Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu
văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời
cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có
giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri
thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp
xúc với văn bản <i>Nam quốc địa dư chí, </i>tôi phát hiện
ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết
hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong
lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết
một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của
gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay
cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn<i
> Nam quốc địa dư chí, </i>mà sau này được hiến tặng lại
cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký <i >Một cơn gió
bụi </i>của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60,
chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn
của cụ Lệ thần - Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong
thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị
đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư
tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự
kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký
đã nêu trên.
Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một
phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên
bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối
cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ.
Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn
của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra
vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản
các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.
Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt.
<u><b>Nội dung như sau: </b></u>
<div class="rightalign">Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 1947<sup
>1</sup></div>
Ông Hãn<sup>2</sup>
Hôm ông Phan văn Giáo<sup>3</sup> đưa cái thư của ông vào cho
tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là
đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã
phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài<sup>4</sup> xem.
Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi
lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế
nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên
trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài: Trừ khi có bằng-chứng
chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về
đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi.
Vậy sự ngài về chắc là không có.
Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy<sup>5</sup>,
hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau<sup>6</sup>
do ông D'argenlieu<sup>7</sup> sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp
sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế
bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không,
và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm
được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ,
thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì
lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm
được<sup>8</sup>.
Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây<sup>9</sup>, không gặp ông
D'argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo
tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người
có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế
lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường,
làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc
đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền<sup>10</sup> và
Khiêm<sup>11</sup>, họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng
thấy ai vào. Tôi biết ý <b>[tr1]</b> cũng không hỏi nữa.
Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực.
Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để
họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không
làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ
đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng
vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người
Pháp rằng: Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông
Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc
không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói:
Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu.
Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài,
và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài<sup>12</sup>.
Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về
đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng
tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất
định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về
ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác
sẽ liệu.
Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì
đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả.
Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ
chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và
quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã
lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo<sup>13</sup>,
Hoè<sup>14</sup> và Sâm<sup>15</sup>. Tôi bảo Sâm nên tìm cách
đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với
người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một
độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình
xuất hiện ra Mặt trận quốc gia<sup>16</sup>, mà không cho tôi
biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó
khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn
rằng: Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết
phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên
truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải
giao-thông với Mặt trận kháng chiến<sup>17</sup>, họ <b>[tr2]</b>
có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay
việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng
xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói: Việc đã
trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.
Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì
thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái
dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:
身 在 南 蕃 無 所 預
心 懐 百 憂 復 千 慮
(<i>Thân tại Nam phiên vô sở dự,</i>
<i>Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.</i>
= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,
Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)
Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm
nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa
cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ
nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta
vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng
như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác,
đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia,
không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa
quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái
chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên
người ta dễ mắc lừa lắm.
Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái
thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn
bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để
lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản,
thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con
cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước
mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁(<i>Công chi
thủ tội chi khôi </i>= Công đứng đầu mà tội cũng đứng
đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế
nào tôi không biết.
Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông
Oánh<sup>18</sup> bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm
bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:
Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ
Đất khách mơ - màng những thở - than,
Mảng tin bác bị lũ hung tàn.
Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,
Căm giận quân thù đã tím gan.
Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở
đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải
cái nạn tai bay vạ gió. Thôi <b>[tr3]</b> thì cũng là một cách
ông ấy trả nợ nước.
Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản
đánh máy tập <b><i><u>Vũ trụ đại quân<sup>19</sup></u></i></b>
gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có
còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo
công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.
<u>Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở
Nhà Rượu<sup>20</sup>, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị
đốt<sup>21</sup> đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm
thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ
hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà
không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được
không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm
thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về
được, mong còn có chỗ che sương che nắng.</u>(Việc này không
cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)<sup>22</sup>
Ông có biết tin ông Bùi Kỷ<sup>23</sup> bây giờ ở đâu
không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông
Bảng cả.
Nhà tôi và Chương<sup>24 </sup>đều có lời chúc ông bà
được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và
tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi,
nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở
đâu và làm gì?
Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có
người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không
nên gửi người không được chắc chắn.
Nay kính thư,
Trần Trọng Kim <b>[tr4]</b>
<b>Chú thích: </b>
1. 8/5/1947: ngày viết thư. <i>Một cơn gió bụi </i>có ghi
việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc: "ngày 8/5 mấy hôm
trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp
tôi". Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi
hộ.
2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo
dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách
mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.
3. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá,
là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt
trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến
hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân
chủ ở miền Nam.
4. Ngài: Chỉ vua Bảo Đại - Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái
vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung
Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần
Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)
5. Bên ấy: Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim
đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Thế
gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm
1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo
Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng
5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần
Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung
Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương
Cảng.
6. Cousseau: Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh
tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ
Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người
Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)
7. D'argenlieu: Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ.
Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)
8. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167...
9. hôm 6 tháng 2 tây: ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn.
<i>Một cơn gió bụi </i>có ghi: "ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng
đến sáng mùng 6 mới lên bờ."
10. ông Hiền: Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các
của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ
Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng
chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân
Hãn, Nguyễn Xuân Chữ,. .. sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè,
sđd)
11. Khiêm: Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với
Trần Trọng Kim soạn sách "<i>Việt Nam văn phạm</i>".
12. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người
Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh
hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn
của người Pháp.
13. Thảo: Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà
Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường
đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp
dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim,
giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng
cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu
tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ
hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến
tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc,
Đại biểu quốc hội.
14. Hoè: Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn
phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến,
bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại
phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội,
ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập
hồi ký "<i>Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt
Bắc</i>". Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947,
Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước
khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội
gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)
15. Sâm: Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị
Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống
Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên
hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm
sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa
kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham
gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ
lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết
cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)
16. Mặt trận quốc gia: Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông
Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo
Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận
Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng
Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng,
Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo
Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các
nhà thực dân khác không chịu được sự "khó tính" của Mặt
trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo
Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư
bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành
phần "Nam kỳ quốc" và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo
ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam
nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong
mặt trận này.
17. Mặt trận kháng chiến: Chỉ Mặt trận kháng chiến của
nhân dân miền Nam (?)
18. ông Oánh: Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột
Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ
học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền
Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên
soạn sách <i>Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư</i>.
Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn
chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ:
Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.
19. Vũ trụ đại quan: Một trong các công trình nghiên cứu
của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)
20. Nhà Rượu: Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà
máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41
phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, <i>Một cơn gió bụi,
</i>Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)
21. "<i>Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự
vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm
quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều
hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt
nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc
vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho
lệnh đốt nhà cho bõ tức</i>". Trần Trọng Kim, sđd.
22. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư,
nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.
23. Bùi Kỷ: Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên
hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng
Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm: <i>Truyện
Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo</i>. Chủ tịch Hội văn
hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu,
Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)
24. Chương: Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các
của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ
Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)
<b> Thư mục tham khảo</b>
1. Lệ thần - Trần Trọng Kim, <i>Một cơn gió bụi, </i>Nxb
Vĩnh Sơn, S,. 1969
2. Phạm Khắc Hoè, <i>Từ triều đình Huế đến chiến khu
Việt Bắc, </i>H,.1986
3. Nguyễn Quang Thắng, <i>Từ điển nhân vật lịch sử Việt
Nam</i>. S,.1982
4. Trần Văn Giáp, <i>Lược truyện các tác gia Hán Nôm </i>II.
H.,1987
5. <i>La Sơn Yên Hồ - Hoàng Xuân Hãn</i>. Nxb GD, H,. 1998 (2t)
<center>* * *</center>
<b>Phụ lục ảnh nguyên văn</b>
<img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEglsqEcKzF54dq3zMgx0PFv90g3zf3tDqqlPHmsg6AL08nGlBSG1GaHKd2wJnCsfDUpbw3wGVDmnRSgrTsf0pu7NeSOO2pH3vH2wOQ0BGGoi2WlUbadLPzi1M-PFI27b8uaJniHHw0k5mDc/s640/trantrongkim1.jpg"
width="458">
<img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgYWI0x5ZGnRJdxAWCzSCy_Qfsw2-2SAL2vJl1453KUtXFOLQl3E7l40Zc3AfGCrDYf3u6tIFEY8qB1FVu6BAIgb1Q0T-VMJumltTETUrhelXkUo4NXh8ju9wt8fCTKPexckNL8TQqj-O8l/s640/trantrongkim2.jpg"
width="458">
<img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEietcx9OyxiwcgRVHO3Uo2xXGmeUtJdHy5eyZ0kzenbL8jPjHTVw5zuAC1vJ9tLCW8WmiP2qfGEf5p-7vnf48QCgiXXL_CJBjZ0Zep9_z8C6ijH0ayzEfOSHiwh-SPNiSlFc8_dGxWgOlsS/s640/trantrongkim3.jpg"
width="464">
<img
src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhjcde1ZoVQhlwvWfbM24WCs6rR9KueyeF29hWGv6XLpEziaJbqUjRuE5wNt1cYn7rmI1iup1Lk1ZfdB-XLiCjfzUgsMEaBwDoO6c8Xz97H42lVDldZscVcYe0yQYqTLcC4-sHdtvZQ6yF8/s640/trantrongkim4.jpg"
width="456">
***********************************
Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/node/21741), một số đường liên kết và hình
ảnh có thể sai lệch. Mời độc giả ghé thăm Dân Luận để
xem bài viết hoàn chỉnh. Dân Luận có thể bị chặn tường
lửa ở Việt Nam, xin đọc hướng dẫn cách vượt tường lửa
tại đây (http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).
Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét