Michael Lüders - Những Ngày Thịnh Nộ - Chương 10

<h2>NGƯỜI HỒI GIÁO KẾT CUỘC LÀ NGƯỜI CHIẾN THẮNG?</h2>

Không có gì bền vững hơn là sự biến đổi, nhà viết bi
kịch người Ai Cập có lẽ là nổi tiếng nhất Tawfik al–Hakim
(1898 – 1987) cũng biết điều đó. Cuộc Cách mạng Ả Rập
không chỉ làm biến đổi chính trị và xã hội. Nó cũng có
ảnh hưởng mang tính quyết định đến mối quan hệ giữa nhà
nước và tôn giáo, đạo Hồi và cai trị. Cũng như mối quan
hệ đến tín ngưỡng. Sự cá nhân hóa trong các thành phố lớn
Ả Rập diễn tiến càng nhiều, sự "công dân hóa" thay thế
các cấu trúc và khuôn mẫu suy nghĩ càng nhiều, thì sự cộng
hưởng với các cách đọc phi mê tín kinh Koran càng lớn, các
lối sống càng tự do hơn. Quá trình này đã được thể hiện
ở ví dụ của những nhà giảng đạo trên truyền hình và các
ứng xử có định hướng life–style của thế hệ Facebook với
đạo Hồi. Có một điều mà cuộc Cách mạng Ả Rập chắc
chắn không là: một cuộc nổi dậy mang tính tôn giáo, một
cuộc nổi loạn Hồi giáo. Hầu như không nhìn thấy hay đọc
được những câu khẩu hiệu của người Hồi giáo. Các câu
khẩu hiệu thường gặp nhất, "Kifaya!" ("Đủ rồi!") hay
"Irhal!" ("Cút đi!") rõ ràng là phi tôn giáo. Những người
anh hùng của cuộc cách mạng không phải là Hassan al–Banna,
người thành lập Huynh Đệ Hồi giáo, hay người kế tục ông
ấy Sayyid Qutb, nói chi đến Osama bin Laden. Các tấm gương cũng
được chọn lựa một cách tự phát hơn, trong số đó là nhà
điều hành Google người Ai Cập Wael Ghonim, người đã tường
thuật lại trên Facebook về cái chết của một người dùng
Internet trẻ tuổi trong tay của cảnh sát Alexandria và vì thế
mà tí nữa thì đã bị cảnh sát mật của Mubarak tra tấn cho
tới chết. Thời của những hệ tư tưởng lớn, có là Chủ
nghĩa Dân tộc hay Chủ nghĩa Hồi giáo đi nữa, đã chấm dứt.
Đồng thời, đạo Hồi chính trị cũng tự biến đổi mình,
tách rời khỏi một đạo luật Hồi giáo Sharia được hiểu
theo cách giáo điều và biểu lộ sự sẵn sàng đón tiếp các
ý tưởng và liên minh mới.

Không ai có thể tiên đoán trước diễn tiến tiếp tục của
cuộc Cách mạng Ả Rập. Nó sẽ bám rễ trong một vài nước,
bị nghiền nát trong những nước khác hay phải đi đến những
thỏa hiệp đau đớn với giới Anciens Régimes [chính quyền cũ].
Nhưng có một cái đã biến đổi không thể đảo ngược lại
được nữa: nhận thức. Người Ả Rập đã trải nghiệm
được rằng họ có thể làm thay đổi diễn tiến của lịch
sử. Trong quá khứ, cá nhân bao giờ cũng phải phục tùng
người cai trị mình. Phê phán là đồng nghĩa với bất tuân
lệnh hay còn là báng bổ nữa và bị đàn áp không thương xót.
Với cuộc cách mạng, xã hội và mỗi một cá nhân lần đầu
tiên đã thắng được những kẻ cầm quyền trong các đòi hỏi
quan trọng về tự do và công bằng. Người là thần dân đã
tự giải phóng mình. Ông ấy trở thành người công dân. Thời
của những con người già cả đứng đầu các cỗ máy quyền
lực được điều khiển bởi mật vụ đã bắt đầu đổi
thay. "Allah, Muammar, Libya – chúng tôi không muốn nhiều
hơn!", những người theo Ghaddafi gọi to. "Với máu của chúng
tôi, với linh hồn của chúng tôi – chúng tôi hy sinh cho
Người, Saddam!" Hay là cho một lãnh tụ nào khác. Những câu
khẩu hiệu được đạo diễn từ trên xuống như thế ngày
càng ít phù hợp hơn với thời kỳ này.

<h2>Một sự thật không chứng minh được</h2>

Sự biến đổi từ một xã hội phong kiến sang một xã hội
công nghiệp dịch vụ hiện đại diễn ra rộng lớn chừng nào
thì những sự nhận diện tập thể mất đi nhiều chừng đó.
Hiện đại hóa lúc nào cũng có nghĩa là cá nhân hóa. Các mẫu
mực và truyền thống gia trưởng được nhìn với một con mắt
khác đi. Ảnh hưởng của tôn giáo giảm xuống. Nó đánh mất
lực tạo chuẩn mực của nó. Life–style thay thế ý thức hệ.
Chủ nghĩa khoái lạc không thể đi cùng với Dshihad. Ngay một
cái nhìn hời hợt đến lịch sử châu Âu cũng cho thấy rằng
cả ngôi nhà giảng dạy và bộ khung tín ngưỡng của Kitô giáo
lẫn thể chế nhà thờ cũng chưa từng bao giờ là những độ
lớn bất động. Chúng luôn luôn là một phần của những hoàn
cảnh xã hội và chính trị bao xung quanh nó, đã đặt dấu ấn
lên chúng và cũng bị chúng đặt dấu ấn lên mình giống như
thế.

Chính vì thế mà quan điểm thống trị trong Phương Tây, rằng
đạo Hồi đấu tranh cho một sự thật tuyệt đối, không dân
chủ và không có khả năng thích hợp với hiện đại, hơn thế
nữa, đàn áp và bạo lực, có tinh thần độc đoán và hướng
đến sự thống trị thế giới, hết sức là vô lý. Các hình
ảnh và định kiến ở đây [châu Âu/Đức] đặt sự tồn tại
của một Homo Islamicus ra làm tiên đề mà sự nhận dạng đồng
nhất của nó chỉ được quyết định bởi tín ngưỡng mà
thôi. Đạo Hồi như là giáo điều vĩnh cữu, bất biến từ
ngọn lửa và thanh kiếm. Kinh Koran theo đó không gì nhiều hơn
là một tập hợp của những bài viết ca ngợi bạo lực, không
thể hòa hợp với Hiến Pháp và những giá trị của Phương
Tây được. Nhà mỵ dân cánh hữu người Hà Lan Geert Wilders, và
không chỉ ông ấy, cứ đơn giản đặt kinh Koran ngang hàng với
"Mein Kampf" của Hitler. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Hans–Peter
Friedrich thuộc đảng CSU suýt tí nữa thì đã làm nổ tung Hội
nghị Hồi giáo ở Đức, vì trong đề tài đạo Hồi và hòa
nhập, ông ấy không biết nói gì hơn là về "cộng tác an
ninh" và phòng chống khủng bố. Chưa được một ngày trong
chức vụ mới, ông ấy đã cúi mình thật thấp trước những
người đi theo các luận đề thô thiển của Thilo Sarrazin:
"Nhưng việc đạo Hồi thuộc về nước Đức là một sự
việc không thể chứng minh được ở bất cứ nơi nào từ trong
lịch sử."

Lời nói đấy thay đổi hướng ở giữa câu. Lúc đầu, nó
thuộc vào trong đó, đạo Hồi, như sau đó thì nó lại bị
bình luận đuổi ra ngoài theo cửa sau của lịch sử. Friedrich
thuộc trong cộng đồng tín ngưỡng đầy quyền lực đó, cái
tin chắc vào sự tồn tại của một "Phương Tây Kitô giáo",
hay "Phương Tây Kitô–Do Thái giáo". Một Phương Tây tự
hiểu mình chính là sự phân định giới hạn với những vực
sâu của Hồi giáo, với sự cuồng tín, phi lý và cổ hủ.
Lịch sử của Phương Tây từ cách nhìn này rõ ràng là một
dãy liên tục của những hành động nhân đạo cao cả mà trong
đó con người, hòa hợp như anh em với nhau, bước nhanh từ
lần khai sáng này đền lần khai sáng khác, đưa ra hết hiến
pháp này đến hiến pháp khác, luôn luôn có các đức cha Công
giáo, nhà thờ tháp tùng, những người không còn có thể chờ
đợi được phép có phần trong lần ban phúc của cuộc Cải
cách Kháng cách và Cách mạng Pháp được nữa.

Tòa án dị giáo? Chính tranh tín ngưỡng? Tiêu diệt thổ dân
Mỹ? Chủ nghĩa Thuộc địa? Auschwitz?

Ít ra thì ngày nay người ta chủ yếu là nói về "Kitô–Do
thái giáo" hay "Phương Tây Kitô–Do Thái giáo", một ám
chỉ đến lịch sử Đức mới đây. Trong ngữ cảnh của những
cuộc thảo luận Phương Tây, có thể chứng minh được tính
từ "Do Thái" từ những năm 1960. Trước đó, những ẩn dụ
đầy huyền thoại được dành riêng cho Kitô giáo, loại trừ Do
Thái giáo và đạo Hồi. Mặc dù đạo Hồi có lẽ đã góp
phần cơ bản nhất vào trong lịch sử văn hóa và tri thức của
châu Âu: trong tác động qua lại với Vương quốc Byzantine,
người Hồi giáo đồng thời vẫn giữ cho Thời Cổ đại Hy
Lạp tiếp tục sống động. Thông qua con đường vòng của
những học giả Hồi giáo, nhờ vào những bản dịch từ tiếng
Hy lạp sang tiếng Ả Rập và rồi cuối cùng sang tiếng La tinh
mà kiến thức đã mất đi của người Hy Lạp lại tìm được
con đường đi vào nền văn hóa Phương Tây – và góp phần xây
dựng thế giới hiện đại. Khái niệm "Phương Tây" không
thể được giới hạn một cách rõ ràng cả về mặt lịch sử
lẫn địa lý lẫn nội dung. Ai tuy vậy vẫn sử dụng nó thì
thật ra phải nói một cách đúng đắn về một "Phương Tây
Độc Thần giáo" hay một "Phương Tây Do Thái giáo– Hồi
giáo – Kitô giáo" (theo thứ tự chữ cái). Tất cả ba tôn
giáo đó, cùng nhau và chống lại nhau, đã đặt dấu ấn lên
châu Âu, tốt cũng như xấu.

<h2>Huynh đệ Hồi giáo trên con đường trở về nguồn</h2>

Niềm tin cơ bản của sự sợ hãi đạo Hồi, Hồi giáo thật ra
là nguyên nhân của mọi vấn đề, từ hòa hợp cho tới khủng
bố, vẫn tiếp tục tồn tại trong đánh giá về cuộc Cách
mạng Ả Rập. Sẽ như thế nào, nếu nó kết cuộc rồi sẽ
giúp cho những người theo đạo Hồi cực đoan nắm lấy quyền
lực? Nhưng ngay cả khi các Huynh Đệ Hồi giáo ở Ai Cập hay
những người anh em của họ ở Tunesia, Đảng Nahda, trở thành
lực lượng mạnh nhất qua các cuộc bầu cử tự do, họ cũng
sẽ không thành lập một nhà nước thần quyền. Họ thiếu
nền tảng xã hội để làm việc đó. Dưới những điều kiện
dân chủ, các đảng Hồi giáo có hai sự lựa chọn. Hoặc là
họ ôn hòa và rồi có sức thu hút cho đông đảo những người
đi bầu, tương tự như Đảng AK–Partisi của chính phủ Thổ
Nhĩ Kỳ, hoặc là họ tu dưỡng một ý thức hệ cực đoan và
trở thành một giáo phái.

Chúng ta hãy nhìn sự phát triển này ở ví dụ của các Huynh
Đệ Hồi giáo. Đầu tiên là phải phân biệt giữa các Huynh
Đệ Hồi giáo trước và sau cuộc Cách mạng. Trước Cách
mạng, họ là một phong trào đánh thức đức tin quốc gia, sẵn
sàng dùng bạo lực trong những thập niên đầu tiên sau khi
thành hình. Trong diễn tiến lịch sử của mình, họ đã tự
cải mới nhiều lần và qua đó đã trở thành một đảng thích
hợp với hệ thống. Dưới thời Nasser, các Huynh Đệ Hồi giáo
thành lập năm 1928 bị cấm hoạt động, Sadat cho phép họ tổ
chức mới, nhưng không như là một đảng phái. Ông ấy xem họ
như là một nhóm trợ giúp, để đẩy lùi những người của
phe cánh tả và những người theo Nasser ra khỏi các trường
đại học và công đoàn. Nhờ vào gian lận bầu cử, Mubarak lo
liệu sao cho các Huynh Đệ Hồi giáo, xuất hiện như một phái
độc lập, luân phiên bị gạt ra khỏi Quốc Hội hay được
phép có một con số đại biểu có giới hạn. Bệnh tâm thần
phân liệt của các Huynh Đệ Hồi giáo luôn luôn là việc họ
có được một hậu thuẫn lớn ở các trường đại học và
trong các hội nghề nghiệp, trong số người dân ở nông thôn
và người nghèo, nhưng chính thức thì lại không hề tồn tại
– mặc dù họ là nhóm đối lập mạnh nhất. Ngay từ dưới
thời của Sadat, họ đã từ bỏ ý tưởng của một trật tự
Hồi giáo, một "nhà nước thần quyền". Đấy là tiền đề
để họ được khoan dung.

Khái niệm "nhà nước thần quyền" được chúng ta hay sử
dụng xuất phát từ Khomeini và là một điều mới trong thần
học Hồi giáo cũng như trong lịch sử. Ở Phương Tây, nó
thường được xem một cách sai lầm là cái tinh túy của Chủ
nghĩ Hồi giáo và Đạo Hồi. Thay vì vậy, các lý thuyết gia
Hồi giáo và học giả chính thống giáo nói về một "trật
tự Hồi giáo". Các suy nghĩ của họ xoay quanh câu hỏi, cái
cũng đã được những con người đơn giàn từ thời Mohammed
quan tâm đến: Làm sao vượt qua được vực sâu to lớn giữa
lý tưởng tôn giáo và những yêu cầu của cuộc sống, những
cái tầm thường của cuộc sống hàng ngày? Khoảng cách giữa
sự toàn năng của Thượng Đế và sự yếu đuối, kém cỏi,
cám dỗ của con người?

Chỉ cho các tín đồ "con đường về nguồn", Luật Hồi
giáo "Sharia" phục vụ cho điều đó – bên cạnh "Jihad"
là khái niệm thách thức lớn nhất của Hồi giáo trong sự
cảm nhận của Phương Tây. Sharia không chỉ đưa ra những quy
định cho các vấn đề luật pháp cụ thể, như luật hôn nhân,
luật gia đình và luật thừa kế, mà, giống như trên bình
diện mẫu mực lý tưởng, cả các cư xử của con người trong
quan hệ với Thượng Đế và với những người khác bên cạnh
mình. Vì thế là Luật Hồi giáo cũng có cả những quy định
thờ cúng, tiêu chuẩn đạo đức, quy định cho vệ sinh, cho
những câu hỏi về danh hiệu xã hội và những thứ giống như
thế. Sharia theo đuổi dự án không tưởng của một trật tự
xã hội và chính trị công bằng, cái cần phải được thực
hiện nhờ vào sự giúp đỡ của những quy tắc tiêu chuẩn
luật lệ tương ứng. Ngược với sự tưởng tượng ở Phương
Tây, Sharia không phải là một giáo điều vĩnh cửu bất biến,
mà cho phép nhiều diễn giải. Những hình thức trừng phạt tàn
bạo như chặt chân tay hay ném đá những người phụ nữ ngoại
tình (cũng được thực hành trong Kitô giáo qua nhiều thế kỷ)
xuất phát từ thời đầu của Hồi giáo: người du cư không
biết đến nhà tù. Ngày nay chúng vẫn còn – hiếm – được
tuyên xử trong Ả Rập Saudi, Iran, Afghanistan và Somalia, việc do
Hồi giáo thì ít mà nhiều hơn là từ các hoàn cảnh chính trị
đang thống trị ở đó. Đại đa số các luật gia Hồi giáo
từ chối việc áp dụng những hình phạt như thế. Họ lý
luận: chỉ khi thế giới toàn hảo được tạo thành, Thiên
Đàng trên trần thế, thì những hình phạt thân thể nặng nề
như thế mới được phép. Tức là không bao giờ, nói một cách
khác đi.

<h2>Làm việc tốt như thế nào?</h2>

Sự căng thẳng giữa Sharia lý tưởng và hiện thực có thể
trải nghiệm qua là một trong những vấn đề chính của lịch
sử Hồi giáo. Tổng cộng có bốn trường phái luật pháp đã
thành hình dưới những người Sunni, những cái có sự tưởng
tượng riêng của họ về "con đường" về nguồn đúng
đắn. Hệ thống các quy định phức tạp của Sharia có thể
được dẫn về những ý tưởng đơn giản cũng như đáng kính
trọng: làm việc tốt và tránh việc xấu. Để chắc chắn,
rằng con người bao giờ cũng có thể mắc sai phạm không phạm
tội với Thượng Đế, các trường phái luật đã tạo ra
những bộ quy định phức tạp. Các học giả về luật, Ulama,
thường ủng hộ quan điểm rằng Hồi giáo là tôn giáo và nhà
nước, din wa dawla. Ý ở đây không phải nhà nước thần quyền
của Khomeni, mà là một trật tự chính trị công bằng trên cơ
sở Sharia với một nhà cai trị tôn sùng Thượng Đế đứng
đầu. Điều đấy nghe có vẻ tốt, thành hình từ đó trong
thực tế không có gì nhiều hơn là vương quốc của ông vua
Hồi – một nơi chốn cho các âm mưu bè đảng.

Một chỗ yếu lớn của Sharia, của Chính thống giáo Sunni, nằm
trong tính sẵn sàng phục tùng ý muốn và sự chuyên quyền của
người cầm quyền, và tuân theo những yêu cầu của người
đó. Giáo sĩ phủ nhận người cai trị là hiếm có trong lịch
sử Hồi giáo. Thật ra thì họ cũng có thể chống lại những
nhà cai trị bất công hay độc tài, vì vua Hồi có nhiệm vụ
phải hành xử theo các nguyên tắc của luật sunna, cung cách
sống thực tiễn của nhà tiên tri, và theo Sharia. Vua Hồi trong
bất cứ lúc nào cũng không phải là một người có thẩm
quyền xét xử, mà chỉ là một người phục vụ cho luật
Thượng Đế được các Ulama quản lý. Nhưng thay vì vậy,
những người này lại thường hay để cho quyền lực mua chuộc
và để cho hối lộ bằng những đặc quyền hay ít nhất thì
cũng chấp nhận những hoàn cảnh đang tồn tại. Như Đại giáo
sĩ Hồi giáo Ali Gomaa, học giả luật có cấp bậc cao nhất Ai
Cập, đã cực lực lên án cuộc Cách mạng khi nó mới bắt
đầu. Điều đấy không có gì đáng để ngạc nhiên, vì ông
ấy có được chức vụ của ông ấy là nhờ vào Mubarak. Trên
trang mạng của mình, ông ấy bào chữa cho viêc tại sao mình
lại đứng vào bên sai lầm của lịch sử: "Đó là một thời
gian của sự lộn xộn trần trụi, tương lai xuất hiện một
cách đen tối, con số nạn nhân không có kết thúc. Imam Ali (anh
em họ và là con rễ của nhà tiên tri, người theo đạo đầu
tiên) cũng sẽ không bao giờ tán thưởng việc đó. Thuộc vào
trong các nguyên tắc cơ bản của đạo Hồi là kính trọng sự
thiêng liêng của cuộc sống con người. Người ta nói rằng
Mohammed đã từng nói rằng: 'Đối với Thượng Đế, máu của
một người Hồi giáo còn thiêng liên hơn cả Kaaba.'" (Kaaba
là vật thiêng liêng nhất của đạo Hồi: một ngôi nhà bằng
gạch là trung tâm điểm của ngồi nhà thờ Hồi giáo to lớn
ở Mecca.)

Rằng không phải người biểu tình bắn vào những người theo
Mubarak mà là ngược lại, chính quyền dựa trên bạo lực,
việc đó thì rõ ràng là ông ấy đã tránh né. Cả nhà truyền
giáo truyền hình nổi tiếng nhất bên cạnh Amr Khaled, Yussuf
al–Qaradawi, đứng gần những người Salafi, những người Hồi
giáo cực kỳ bảo thủ, cũng liên tục lên án cuộc Cách mạng,
hoàn toàn theo ý của những người thầy Saudi của mình và ca
ngợi "yên ổn và trật tự" như là những gì cao cả nhất.

Sự phục tùng những người cầm quyền của Chính thống giáo
và chủ nghĩa bảo thủ qua nhiều thế kỷ đã biến Sharia trở
thành một công cụ của sự trật tự hóa, cái đặt nghi vấn
và trừng phạt những gì khác với mẫu mực đang có hiệu
lực, dù đó là cung cách sống cá nhân hay những câu hỏi với
cái nhìn đến tình hình chính trị đang tồn tại. Sự khát khao
không tưởng đến Thiên Đàng, sự hợp nhất giữa Thượng
Đế và con người, cô đọng lại ngày một nhiều hơn trong
diễn tiến của lịch sử thành ý thức hệ. Ngay cả khi không
có một Sharia chính thức, nó là tổng số của những diễn
giải nó thì đúng hơn, thì đã từ lâu nó cũng không còn có
thể trở thành một động cơ cho sự phát triển của xã hội
nữa.

Trong vòng 100 năm vừa qua, trong phần lớn các quốc gia Ả Rập
và Hồi giáo, ngoại trừ Luật Hôn nhân, Gia đình và Thừa kế,
Sharia đã bị đẩy lùi bởi Luật Dân sự (Qanun) có định
hướng phi tôn giáo. Trong đó người ta có định hướng mạnh
đến châu Âu. Đặc biệt các quy định pháp luật từ Pháp và
Thụy Sĩ được tiếp nhận nhiều trong các bộ luật Ả Rập.
Ranh giới giữa Sharia và Qanun chính xác là ở đâu, về việc
này thì người ta tranh cãi một phần thật gay gắt. Nói chung:
các nhà thần học Chính thống giáo hay đạo Hồi chính trị
bảo thủ càng nhiều và có ảnh hưởng càng nhiều thì họ
càng cố mở rộng ảnh hưởng của Sharia ra xã hội. Nơi mà
Sharia được diễn giải theo truyền thống thì nó không thể
hòa hợp với những mẫu mực của một nhà nước pháp quyền,
với dân chủ, tự do ngôn luận và nhân quyền được. Điều
hợp lý nhất là nên dọn dẹp Sharia một cách có hệ thống và
làm cho nó thích hợp với những yêu cầu của thời hiện
đại, nhất là phải củng cố cho các khoảng không gian tự do
của cá nhân đối với nhà nước và xã hội. Ngoại từ Thổ
Nhĩ Kỳ, nơi Sharia bị bãi bỏ năm 1926, và Maroc, nơi nó trên
thực tế là không còn có hiệu lực nữa từ năm 2004, vẫn còn
chưa có đất nước Hồi giáo nào đi theo con đường này –
từ nỗi lo sợ phải đối đầu với những lực lượng cực
bảo thủ. Có thể bạo gan mà đưa ra tiên đoán, rằng trong
diễn tiến của cuộc Cách mạng Ả Rập, cả Sharia cũng sẽ
bị xét lại.

<h2>Vẫn còn trên đường đi: Huynh Đệ Hồi giáo khám phá thế
giới</h2>

Những người theo Trào lưu Chín thống Hồi giáo, bắt đầu từ
Hassan al–Banna, đi theo một hình ảnh đơn giản. Họ tin rằng
người Hồi giáo không còn dẫn đầu trên thế giới, vì họ
đã đi sai lạc "con đường về nguồn". Một con đường mà
theo quan điểm của họ trước hết bao gồm việc giữ đúng
các nhiệm vụ và những lời khuyên răn tôn giáo. Một khi sự
tẩy uế về đạo đức của cá nhân cũng như của xã hội
được thực hiện thì Thượng Đế sẽ tha tội cho người Hồi
giáo và đưa trở lại cho họ tầm vóc to lớn và tính quan
trọng. Theo đó, như al–Banna, cần phải thành lập một
"trật tự Hồi giáo" trên nền tảng của Sharia.

Nhưng điều đó cụ thể là gì? Điều đáng ngạc nhiên là các
tác phẩm thời đầu của Huynh Đệ Hồi giáo không đưa ra
thông tin gì cho việc này. Al–Banna và người kế nghiệp ông
ấy Qutb rõ ràng là khó có thể xác định được bản chất
của một trật tự Hồi giáo trong thế kỷ 20 trên nền tảng
của những quy định luật lệ từ thế kỷ thứ bảy. Việc
tập trung tiêu điểm vào "thời kỳ vàng son trước đây"
của đạo Hồi là một hiện tượng không chỉ giới hạn ở
những người Hồi giáo. Phần lớn những nhà thần học chính
thống giáo đều có tinh thần hương về quá khứ. Quẳng những
gánh nặng lịch sử đi hay diễn giải các tác phẩm thần thánh
theo thời gian là việc họ không muốn làm.

Như đã nói, trong thời gian trước cuộc Cách mạng, các Huynh
Đệ Hồi giáo đã thỏa hiệp với những người cầm quyền.
Sadat và Mubarak sử dụng họ về mặt đối nội như một công
cụ chính trị, về mặt đối ngoại như một hậu cảnh để
đe dọa, đặc biệt là Mubarak: tôi hay là người Hồi giáo. Các
Huynh Đệ Hồi giáo bước vào cuộc chơi đấy vì nói chung,
người Hồi giáo thích nhất là đóng vai trò đối lập. Phải
gánh vác trách nhiệm, họ nhanh chóng đánh mất uy tín của họ.
Vực sâu giữa lòng tin mê đắm vào Sharia và "thời kỳ vàng
son trước đây" của họ về một mặt và những tầm thường
của chính trị hiện thực ở mặt kia là quá lớn. Điều đấy
cũng đúng cho cả các Huynh Đệ Hồi giáo lâu nay từ chối
không đưa ra các mục tiêu của họ một cách rõ ràng. Họ bắt
đầu như những nhà cách mạng xã hội và tuyên truyền chống
thực dân, tự cải mới mình sau các xung đột đẫm máu với
quyền lực nhà nước dưới thời Nasser và cuối cùng biến
đổi mình trở thành một hội huynh đệ gia trưởng. Được
bổ sung bởi một mạng lưới dịch vụ xã hội khắp nước,
cái có tầm quan trọng sống còn đối với người nghèo. Cuối
cùng, các Huynh Đệ Hồi giáo đã không biết rõ qua nhiều thập
niên liền, rằng họ muốn là một phong trào tôn giáo hay là
một phong trào chính trị. Song song với việc đó, giới lãnh
tụ đã già đi, giới mà giữa cuộc Chiến tranh Sáu ngày 1967
và con cừu Dolly được nhân bản năm 2003 hầu như không có
được một thay đổi nhân sự nào cả.

Sau 2000 đã xảy ra xung đột rõ rệt trong giới Huynh Đệ giữa
trẻ và già, giữa những nhà tư tưởng hệ và những người
thực dụng. Người giữa chức vụ "lãnh tụ tối cao" từ
2004 đến 2010, Mohammed Akif, đã mở rộng phong trào nhiều hơn
nữa cho các lực lượng trẻ và ôn hòa, và mở đường cho họ
đi đến các chức vụ lãnh đạo. Năm 2004, nhà tư tưởng quan
trọng nhất của phe cải cách và là phát ngôn viên của hội
Huynh Đệ, Issam al–Irjani, đã công bố quyển sách "Phong trào
Hồi giáo và thời quá độ dân chủ". Trong đó, ông ấy phác
thảo những nét cơ bản của một hình thức chính phủ Hồi
giáo hiện đại theo những nguyên tắc sau đây: quyền tự do cá
nhân không giới hạn, đa nguyên chính trị trên cơ sở Sharia,
cái phải được diễn giải để cho cả người Copt Kitô giáo
cũng có thể chấp nhận được, và sự bình đẳng trước pháp
luật cũng như về chính trị giữa nam và nữ,

Tuy ông cũng viết rằng "sinh con và dạy dỗ chúng là nhiệm
vụ chính của phụ nữ" (điều mà rất nhiều nếu như không
phải hầu hết những người bảo thủ ở châu Âu sẽ đồng
tình), nhưng bây giờ ngày càng có nhiều "chị em Hồi giáo"
gia nhập hội Huynh Đệ. Al–Irjani tự thừa nhận một cách phê
phán, rằng con đường cho tới nay, thỏa hiệp hầu như bằng
mọi giá với những người cầm quyền, đã dẫn đến một ngõ
cụt. Các đánh giá của ông ấy đúng cho tới đâu, điều
đấy đã được thể hiện ngay trong năm 2005, khi Mubarak loại
trừ Huynh Đệ Hồi giáo ra khỏi những cuộc bầu cử vào quốc
hội. Phe cải cách, phần nhiều đèu trẻ tuổi và không sợ va
chạm, tìm cách tiếp xúc với những nhóm đối lập phi tôn
giáo khác như "Kifaya" hay "Ghad". Cánh này, mà những đại
diện nổi tiếng nhất là Mohammed Akif, Issam al–Irjani và Abdel
Moneim Abdel, một thành viên lâu năm trong hội đồng lãnh đạo,
hướng đến một sự "cải tổ" Huynh Đệ Hồi giáo theo
gương mẫu của Đảng Thổ Nhĩ Kỳ AK–Partisi. Đối thủ của
họ, Bộ Chính trị mà tụ họp trong đó phần lớn là những
người già, ủng hộ đường lối "cứ tiếp tục như thế".
Người phát ngôn của họ trước hết là Mahammed al–Badija,
người mà năm 2010 đã thay thế Akif trở thành "Lãnh tụ Tối
cao".

Mãi đến ngày 28 tháng 1, tức là ba ngày sau khi bắt đầu,
Al–Badija mới phát biểu về cuộc nổi dậy trong chính đất
nước của mình và yêu cầu Mubarak hãy tiến hành những cải
cách cơ bản và chấm dứt bạo lực. Điều đấy là quá ít và
quá muộn, nhóm lãnh đạo cũ tự biểu lộ rằng họ không có
khả năng phản ứng lại sự việc gây chấn động lịch sử
đấy với những gì khác hơn là các khuôn mẫu thông thường.
Dưới sự phản đối kịch liệt của những người cải cách,
cánh bảo thủ tuyên bố sẵn sàng thương lượng với Mubarak
thay vì cũng yêu cầu ông ấy từ chức.

Từ hơn mười năm nay, những thay đổi lớn trong xã hội Ai
cập bao giờ cũng được phản ánh trong giới Huynh Đệ Hồi
giáo. Khả năng, rằng sau cuộc Cách mạng họ sẽ tan rã ra
thành nhiều đảng phái hay nhóm, là lớn. Giới già hẳn sẽ
không có một tương lai chính trị. Những người cải cách, ngay
khi họ cũng không phải là một phong trào đồng nhất, cũng như
giới đối lập phi tôn giáo, yêu cầu tự do hóa nền kinh tế
và một nền kinh tế thị trường rời bỏ kinh tế bổng lộc
và kinh tế bảo trợ móc ngoặc được nhà nước hỗ trợ, như
chúng được giới quân đội và tầng lớp thượng lưu truyền
thống tiến hành.

Khác với những người đứng đầu già cả, các nhà cải cách
hồi giáo ngay từ đầu đã tham gia trên Quảng trường Tahrir.
Qua đó, tình bạn và liên minh mới đã thành hình. Trong đám
đông người đó người ta không hỏi: bạn là ai, bạn có tín
ngưỡng hay thuộc đảng phái nào? Tất cả họ đều là người
Ai Cập ba tuần liền, đã cùng nhau biểu tình, giúp đỡ lẫn
nhau. Những người phụ nữ Hồi giáo đã ngủ qua đêm ngay
giữa hàng ngàn người – trước cuộc Cách mạng thì không
thể tưởng tượng được. Những trải nghiệm như thế để
lại dấu vết, chúng làm thay đổi con người và cách suy nghĩ
của họ. Người cải cách tiếp tục đến gần giới đối
lập phi tôn giáo và ngược lại. Các tổ chức nhân quyền khác
nhau, thường không quan tâm đến số phận của các huynh đệ
Hồi giáo bị bắt giam, vì nghi ngại ý thức hệ của họ, cũng
đã yêu cầu trả tự do cho họ ngay nhiều tháng trước cuộc
Cách mạng rồi.

Huynh đệ Hồi giáo mạnh cho tới đâu, điều này sẽ được
thể hiện qua các cuộc bầu cử Quốc Hội. Tại những cuộc
bầu cử các ủy ban sinh viên trong tháng 3 năm 2011, những cuộc
bầu cử tự do đầu tiên trong Ai Cập nói chung, họ nhận
được 18 phần trăm.

Huynh Đệ Hồi giáo không phải là những nhà hoạt động chính
trị duy nhất trong môi trường Hồi giáo. Bên cạnh họ, những
người Salafi và Sufi, những nhà tôn giáo huyền bí, cũng đóng
một vai trò. Người Salafi đứng gần Thuyết Wahhab và được
tài trợ chủ yếu từ Ả Rập Saudi. Dưới thời Mubarak, 90000
nhà thờ Hồi giáo Ai Cập có đăng ký chính thức đứng dưới
sự giám sát của nhà nước. Người Salafi cố gắng sử dụng
khoảng chân không thành hình khi nhà nước sụp đổ cho những
người truyền đạo của họ. Với thành công có giới hạn,
nhưng tuy vậy họ vẫn nguy hiểm. Trong hàng ngũ của họ có
những nhà tuyên truyền cuồng tín, không hề e ngại sử dụng
bạo lực chống lại người Copt và Sufi. Sau nhiều cuộc tấn
công vào nhà thờ Hồi giáo của họ, phát ngôn viên của những
người Sufi, mà thật ra là phi chính trị và hòa bình, đe dọa
họ sẽ dùng vũ khí chống lại những người Salafi nếu như
cần thiết. Những người này bây giờ tự gọi mình là "Ansar
as–Sunna", có nghĩa như "những người theo học thuyết
thật".

Michael Lüders
Nhà xuất bản C. H. Beck
Phan Ba dịch

***********************************

Entry này được tự động gửi lên từ trang Dân Luận
(https://danluan.org/tin-tuc/20130424/michael-luders-nhung-ngay-thinh-no-chuong-10),
một số đường liên kết và hình ảnh có thể sai lệch. Mời
độc giả ghé thăm Dân Luận để xem bài viết hoàn chỉnh. Dân
Luận có thể bị chặn tường lửa ở Việt Nam, xin đọc
hướng dẫn cách vượt tường lửa tại đây
(http://kom.aau.dk/~hcn/vuot_tuong_lua.htm) hoặc ở đây
(http://docs.google.com/fileview?id=0B_SKdt9lFNAxZGJhYThiZDEtNGI4NC00Njk3LTllN2EtNGI4MGZhYmRkYjIx&hl=en)
hoặc ở đây (http://danluan.org/node/244).

Dân Luận có các blog dự phòng trên WordPress
(http://danluan.wordpress.com) và Blogspot (http://danluanvn.blogspot.com),
mời độc giả truy cập trong trường hợp trang Danluan.org gặp
trục trặc... Xin liên lạc với banbientap(a-còng)danluan.org để
gửi bài viết cho Dân Luận!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét