặc nỗi khát khao trở lại
quá khứ hào hùng có thể có dẫn đến những hậu quả khôn
lường với hòa bình và ổn định trong khu vực.

Trong khi quan điểm chủ quyền đất liền được hình thành
từ thế kỷ 17 ở châu Âu với Hiệp ước Westphalia, ý tưởng
về chủ quyền biển phần lớn là bắt nguồn từ Hoa Kỳ vào
giữa thế kỷ 20: Trung Quốc và những nước khác khai thác
chúng để mở rộng lãnh thổ lãnh hải. Theo Jacques "Ý tưởng
về chủ quyền biển là một phát minh tương đối mới, tính
từ năm 1945 khi Hoa Kỳ tuyên bố rằng họ sẽ thực thi chủ
quyền đối với vùng lãnh hải của mình". Trên thực tế,
sự đồng thuận trong Luật Biển của Liên Hợp Quốc đại
diện cho nỗ lực quốc tế nổi bật nhất để áp dụng khái
niệm chủ quyền biên giới trên đất liền đối với biên
giới biển trên toàn thế giới-nhưng quan trọng là Luật này
bác bỏ ý tưởng dùng lịch sử để bảo vệ tuyên bố chủ
quyền biển. Vì vậy mặc dù Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền
với khoảng 80% Biển Đông dựa trên lý do rằng đây là "vùng
nước lịch sử của mình" (và hiện đang tìm cách nâng cao
tuyên bố này lên tầm "lợi ích cốt lõi" giống như với
các tuyên bố chủ quyền đối với Đài Loan và Tây Tạng).
Tuyên bố chủ quyền theo lịch sử của Trung Quốc về Biển
Đông có thể nói giống như Mexico tuyên bố Vịnh Mexico là của
thuộc độc quyền mình, hay Iran tuyên bố như vậy với Vịnh Ba
Tư, hay Ấn Độ tuyên bố như vậy với Ấn Độ Dương. Nói
cách khác, tuyên bố như vậy không có giá trị gì cả. Từ quan
điểm pháp lý, "việc sử dụng tên 'Hoa Nam' để chỉ vùng
biển này không có nghĩa là ghi nhận chủ quyền lịch sử của
Trung Quốc". Những nước sử dụng lịch sử để khẳng
định chủ quyền đối với các đảo đều phải được các
nước liên quan đồng ý và dựa trên cách giải thích lịch sử
mà các bên thống nhất nhưng cả hai các yếu tố này đều
không có trong trường hợp Biển Đông.

Các đế chế xưa hoặc giành quyền kiểm soát lãnh thổ thông
qua xâm lược, thôn tính, đồng hóa hoặc bị mất chủ quyền
về đối thủ có vũ khí tối tân hơn. Mở rộng và thu hẹp
lãnh thổ được coi là tiêu chí xác định một đế chế là
mạnh hay yếu. Khái niệm "hải đảo thiêng liêng" là phi
lịch sử vì các đảo này hầu như đã được chuyền tay
nhiều lần và việc kiểm soát hiện nay căn cứu vào việc
nước nào chiếm được từ nước nào lần gần đây nhất.
Biên giới của nhà Tần, Hán, Đường, Tống, và Minh đều
thịnh rồi suy suốt chiều dài lịch sử. Đế quốc Trung Hoa khi
mạnh, cũng giống như nước Nga thời Sa-Hoàng, đã bành trướng
vào vùng Nội Á và Đông Dương khi cơ hội xuất hiện và sức
mạnh cho phép. Việc mở rộng lãnh thổ Trung Hoa nhờ các triều
đại ngoại Hán như nhà Nguyên (Mông Cổ) và nhà Thanh (Mãn
Châu) đã khiến Trung Quốc kiểm soát được Tây Tạng và một
phần Trung Á (nay là Tân Cương), Đài Loan và Đông Nam Á. Trung
Quốc hiện nay trên thực tế là một "đế chế" đang đeo
cái mặt nạ của một "quốc gia".

Nếu chấp nhận "tuyên bố chủ quyền theo lịch sử" của
Bắc Kinh thì sẽ gặp vấn đề là Trung Hoa không phải là đế
chế duy nhất trên thế giới hay ở châu Á thời cận đại.
Thế giới còn có các đế chế và vương quốc khác. Nhiều
quốc gia có thể "tuyên bố chủ quyền theo lịch sử" với
những vùng đất hiện nay do Trung Quốc kiểm soát <b>(</b>ví
dụ, vùng Gando ở tỉnh Cát Lâm trước kia thuộc về Triều
Tiên). Trước thế kỷ thứ hai mươi, Châu Á không có các quốc
gia có chủ quyền biên giới có tính pháp lý rõ ràng. Nếu các
tuyên bố chủ quyền theo lịch sử của Trung Quốc là hợp lý
thì Việt Nam và Philippines cũng có thể đưa ra các tuyên bố
tương tự dựa trên lịch sử của họ. Ai học sử châu Á
đều biết rằng người Mã Lai, tổ tiên của người Philippines
ngày nay có lý hơn Bắc Kinh để tuyên bố chủ quyền của
đảo Đài Loan. Người Mã Lai khai phá Đài Loan đầu tiên và con
cháu họ hiện đang sinh sống ở vùng đồng bằng ven biển của
quốc đảo này. Chuyên gia nghiên cứu Châu Á Philip Bowring cho
rằng "thực tế là người Trung Quốc có sử viết lâu dài
không có nghĩa là lịch sử của họ đáng tin hơn các di sản
sử học của các nước khác bằng hiện vật, ngôn ngữ, gia
phả, gen di truyền, các bằng chứng về thương mại và di
dân".

Trừ khi công nhận Trung Quốc là ngoại lệ, "tuyên bố chủ
quyền theo lịch sử" của đế chế Trung Hoa cũng có giá trị
như tuyên bố lịch sử của các nước khác trong khu vực Đông
Nam và Nam Á. Vấn đề của căn cứ lịch sử là chọn điểm
dừng ở đâu và quan trọng hơn là phiên bản lịch sử nào
được coi là chính xác. Việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền
với các quốc gia đã quy phục đế chế Mông Cổ và Mãn Châu
tương đương với việc Ấn Độ tuyên bố chủ quyền với
Afghanistan, Bangladesh, Miến Điện, Malaysia, Nepal, Pakistan và Sri
Lanka vì những nước này đều thuộc lãnh thổ của đế chế
Ashoka, Maurya, Chola, Moghul và Anh-Ấn. Từ thế kỷ thứ 10 đến
thế kỷ 13, quốc vương của Pallava và Chola ở miền nam Ấn
Độ xây dựng lực lượng hải quân lớn và chinh phạt thành
công các vương quốc trong Vịnh Bengal ngày nay. Họ còn tiến
theo đường biển để chinh phục Sri Lanka, Malaysia và Indonesia
ngày nay. Trong nghiên cứu của mình về văn hóa chiến lược
Ấn Độ, George Tanham nhận xét: "Trong cuộc chiến giành quyền
thông thương giữa Trung Quốc, Ấn Độ và châu Âu, các vua
Cholas đã chiến thắng trong các trận hải chiến và cai trị
các nước Đông Nam Á trong một thời gian".

Các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông cũng là một sự
thay đổi lớn từ định hướng địa chính trị làm bá chủ
đất liền từ lâu đời của họ. Trung Quốc căn cứu vào các
chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa đến Ấn Độ Dương và châu
Phi vào đầu thế kỷ 15 để cho rằng họ có truyền thống
hảng hải. Nhưng theo nhà nghiên cứu Bowring thì "Trung Quốc là
kẻ hậu sinh trong nghề đi biển. Người Mã Lai mới là bậc
thầy thám hiểm đại dương trong nhiều thế kỷ; họ đã chinh
phục phần lớn thế giới từ Đài Loan, New Zealand và Hawaii ở
phía nam và phía đông, đến Madagascar ở phía tây.Các con tàu
bằng đồng của họ đã giao thương với Palawan, phía nam của
Scarborough từ thời Khổng Tử. Khi khách hành hương Phật giáo
từ Trung Quốc như Faxian đến Sri Lanka [miền nam Ấn Độ] trong
thế kỷ thứ năm, họ đã đi trên các con tàu do người Mã Lai
điều hành và sở hữu. Tàu thuyền đi từ Philippines ngày nay
đã giao dịch ở Phù Nam, nay thuộc miền Nam Việt Nam, một ngàn
năm trước khi nhà Nguyên hình thành"

Và cuối cùng, cái gọi là "tuyên bố chủ quyền theo lịch
sử" của Trung Quốc đối với Biển Đông thực sự không
phải đã có hàng "thế kỷ". Tuyên bố này chỉ có từ năm
1947 khi chính phủ quốc dân của Tưởng Giới Thạch vẽ cái
gọi là "đường 11 đoạn" trên bản đồ của Trung Quốc ở
Biển Đông, bao quanh quần đảo Trường Sa và các chuỗi đảo
khác nên chính quyền Quốc Dân Đảng tuyên bố vùng biển này
bây giờ thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Bản than Tưởng
Giới Thạch cho rằng ông ta thấy chủ nghĩa phát xít Đức là
mô hình cho Trung Quốc và đã bị cuốn hút bởi ý tưởng phát
xít về việc mở rộng "không gian sống" (<i>lebensraum</i>) cho
dân tộc Trung Hoa. Tưởng Giới Thạch đã không có cơ hội để
thực hiện ý đồ bành trướng vì bị phát xít Nhật đuổi
đánh nhưng những tay họa đồ của chính quyền Quốc Dân
Đảng đã vẽ đường chữ U (đường lưỡi bò) với 11 đoạn
nhằm mở rộng "không gian sống" của Trung Quốc ở Biển
Đông ngay sau thất bại của Nhật Bản trong Thế chiến Thứ 2.
Rõ ràng, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc cũng tức giận về tấm
bản đổ của Phát xít Nhật trong Thế chiến Thứ 2: toàn bộ
Biển Đông được vẽ thành một cái hồ của Nhật. Chính phủ
Trung Hoa Dân Quốc thám hiểm vùng biển này lần đầu vào năm
1947 với các con tàu mang tên <i>Zhongjian, Zhongye, </i><em>
Taiping</em> và <i>Yongxing.</i> Họ chỉ khảo sát đo đạc vùng
biển này nhiều năm sau đó. Sau chiến thắng của Đảng Cộng
sản Trung Quốc trong cuộc nội chiến vào năm 1949, Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa đã chỉnh lại bản đồ này của Tưởng
Giới Thạch thành "đường chín đoạn" sau khi xóa hai đoạn
vào năm 1953 ở Vịnh Bắc Bộ, nơi họ chưa bao giờ khảo sát.
Đến cuối năm 2005, bản đồ của Hải quân Trung Quốc công
bố về bãi cạn Scarborough cũng chỉ là "sao-y-bản-chính"
từ bản đồ của Hải quân Hoa Kỳ (cám ơn Barney Moreland cung
cấp cho tác giả thông tin này).

Kể từ khi kết thúc Thế Chiến Thứ 2, Trung Quốc đã vẽ
lại bản đồ, xác định lại biên giới, ngụy tạo bằng
chứng lịch sử, sử dụng vũ lực để tạo "sự đã rồi"
về lãnh thổ, đổi tên đảo, và tìm cách áp đặt phiên bản
lịch sử của mình trên các vùng biển trong khu vực. "Luật về
lãnh hải và vùng tiếp giáp" của họ, thông qua vào năm 1992,
tuyên bố chủ quyền tại 4/5 diện tích Biển Đông, tiếp đó
họ tiến hành xung đột vũ trang với hải quân Philippines và
Việt Nam trong suốt những năm 1990. Gần đây, nhiều tàu cá
Trung Quốc và tàu hải giám được điều đến vùng biển tranh
chấp nhằm tiến hành "chiến tranh nhân dân trên biển" đã
làm tình hình ngày càng căng thẳng thêm. Theo phân tích của
Sujit Dutta, "Để cho tinh thần tìm lại quá khứ hào hùng của
Trung Quốc phát triển không kiểm soát được dựa trên<b>
</b>... lý thuyết là phải chiếm cái chưa cốt lõi để đảm
đảm cái cốt lõi. Lý thuyết này là một khái niệm đế quốc
cơ bản được đưa vào nội hàm của chủ nghĩa dân tộc Trung
Quốc, cả Quốc Gia và Cộng Sản. Những nỗ lực của chế
độ [hiện nay] để đạt được biên giới địa lý tưởng
tượng của họ dựa vào những chứng cớ lịch sử ít ỏi đã
và tiếp tục tạo ra các bất ổn chiến lược".

Rõ ràng, một trong những lý do các nước Đông Nam Á cảm
thấy khó chấp nhận yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc vì
điều đó đồng nghĩa chấp nhận rằng người Hán ưu việt
hơn các chủng tộc và đế chế khác ở châu Á. Jay Batongbacal
thuộc trường Đại học Luật pháp Philippines cho rằng<b>
</b>"Chấp nhận đường chín đoạn là từ chối bản sắc và
lịch sử của tổ tiên người Việt Nam, Philippines, và Mã Lai;
điều này thực chất là sự hồi sinh của tư tưởng hủ lậu
đã coi những chủng người không phải Trung Quốc là 'mọi
rợ', không đáng được bình đẳng tôn trọng và nhân phẩm
như một dân tộc".

Tóm lại, các đế chế và vương quốc ngày xưa không bao giờ
thực thi chủ quyền theo quan điểm hiện đại. "Câu hỏi
lịch sử" rất phức tạp và không chấp nhận một lời giải
thích dễ dãi. Nếu yêu sách chủ quyền theo lịch sử có giá
trị thì Mông Cổ có thể khẳng định chủ quyền với toàn
châu Á, đơn giản vì họ đã từng chinh phục châu lục này.
Hoàn toàn không có cơ sở lịch sử cho "đường lưỡi bò"
vì lãnh thổ của đế quốc Trung Hoa chưa bao giờ được vạch
rõ ràng, cẩn thận như của một quốc gia hiện đại mà chỉ
được dùng để khoanh vùng ảnh hưởng giữa "trung tâm văn
minh" và "ngoại bang mọi rợ". Đây là luận điểm mà nhà
nước Trung Quốc áp đặt từ những năm 1960 trong khi đàm phán
biên giới trên đất liền với một số nước láng giềng.
Nhưng họ không dùng luận điểm này trong việc hoạch định
bản đồ, hoạt động ngoại giao và xung đột quân sự để
xác định biên giới biển.

Kết hợp việc liên tục xuyên tạc lịch sử để đạt các
mục đích chính trị, lãnh thổ và hàng hải hiện đại với
sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng Sản để bật hay
tắt núi lửa "tinh thần dân tộc" trong những thời điểm
căng thẳng với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt
Nam và Philippines, khiến Bắc Kinh khó trấn an các nước láng
giềng rằng sự "trỗi dậy hòa bình" của họ là hoàn toàn
hòa bình. Chấp nhận của phiên bản lịch sử của Trung Quốc
đồng nghĩa với từ chối của lịch sử của các nước khác
và từ chối khái niệm về bình đẳng giữa các quốc gia có
chủ quyền. Vì có sáu nước tuyên bố chủ quyền với các
đảo, rạn san hô, bãi đá, và các mỏ dầu ở Biển Đông, các
tranh chấp quần đảo Trường Sa là đa phương và phải được
giải quyết theo luật pháp quốc tế. Nhưng Bắc Kinh luôn khẳng
định giải quyết tranh chấp song phương vì họ tin sẽ thành
công do mình mạnh hơn các nước ASEAN mất đoàn kết. Tuyên bố
của Trung Quốc về "chủ quyền không thể tranh cãi ở Biền
Đông", bắt nguồn vào cuối những năm 1940 chứ không phải
từ thời cổ đại, thách thức tất cả các quốc gia biển.

<i> Mohan Malik là giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu
Á-Thái Bình Dương tại Honolulu. Bài viết thể hiện quan điểm
cá nhân của tác giả và không phản ánh quan điểm của Trung
tâm Châu Á-Thái Bình Dương. Phiên bản ngắn hơn của bài viết
sẽ được xuất bản tại tạp chí "Vấn đề Thế
giới"</i> <i> tháng 6 năm 2013. Tác giả đặc biệt cảm ơn
Carleton Cramer, Carlyle Thayer, Justin Nankivell, Denny Roy và Barney
Moreland về những góp ý quý báu.</i>

Nghiêm Hồng Sơn gửi cho <i>viet-studies </i> ngày 2-9-13

Nguồn: <a
href="http://thediplomat.com/2013/08/30/history-the-weak-link-in-beijings-maritime-claims/?all=true">History
the Weak Link in Beijing's Maritime Claims</a>, Diplomat (30-8-13)



***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130903/mohan-malik-lich-su-la-mat-xich-yeu-trong-tuyen-bo-chu-quyen-bien-dao-cua-bac-kinh),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét